Tài liệu Pdfhiên nhiên và con người tây bắc trong tác phẩm những ngọn gió hua tát của nguyễn

  • Số trang: 59 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 171 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8490 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC LÊ THỊ DUNG THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƢỜI TÂY BẮC TRONG TÁC PHẨM NHỮNG NGỌN GIÓ HUA TÁT CỦA NGUYỄN HUY THIỆP KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC LÊ THỊ DUNG THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƢỜI TÂY BẮC TRONG TÁC PHẨM NHỮNG NGỌN GIÓ HUA TÁT CỦA NGUYỄN HUY THIỆP Chuyên ngành: Lý luận Văn học KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngƣời hƣớng dẫn: ThS. Phạm Thị Phƣơng Huyền Sơn La, năm 2014 LỜI CẢM ƠN Khoá luận này đƣợc thực hiện dƣới sự hƣớng dẫn của cô giáo, ThS. PHẠM THỊ PHƢƠNG HUYỀN. Nhân dịp khoá luận đƣợc hoàn thành em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô, ngƣời đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt thời gian qua. Em xin gửi lời cảm ơn tới tổ Lí luận - Văn học Nƣớc ngoài, tập thể các thầy cô giáo khoa Ngữ Văn, phòng Nghiên cứu khoa học, thƣ viện và phòng Đào tạo trƣờng Đại học Tây Bắc, cùng cô giáo chủ nhiệm và tập thể lớp K51 ĐHSP VĂN - GDCD đã tạo điều kiện giúp em hoàn thiện khoá luận này. Khoá luận này còn nhiều hạn chế do khả năng của ngƣời thực hiện, cũng nhƣ điều kiện tài liệu nghiên cứu còn thiếu thốn. Rất mong đƣợc sự góp ý chân thành từ phía thầy cô và các bạn. Em xin chân thành cảm ơn! Sơn La, tháng 5 năm 2014 Ngƣời thực hiện Lê Thị Dung MỤC LỤC MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 1 2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................. 2 3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................ 5 3.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................ 5 3.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 5 3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 5 4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 5 5. Đóng góp của khoá luận .................................................................................. 6 6. Cấu trúc của khoá luận..................................................................................... 6 NỘI DUNG........................................................................................................ 7 CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ........................................................ 7 1.1. Khát quát về tác phẩm văn học ...................................................................... 7 1.1.1. Khái niệm tác phẩm văn học ................................................................... 7 1.1.2. Những phương diện nội dung cơ bản của tác phẩm văn học ..................... 8 1.1.2.1. Đề tài ............................................................................................... 8 1.1.2.2. Chủ đề ............................................................................................. 9 1.1.2.3. Tư tưởng .......................................................................................... 9 1.1.3. Những phương diện hình thức của tác phẩm văn học ............................. 10 1.1.3.1. Nhân vật văn học ............................................................................ 10 1.1.3.2. Kết cấu........................................................................................... 11 1.1.3.3. Lời văn .......................................................................................... 12 1.1.4. Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức tác phẩm văn học .................... 12 1.2. Nguyễn Huy Thiệp và tác phẩm Những ngọn gió Hua Tát .......................... 13 1.2.1. Nguyễn Huy Thiệp – Nguồn riêng giữa dòng chung .............................. 13 1.2.1.1. Tiểu sử, cuộc đời ............................................................................ 13 1.2.1.2. Sự nghiệp sáng tác .......................................................................... 14 1.2.2. Tác phẩm Những ngọn gió Hua Tát....................................................... 17 Tiểu kết............................................................................................................. 19 CHƢƠNG 2. THIÊN NHIÊN TÂY BẮC TRONG TÁC PHẨM NHỮNG NGỌN GIÓ HUA TÁT CỦA NGUYỄN HUY THIỆP ................................... 21 2.1. Đặc điểm của thiên nhiên ............................................................................ 21 2.1.1. Thiên nhiên dữ dằn, khắc nghiệt ............................................................ 21 2.1.2. Thiên nhiên mang vẻ đẹp trữ tình .......................................................... 23 2.1.3. Thiên nhiên gắn liền với đời sống sinh hoạt của con người ..................... 24 2.2. Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên .................................................................... 27 2.2.1. Miêu tả thiên nhiên qua hệ thống chi tiết phong phú: màu sắc, hình ảnh, âm thanh........................................................................................................ 27 2.2.2. Miêu tả thiên nhiên qua tâm trạng nhân vật............................................ 29 Tiểu kết............................................................................................................. 31 CHƢƠNG 3. CON NGƢỜI TÂY BẮC TRONG TÁC PHẨM NHỮNG NGỌN GIÓ HUA TÁT CỦA NGUYỄN HUY THIỆP .................................... 33 3.1. Đặc điểm của con người Tây Bắc ................................................................ 33 3.1.1. Con người Tây Bắc đẹp về hình dáng, diện mạo .................................... 33 3.1.2. Con người Tây Bắc đẹp về tâm hồn, tính cách ....................................... 34 3.2. Nghệ thuật miêu tả nhân vật ........................................................................ 37 3.2.1. Miêu tả nhân vật bằng hệ thống chi tiết phong phú................................. 38 3.2.1.1. Miêu tả ngoại hình nhân vật ............................................................ 38 3.2.1.2. Miêu tả nhân vật qua hành động, việc làm ....................................... 40 3.2.2. Miêu tả nhân vật qua những mâu thuẫn, xung đột .................................. 43 3.2.2.1. Mâu thuẫn giữa con người với thiên nhiên ....................................... 43 3.2.2.2. Mâu thuẫn giữa khát vọng của con người với hoàn cảnh sống .......... 46 Tiểu kết............................................................................................................. 48 KẾT LUẬN ..................................................................................................... 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................. 53 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Thiên nhiên và con người Tây Bắc là cảm hứng sáng tác trong văn chương Việt Nam từ cổ tới kim. Nhớ tới Tây Bắc, người ta thường nhớ tới những hình ảnh quen thuộc như dòng sông Đà hung bạo và trữ tình, những dãy núi hói, núi trọc, núi đá vôi, không chỉ vậy nhắc tới Tây Bắc là người ta hay nhắc tới xứ sở của hoa Ban trắng thơ mộng và trữ tình đã đi vào thơ văn từ bao đời nay. Con người Tây Bắc hiện lên với nét thân thiện, mộc mạc bình dị, những con người hiền hậu gắn bó với thiên nhiên núi đồi giữa cuộc đời. Hình ảnh những cô gái Thái trong tà áo cóm duyên dáng làm say đắm biết bao chàng trai cũng là những hình ảnh quen thuộc đi vào thơ văn. 1.2. Nguyễn Huy Thiệp là một trong những gương mặt tiêu biểu của thể loại truyện ngắn Việt Nam hiện đại. Tuy xuất hiện muộn trên văn đàn nhưng Nguyễn Huy Thiệp đã gây được sự chú ý của bao bạn đọc bởi lối viết “tinh” và “lạ”, với đủ các thể loại truyện: thế sự, giả cổ tích, có kết, không kết... Các tác phẩm nổi tiếng của ông đã xuất bản: Những ngọn gió Hua Tát (1989 ); Tƣớng về hƣu (1989 ); Nhƣ những ngọn gió (1995); Tuyển tập Nguyễn Huy Thiệp (1996 ). Nguyễn Huy Thiệp viết nhiều: “mỗi tác phẩm là một sự kiện và giới văn học, cả giới công chúng đọc không ít lời bàn luận, bàn tán. Khen chê ầm ĩ mạnh mẽ và quyết liệt” [12, 6]. Khi nền văn học chúng ta như đang ngủ yên, thì Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện, ông “là ngƣời đầu tiên trong văn học Việt Nam lập kỉ lục có nhiều bài viết nhất về sáng tác của mình, chỉ trong thời gian ngắn, và không có độ lùi thời gian. Phê bình tức thời theo sáng tác, liên tục, lâu dài. Không chỉ trong nƣớc, cả ngoài nƣớc, không chỉ ngƣời Việt, cả ngƣời ngoại quốc” [12, 7]. Trong đó có tác phẩm Những ngọn gió Hua Tát đã góp phần tạo lên bức tranh sinh động về thiên nhiên và con người Tây Bắc. Đây cũng là tác phẩm đặt nền móng cho thể loại truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Vốn có thời gian gắn bó với mảnh đất này, Nguyễn Huy Thiệp từng sống và công tác nơi đây khoảng mười năm là điều kiện thuận lợi cho ông am hiểu về văn hoá nơi đây cũng như thiên nhiên và con người Tây Bắc. Vì vậy, những trang viết 1 của ông luôn gắn bó với vùng đất một thời để thương, để nhớ. Qua truyện ngắn, Những ngọn gió Hua Tát giúp chúng ta hiểu thêm về thiên nhiên và con người Tây Bắc để từ đó thêm yêu quê hương đất nước mình hơn. 1.3. Là một người học văn và yêu văn, lại yêu thiên nhiên và con người Tây Bắc nơi tôi gắn bó trong khoảng thời gian không phải dài cũng không ngắn, bốn năm tôi đã có niềm say mê về truyền thống văn hoá Tây Bắc. Tôi đã tìm đến những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, mong rằng những trang viết đó giúp tôi phần nào cảm nhận được truyền thống văn hoá - lịch sử của mảnh đất này. Đó cũng chính là lý do tôi chọn để nghiên cứu trong khóa luận của mình. Khóa luận sẽ đi sâu tìm hiểu: “Thiên nhiên và con ngƣời Tây Bắc trong tác phẩm những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp”. Tôi hi vọng rằng khoá luận của tôi sẽ giúp ích cho những ai quan tâm tới văn chương, đặc biệt nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. 2. Lịch sử vấn đề Đề tài thiên nhiên và con người Tây Bắc là nguồn cảm hứng sáng tạo bất tận trong kho tàng văn học Việt Nam. Đã có rất nhiều nhà văn gặt hái được thành công từ mảnh đất này như: Tô Hoài, Nguyễn Tuân… Tây Bắc đối với các nhà văn như quê hương thứ hai gắn bó máu thịt. Nguyễn Huy Thiệp cũng vậy, ông đã từng gắn bó và sinh sống ở đây khoảng mười năm (1970 – 1980). Tây Bắc đã trở thành kỉ niệm sâu sắc khó phai trong tâm tưởng ông. Đánh giá về truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, dù khen hay chê, tất thảy đều mạnh mẽ, quyết liệt và thậm trí trái ngược nhau như nước với lửa. Thời gian trôi qua, những dòng cảm xúc nóng bỏng về những gì ông viết ở người đọc chuyển dần sang sự nghiên cứu kĩ lưỡng. Nhiều người bắt đầu đi sâu tìm hiểu, phân tích, đánh giá tài năng văn chương của ông một cách khách quan hơn qua những trang viết thận trọng. Nguyễn Huy Thiệp là một tài năng độc đáo. Nói như nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn trong bài “Tượng tưởng về Nguyễn Huy Thiệp” (Văn nghệ số 3536 ra ngày 20/8/1988): “Nếu có một thứ “quả bóng vàng” hay “cây bút vàng” dành tặng cho cây bút xuất sắc hàng năm, thì trong năm vừa qua và cả đầu năm nay nữa - Ngƣời xứng đáng đƣợc giải trong văn xuôi nƣớc ta, có lẽ là Nguyễn Huy Thiệp‟‟ [10, 405]. 2 Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp ngay từ khi mới xuất hiện đã hấp dẫn công chúng và giới nghiên cứu phê bình. Năm 2001 trong lời tựa cuốn “Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp” (cuốn sách tập hợp khá nhiều bài viết về Nguyễn Huy Thiệp) Phạm Xuân Nguyên trong lời giới thiệu đã khẳng định:“Thật hiếm có trong văn chƣơng Việt Nam xƣa nay, tôi dám chắc chƣa có, một nhà văn nào vừa xuất hiện đã gây đƣợc dƣ luận càng mạnh, truyện chƣa ra thì ngƣời đã kháo nhau, truyện đăng rồi thì nhiều ngƣời tìm đọc, đọc rồi thì nhiều ngƣời bình phẩm, bàn tán, chốn phòng văn, cũng nhƣ chốn vỉa hè đâu đâu cũng kháo chuyện… văn đàn đồng thời đổi mới đã đổi sắc, bỗng khởi sắc hẳn, đã náo động, càng thêm náo động, bởi những cuộc tranh luận, cả tranh cãi, quanh sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp” [ 14, 5-6]. Nhà báo Mai Ngữ trong “Cái tâm và cái tài của ngƣời viết” (Báo Quân đội Nhân dân, số 9791 ngày 27/8/1988) cũng đã phát hiện tương tự: “Ngòi bút của anh Thiệp đƣa con ngƣời về điểm xuất phát của nó, con ngƣời hạ đẳng, con ngƣời nguyên thuỷ cùng với tiềm thức và bản ngã vốn có do trời sinh ra, những con ngƣời trần trụi, loã thể trong tƣ duy cũng nhƣ trong hình thái”. Trên đây là một số ý kiến xoay quanh sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp. Mặc dầu các bài viết có những phát hiện và lí giải riêng nhưng tựu trung lại, các ý kiến đó đều gặp nhau ở chỗ thừa nhận: Nguyễn Huy Thiệp là một tài năng văn chương lớn, đáng để chúng ta quan tâm. Tất cả những ý kiến trên có tính chất định hướng gợi mở, giúp chúng tôi có điều kiện để hiểu hơn về văn chương cũng như con người Nguyễn Huy Thiệp. Truyện ngắn Những ngọn gió Hua Tát cũng có một số bài nghiên cứu: Nhà nghiên cứu văn học Nga T.N.Philimonova trong bài Những ngọn gió Hua Tát nhƣ hình mẫu văn của Nguyễn Huy Thiệp học cho rằng: “Có thể những truyện cổ ấy nói nhiều đau khổ của con ngƣời, nhƣng hiểu rõ những đau khổ ấy con ngƣời trong ta nảy nở sự sáng suốt trong đạo đức, lòng cao thƣợng và tình ngƣời” [14, 62]. Vẻ đẹp con người hiện lên với vẻ đẹp giản dị cùng thiên nhiên nơi núi rừng. Nhưng bên cạnh cũng xuất hiện những mâu thuẫn xung đột giữa con người và thiên nhiên. 3 Hay trong Kỉ yếu hội thảo khoa học quốc gia “Ngôn ngữ và văn học vùng Tây Bắc” tác giả Phạm Thị Phương Huyền bàn đến Quan niệm nhân sinh trong tác phẩm Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp. Bài viết đưa ra hai quan niệm nhân sinh tiêu biểu là “Ở hiền gặp lành, Ác giả ác báo”. Tác giả đề cập đến vấn đề nhân vật, con người trong từng hoàn sống và sống ra sao thì sẽ nhận lại cuộc sống như vậy đó cũng chính là những quy luật trong cuộc sống. Cũng trong Hội thảo khoa học đó, bài viết của tác giả Vũ Minh Đức “Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp nhìn từ lí thuyết phê bình sinh thái” đã đề cập đến mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, vai trò của thiên nhiên đối với môi trường sống của con người. Trong rất nhiều mối quan hệ với thế giới, con người không thể nào tách ra khỏi thế giới tự nhiên. Thiên nhiên và con người có xung đột, hay mâu thuẫn thế nào thì con người và thiên nhiên sẽ giải quyết mâu thuẫn đó. Và rồi thiên nhiên lại là nền tảng cho con người phát triển. Trong hội thảo khoa học ấy, bài viết của tác giả Ngô Thị Phượng “Vẻ đẹp Tây Bắc trong văn chƣơng Nguyễn Huy Thiệp” cũng nói tới vấn đề thiên nhiên và con người. Tác giả đánh giá: “Văn Nguyễn Huy Thiệp có nhiều chi tiết đặc tả vẻ đẹp của thiên nhiên lãng mạn Tây Bắc… sƣơng mù đang còn dày đặc, ngƣời đi chợ nhƣ đi mơ, cách một sải tay chẳng nhìn thấy gì…” [4, 398]. Con người Tây Bắc đơn giản hoà mình vào thiên nhiên vô tận được Nguyễn Huy Thiệp chụp từ nhiều phương diện: văn hoá, ngoại hình, đời sống nội tâm,… Các công trình nghiên cứu khoa hoc này bước đầu lí giải khá sâu sắc về một số phương diện cụ thể trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp. Tuy nhiên, để hiểu đầy đủ về Nguyễn Huy Thiệp nhằm xác định được những đóng góp của ông cho nền văn học Việt Nam hiện đại, chúng ta cần có cách nhìn toàn diện, đa chiều hơn. Đây cũng là cơ sở khách quan chính xác, cần đi tìm hiểu một tác phẩm cụ thể, phần nào đó có thể hiểu thêm về nhà văn hiện đại này. Những bài nghiên cứu khoa học trên cũng là những gợi ý quý báu để giúp chúng tôi đi sâu tìm hiểu “Thiên nhiên và con ngƣời Tây Bắc trong tác phẩm những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp”. 4 3. Đối tƣợng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Đối tƣợng nghiên cứu Thiên nhiên và con người Tây Bắc trong tác phẩm Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp. 3.2. Phạm vi nghiên cứu - Nghiên cứu những đặc điểm của thiên nhiên và con người trong tác phẩm. - Nghiên cứu nghệ thuật miêu tả thiên nhiên và con người. - Nghiên cứu một số vấn đề lí luận có liên quan. - Văn bản chọn để nghiên cứu là truyện ngắn Những ngọn gió Hua Tát ủa tác giả Nguyễn Huy Thiệp được giới thiệu trong Tuyển tập Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, NXB Văn học. Hà Nội.( 2005) 3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu lí thuyết về tác phẩm văn học và đề tài thiên nhiên, con người Tây Bắc trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp. - Nghiên cứu về thiên nhiên và con người Tây Bắc trong tác phẩm Những ngọn gió Hua Tát. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong khi thực hiện khoá luận, chúng tôi sử dụng những phương pháp sau: - Phương pháp phân tích: Đây là phương pháp cơ bản được sử dụng chủ yếu và thường xuyên trong quá trình nghiên cứu nhằm phân tích tác phẩm để làm nổi bật được thiên nhiên và con người Tây Bắc qua tác phẩm. - Phương pháp khảo sát văn bản: Chúng tôi dựa vào việc khảo sát, thống kê, phân loại những chi tiết, cụ thể để phân tích, chứng minh cho những nhận định, đánh giá trong khoá luận. Thống kê, phân loại những chi tiết để làm sáng tỏ những đặc trưng về thiên nhiên và con người Tây Bắc và những nghệ thuật miêu tả hai hình tượng đó. - Phương pháp so sánh: So sánh với thiên nhiên và con người Tây Bắc trong sáng tác của Tô Hoài, Nguyễn Tuân để từ đó nổi bật được thiên nhiên và con người Tây Bắc trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp. 5 5. Đóng góp của khoá luận Khoá luận này chỉ ra một cách cụ thể những đặc điểm, chi tiết thiên nhiên và con người Tây Bắc cũng như nghệ thuật miêu tả hai hình tượng này, từ đó giúp bạn đọc hiểu thêm về tài năng và sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiêp. 6. Cấu trúc của khoá luận Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, thư mục, tài liệu tham khảo, nội dung chính của khoá luận được triển khai làm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề chung Chương 2: Thiên nhiên Tây Bắc trong tác phẩm Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp Chương 3: Con người Tây Bắc trong tác phẩm Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp 6 NỘI DUNG CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1. Khát quát về tác phẩm văn học 1.1.1. Khái niệm tác phẩm văn học Tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật bằng ngôn từ là kết quả tiến trình lao động nghệ thuật của cá nhân mỗi nhà văn. Tác phẩm văn học đi vào đời sống của con người có những tác phẩm lớn như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chiến tranh và hòa bình của Leptonxtôi. Nói đến tác phẩm văn học là vấn đề quen thuộc đi sâu vào lòng bạn đọc nói chung, giới nghiên cứu, phê bình nói riêng. Và rồi những tác phẩm có giá trị thường sống mãi cùng thời gian và đi cùng năm tháng, những tác phẩm ấy đều phản ánh thực tế cuộc sống hay nói cách khác là tác phẩm văn học đều bắt nguồn từ chính cuộc sống. Tác phẩm văn học từ xưa đến nay được quan niệm khá rộng rãi, trong cuốn lý luận văn học của Hà Minh Đức chủ biên từng quan niệm rằng: “Tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật ngôn từ là kết quả hoạt động sáng tác của mỗi nhà văn” [2, 115] . Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên: “Tác phẩm là sản phẩm của trí tuệ do nhà văn nghệ thuật, khoa học trực tiếp tạo ra dƣới một hình thức nhất định” [14, 1134] . Như vậy có thể thấy rằng, những cảm xúc, suy tư của nhà văn về con người, cuộc đời dù có mãnh liệt, sâu sắc đến đâu cũng trở nên vô nghĩa nếu không có tác phẩm trong lịch sử. Tác phẩm văn học tỏ ra ngày càng cũ về chữ nghĩa mới về nội dung, tác phẩm văn học cũng là yếu tố tạo nên văn học hay trào lưu văn học. Sự hưng thịnh của nền văn học, sự thăng trầm của trào lưu văn học đều gắn với sự hưng thịnh của trào lưu, hưng thịnh của tác phẩm. Tác phẩm văn học là con đẻ của nhà văn, nhưng khi ra đời tác phẩm văn học luôn tồn tại độc lập vượt khỏi dự tính ban đầu của nhà văn. Đến với bạn đọc tác phẩm văn học tiếp xúc theo những hướng khác nhau. Bạn đọc, các thế hệ độc giả luôn luôn đọc nó theo quan niệm của mình phát hiện những ý nghĩa mới mẻ. Những tác phẩm không mất bản sắc, nó vẫn là nó dù bạn đọc cắt nghĩa thế nào đi nữa. Tác phẩm của nhà văn 7 bất tử thì tên tuổi của họ cũng bất tử và ngược lại. Tác phẩm văn học bao giờ cũng có mối quan hệ với đời sống. Đời sống của nhà văn bao gồm nhiều chỉnh thể: tác phẩm, tác giả, trào lưu… 1.1.2. Những phƣơng diện nội dung cơ bản của tác phẩm văn học 1.1.2.1. Đề tài Theo từ điển thuật ngữ văn học: “Đề tài là khái niệm chỉ loại các hiện tƣợng đời sống đƣợc miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học. Đề tài là phƣơng diện khách quan trong nội dung tác phẩm ” [5, 110]. Đề tài là phạm vi hiện thực mà nhà văn chọn lựa và miêu tả, thể hiện tạo thành chất liệu của thế giới hình tượng trong tác phẩm đồng thời là cơ sở để từ đó nhà văn đặt ra những vấn đề mà mình quan tâm. Có thể nói đề tài là khái niệm trung gian giữa thế giới hiện thực được thẩm mĩ hóa trong tác phẩm và bản thân đời sống. Người ta có thể xác định đề tài ngoài hai phương diện bên ngoài và bên trong. Nói đến phương diện bên ngoài là nói đến sự thuần túy đến phạm vi hiện thực mà tác phẩm phản ánh. Ở đây, sức xác định đề tài thường dựa trên các phạm trù lịch sử - xã hội. Có thể nói đến đề tài chống Pháp chống Mĩ, đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội, công dân, nông dân, bộ đội … Tuy nhiên để tránh sự đồng nhất đề tài và đối tượng phản ánh và thấy được tính chất và phạm vi được phản ánh, cần phải đi vào phương diện bên trong của đề tài. Đó là cuộc sống nào con người nào… được thể hiện trong tác phẩm. Nói cách khác đó là tính chất được tìm thấy của đề tài bên ngoài. Trong trường hợp này đề tài chính là vấn đề được thể hiện trong tác phẩm và trong nhiều trường hợp được trùng khít với chủ đề. Chẳng hạn Sống Mòn của Nam Cao viết về người tri thức tiểu tư sản. Những người tri thức quẩn quanh bế tắc mòn mỏi. Tiếng hát sông Hƣơng của Tố Hữu viết về người con gái giang hồ với cuộc sống đau đớn và ước mơ tốt đẹp của họ về cuộc sống cũ. Đề tài gắn bó chặt chẽ với đối tượng nhưng không thể đồng nhất với các đối tượng với hệ thống đề tài. Đối tượng là phần không thể thiếu là khách thể mà con người chiếm lĩnh, phù hợp với nhu cầu một năng lực nhất định nhưng mà đối tượng không thông qua sự lựa chọn và miêu tả, thể hiện trong tác phẩm văn học. Nói khác đi, đối tượng là cơ sở của đề tài là sự khái quát phạm trù lịch sử trong xã hội trong tác phẩm . 8 1.1.2.2. Chủ đề “Chủ đề là vấn đề cơ bản trung tâm đƣợc tác giả nêu lên, đặt ra qua nội dung của tác phẩm văn học” [5, 61]. Nếu đề tài giúp ta xác định: tác phẩm viết cái gì? thì khái niệm của chủ đề lại giải đáp cho câu hỏi đó. Chủ đề là vấn đề cơ bản của tác phẩm, là phương diện chính yếu của đề tài. Khi phản ánh hiện thực nhà văn chẳng những xác định một phạm vi hiện tượng đời sống mà tập trung soi rọi một vấn đề có ý nghĩa hàng đầu trong phạm vi đó. Nhà thơ Tố Hữu nói: “Vấn đề nghệ thuật chính là chủ đề nói nôm na cho dễ hiểu câu hỏi - câu hỏi của cuộc đời”. M.Gorki đã nhấn mạnh tới vai trò chủ đạo của chủ đề trong sáng tác: “Chủ đề là cái tƣ tƣởng manh nha trong kinh nghiệm của tác giả, do cuộc sống gợi nên, làm tổ trong ấn tƣợng của anh ta, nhƣng chƣa định hình và đòi hỏi thể hiện thành hình tƣợng, thức tỉnh nhà văn kêu gọi anh ta lao động để tạo ra hình thức cho nó”. Chủ đề là những vấn đề được nhà văn tập trung soi rọi, tô đậm trong tác phẩm. Chẳng hạn, Tắt Đèn của Ngô Tất Tố phản ánh số phận bi thảm của người nông dân do chế độ sưu thuế, sự bóc lột tàn khốc trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Chí Phèo của Nam Cao, tập trung tô đậm vấn đề tha hóa, biến chất của một số bộ phận nông dân và ước mơ làm người lương thiện của họ. 1.1.2.3. Tƣ tƣởng Tư tưởng là: “Những nhận thức, lý giải và thái độ đối với toàn bộ nội dung cụ thể sống động của tác phẩm văn học cũng nhƣ những vấn đề nhân sinh đặt ra trong đó ” [5, 382]. Trong bộ Tấn trò đời của Banzăc, tư tưởng chung thống nhất cho tác phẩm là tư tưởng phê phán tố cáo sự mục ruỗng, thối nát của xã hội tư sản Pháp thế kỉ XIX. Tư tưởng là linh hồn, là kết tinh của sự cảm nhận suy nghĩ về cuộc đời… do yêu cầu của tư duy khái quát người ta thường đúc kết tư tưởng của tác phẩm bằng một số mệnh đề ngắn gọn trừu tượng. Thực ra tư tưởng náu mình trong những hình tượng sinh động, những cảm hứng sâu lắng của tác giả. Bêlinxki từng khẳng định: “Tƣ tƣởng thơ, đó không phải lá phép tam đoạn thức, mà là một ham mê sống, đó là cảm hứng”. Đối với những tác phẩm văn học trước hết đó là sự nhạy cảm bằng trái tim. Mọi sự khái quát suy ý đều có những giá trị tương đối. Nếu có thể coi đề tài và chủ đề thuộc phương diện chủ quan của nội 9 dung tư tưởng của tác phẩm văn học thì không phải giản đơn có khi là ý đó của nhà văn muốn thể hiện mà cái điều tự thân tác phẩm “nói” với người đọc. Tư tưởng của tác phẩm đóng vai trò có quan trọng đối với tác phẩm nhưng nó được quyết định bởi tư tưởng của tác giả. Như vậy, muốn có tác phẩm hay, tốt thì điều đầu tiên là tư tưởng của tác giả phải đủ ngắn tiến bộ. Ở đây có thể thấy quan điểm rất sâu sắc của Lỗ Tấn: “Làm một ngƣời thầy thuốc kê đơn bậy chỉ giết chết có một ngƣời, làm một viên võ tƣớng điều binh khiển tƣớng bậy chỉ nƣớng hết một đạo quân, còn làm một nhà văn viết bậy sẽ gây tác hại ít nhất hai ba thế hệ” [17, 86]. 1.1.3. Những phƣơng diện hình thức của tác phẩm văn học Vưgốtxki nói rằng: “Nghệ thuật phải bắt đầu từ nơi hình thức bắt đầu”. Quả thật, nhiều học giả nghiên cứu và tìm hiểu nghệ thuật về nghệ thuật thì chỉ khi nào chúng ta tiếp xúc chúng với hình thức nghệ thuật của văn chương, cảm thấy hiện diện của nó và qua đó nhận được cái nội dung được tìm thấy ẩn sâu trong tác phẩm văn chương thì có thể nói tiếp xúc với bản thân văn chương, cảm nhận văn chương, hình thức đó được thể hiện ở những phương diện như: nhân vật, kết cấu, lời văn nghệ thuật… 1.1.3.1. Nhân vật văn học Theo Trần Đình Sử, nhân vật chính là con người được miêu tả thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học. Đó là những con người cụ thể được miêu tả đầy đặn cả về tính cách, nội tâm lẫn ngoại hình, có tiểu sử thường thấy trong tác phẩm tự sự hoặc kịch. Đó là những con người thiếu hẳn những nét đó nhưng lại có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn như vậy người trần thuật họ chỉ có cảm xúc nỗi niềm ý nghĩa, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình . Nhân vật văn học là đơn vị nghệ thuật, mang tính ước lệ, không đồng nhất với con người có thật. Nhân vật văn học khác với những nhân vật trong hội họa điêu khắc, bộc lộ trong hành động và quá trình. Nhân vật văn học có tính hình tuyến (diễn ra từ đầu đến cuối), đồng hiện. Nó luôn hứa hẹn trong quá trình giao tiếp đồng thời nhân vật văn học có tính hồi cố, bởi có những bước phát triển điều làm nhớ lại những công thức nhận biết biết ban đầu đều là nó sâu thêm hoặc điều chỉnh 10 cho xác đáng, nhưng không bỏ quên hay xa rời cái chuẩn mực ban đầu. Nhân vật Hoàng trong Đôi Mắt của Nam Cao nguyên là một nhà văn kiêm một tay thơ đen tài tình thì mỗi bước đi, hành động của nhân vật đều làm ta nhớ lại cá tính ấy của Hoàng. Nhân vật văn học là những khái niêm trung tâm để xem xét tác phẩm văn học theo một khuynh hướng, trường phái hoặc một phong cách. Những nét chung về nhân vật văn học có thể cho phép những biểu tượng văn học như văn học về “con ngƣời nhỏ bé ”, con người thừa, văn học về “thế hệ mất mát”. Những nhân vật trở nên nổi tiếng thế giới như AQ, Graang, Faust… trong nền văn học thế giới. 1.1.3.2. Kết cấu Có thể hiểu kết cấu là sự sắp xếp, phân bố các thành phần, các hình thức nghệ thuật theo nội dung và thể tài. Kết cấu rất quan trọng đối với văn chương nghệ thuật. Kết cấu còn là sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong bố cục của tác phẩm là sự tổ chức sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo thành nội dung của tác phẩm trên cơ sở đời sống khách quan và theo một chiều hướng tư tưởng nhất định. Kết cấu là toàn bộ tổ chức nghệ thuật của tác phẩm phải phục tùng đặc trưng nghệ thuật và nhiệm vụ nghệ thuật cụ thể mà nhà văn tự đặt ra cho mình. Kết cấu là duy nhất không thể thay thế, không thể đảo lộn trật tự, kết cấu thâm nhập vào cấp độ nhỏ nhất như ngôn ngữ hay hình ảnh. Nó góp phần tạo ý nghĩa cho tác phẩm. Vì vậy có thể nói, kết cấu là yếu tố hình thức mang tính nội dung luôn biểu hiện một nội dung nhất định. Tác phẩm Chí Phèo với kết cấu mở đầu là tiếng chửi, là hình thức giao tiếp mang tính cực đoan biểu đạt sự cô đơn tuyệt đối. Kết cấu là một yếu tố của hình thức, vì thế vai trò của nó chủ yếu khẳng định trong việc thực hiện nhiệm vụ đối với các yếu tố của nội dung tác phẩm như chủ đề, tư tưởng, tính cách, cốt truyện, các yếu tố ngoài cốt truyện… Kết cấu là phương tiện khái quát hiện thực của tác phẩm hiện, luôn đóng vai trò đưa đời sống đi vào tác phẩm với trật tự nhất định. Nó sẽ biểu hiện thông qua kết cấu. Kết cấu ấy duy trì một chân lý của cuộc sống mà nhà văn muốn thể hiện. Chúng ta thấy lý luận văn học truyền thống luôn xem kết cấu là sự phối hợp liên kết giữa các yếu tố với nhau để tạo thành một chính thể của tác 11 phẩm. Kết cấu đóng vai trò nhất quan trọng trong việc thực hiện sự thống rất chặt chẽ giữa chủ đề và tư tưởng. 1.1.3.3. Lời văn Mỗi tác phẩm văn học đều được viết bằng lời: lời thơ; lời văn; lời tác giả; lời nhân vật … gộp chung lại là lời văn. Lời văn – thực chất cũng là dạng ngôn ngữ, nhưng đã được tổ chức theo dạng quy luật nghệ thuật về mặt nội dung, phương pháp, thể loại, phong cách. Lời văn trong tác phẩm nghệ thuật không mang hiện tượng ngôn ngữ mang chức năng giao tiếp thông thường, mà nó được đưa vào những hệ thống giao tiếp khác nhau mang chức năng khác nhau. Một nhà văn đã từng nói rằng, trên đời không sự giày vò nào ghê gớm hơn sự giày vò của ngôn ngữ. Maiacốpxki từng viết rằng: Làm thơ: Chẳng khác gì khai thác Chất hiếm radium Lấy một gam Mất hàng năm lao lực Chỉ mỗi một từ Có khi mất đứt Hàng trăm nghìn Tấn quặng xỉn ngôn từ (Nói chuyện với ngƣời thanh tra tài chính) Người ta thường nói trong tác phẩm văn học có tính hình tượng tính gợi cảm tính chính xác, tính cảm xúc… những nhận định ấy thường rất đúng nhưng không nên quên rằng đó là lời giao tiếp thông thường, chẳng hạn như lời thầy giáo giảng bài, lời nhà tuyên truyền chính trị, lời đùa vui, châm chọc, lời âu yếm chân chính… thiếu các tính chất trên người ta không thể đạt được những hiệu quả trong giao tiếp. Trong lời văn tác phẩm các tính chất ấy được hiểu sâu rộng hơn gắn liền với phản ánh đời sống của văn học. 1.1.4. Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức tác phẩm văn học Vấn đề nội dung và hình thức chiếm vị trí rất quan trọng trong các vấn đề lý luận của văn học, trước hết gắn liền với bản chất chức năng của văn học đối với đời 12 sống, gắn với những quy luật phát triển của văn học. Đối với từng tác phẩm, nội dung và hình thức là phạm vi chủ yếu thể hiện tư tưởng và nghệ thuật của nó. Triết học đã từng khẳng định rằng ở bất kỳ sự vật hiện tượng nào đó trong tự nhiên và xã hội đều mang trong mình hai yếu tố nội dung và hình thức. Nội dung là những yếu tố, quá trình làm lên sự vật hiện tượng, hình thức là sự biểu hiện, sự tổ chức, trật tự phương thức tồn tại của nội dung. Nội dung và hình thức là hai mặt mâu thuẫn, nhưng giữa chúng có sự thống nhất không tách rời với nhau, đan xen vào nhau chuyển hóa cho nhau. Một trong hai yếu tố này mà thay đổi thì thường kéo theo yếu tố kia. Thời cổ đại Aritxôt rất coi trọng hình thức với luận điểm của mình: “Chất liệu cộng với hình thức thì tạo ra bản chất của sự vật”. Trong bút kí triết học của mình Lê-Nin cũng nói: “hình thức mang tính bản chất. Bản chất đƣợc biến thành hình thức” [13, 29]. Trong tác phẩm văn học có giá trị, hình thức thống nhất với nội dung. Có lẽ không ai diễn đạt sự thống nhất này mạnh mẽ hơn Belinxlki nhà phê bình Nga đã từng viết: “trong tác phẩm nghệ thuật, tƣ tƣởng và hình thức phải hòa hợp với nhau một cách hữu cơ nhƣ tâm hồn và thể xác, nếu hủy diệt hình thức thì cũng có nghĩa là hủy diệt tƣ tƣởng và ngƣợc lại cũng vậy” [16, 256]. 1.2. Nguyễn Huy Thiệp và tác phẩm Những ngọn gió Hua Tát 1.2.1. Nguyễn Huy Thiệp – Nguồn riêng giữa dòng chung 1.2.1.1. Tiểu sử, cuộc đời Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày 29/04/1950. Quê quán ở Phương Hạ, huyện Thanh Trì, T.P Hà Nội, đã tốt nghiệp Đại học sư phạm và là hội viên Hội nhà văn Việt Nam năm 1990 . Năm 1970 Nguyễn Huy Thiệp tốt nghiệp Khoa Sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội và lên dạy học ở Tây Bắc từ năm 1970 đến 1980, Ông chuyển sang công tác tại Bộ Giáo Dục. Sau đó làm việc tại công ty Kỹ Thuật Trắc Địa Bản Đồ - Cục Bản Đồ (trực thuộc Hội đồng Bộ Trưởng). Hiện nay Nguyễn Huy Thiệp đang sống và sáng tác tại Hà Nội. Ông cũng có nhiều thời gian vật lộn với cuộc đời với nhiều nghề kiếm kế sinh nhai: thợ mộc, thợ nề, bán quán … 13 Có thể nói, điểm qua cuộc đời nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, chúng ta thấy ông thuộc thế hệ nhà văn sinh ra trong thời chiến, nhưng lớn lên trong thời bình. Cuộc sống lại trở về với chính nó, với tất cả lo toan vặt vãnh hằng ngày. Lúc đó đối diện với nhau không còn là ta - địch, nông dân - địa chủ, người bị bóc lột - người bóc lột mà là người đối diện với người trong cuộc sống thường ngày, trong lao động sản xuất. Văn chương lúc này lại được trả lại nhiệm vụ thiêng liêng đó là phản ánh con người và số phận con người. Hiện thực đó đã tác động không nhỏ tới cảm hứng sáng tác của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Đặc biệt đối với một nhà văn luôn trăn trở, suy tư, day dứt trước cuộc sống như ông thì cuộc sống không chỉ là cuộc sống mà còn là những “góc khuất” bấy lâu nay người ta vô tình hay hữu ý hay người ta “ngủ quên”. Bằng khả năng sáng tác nghệ thuật điêu luyện, Nguyễn Huy Thiệp đánh thức “góc khuất” trong những sáng tác của mình. Bởi vậy, bên những trang viết “ đầy ứ” gánh nặng cuộc sống “cơm áo gạo tiền” Nguyễn Huy Thiệp còn táo bạo dung nạp thêm những phần “ái ố” trần trục thuộc về bản năng thầm kín trong con người để đưa vào trang viết của mình. Ông đã phanh phui ra ánh sáng những vấn đề mà lâu nay người ta biết nhưng né tránh không dám nói ra, đó cũng là lí do tại sao xuất hiện nhiều ý kiến khen chê bàn cãi tranh luận xung quanh cuộc đời của Nguyên Huy Thiệp. Và rồi Nguyễn Huy Thiệp luôn tìm được “nguồn riêng giữa dòng chung” góp phần xây dựng nên nền văn học nước nhà ngày càng phong phú và đa dạng. 1.2.1.2. Sự nghiệp sáng tác Có thể nói, những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp có số lượng không nhiều. Bắt đầu xuất hiện trên văn đàn từ năm 1980, mặc dù sáng tác không nhiều nhưng bất kì tác phẩm nào của ông khi ra mắt công chúng cũng xuất hiện hai luồng khen chê dữ dội. Nguyễn Huy Thiệp được mệnh danh là ông vua truyện ngắn. Tác phẩm tiêu biểu Những ngọn gió Hua Tát (1989); Tƣớng về hƣu (1989) Con gái Thủy Thần (1992); Nhƣ những ngọn gió (tuyển tập 1995); Thƣơng cả cho đời bạc, Mƣa nhã nam… Bên cạnh thể loại truyện ngắn, Nguyễn Huy Thiệp còn sáng tác nhiều thể loại khác: tiểu thuyết, tạp văn, tiểu luận, phê bình, giới thiệu kịch. Và bất kì thể loại 14 nào Nguyễn Huy Thiệp cũng đặt được dấu ấn riêng của mình. Tiểu thuyết: Đây là thể loại Nguyễn Huy Thiệp đang trập chững những bước đi đầu tiên. Hai tác phẩm được coi là đứa con đầu lòng của ông có thể kể đến là Tuổi hai mƣơi yêu dấu và tiểu thuyết kiếm hiệp Võ lâm ngoại sử. Tạp văn, tiểu luận, phê bình, giới thiệu. Cả bốn thể loại này được tập hợp và in thành sách Giăng lƣới bắt chim (NXB Hà Nội năm 2003). Kịch: Tuyển tập kịch Nguyễn Huy Thiệp (NXB Tuổi trẻ năm 2003). Những tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp được xuất hiện rải rác trên các báo và tạp chí: Văn nghệ, Lao động, Tiền phong chủ nhật, Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh, Sông Hương, đất Quảng, Cửa Việt… Tác phẩm của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga và thu hút đông đảo sự quan tâm của độc giả ngoài nước, nhất là độc giả pháp. Theo thống kê của Vietnamnet, trong danh sách có 20 tác giả có sách bán chạy nhất thế giới của nhà xuất bản E’dition de I’ Aube ở Pháp thì sách bán được của Nguyễn Huy Thiệp bán chạy thứ ba (35283 bản) riêng cuốn tiểu thuyết Tuổi hai mƣơi yêu dấu được in lần đầu bằng tiếng Pháp là 4 000 bản. Cuộc sống đang biến đổi từng phút, từng giờ, con người không thể sống mãi trong hoài niệm cũ, biết bao vấn đề nảy sinh trong cuộc sống mới, đòi hỏi mọi cá nhân tồn tại trong xã hội đó phải tự điều chỉnh mình cho phù hợp. Nguyễn Huy Thiệp cũng vậy, ông đã tìm cách mới trong văn chương. Con đường văn chương mà ông tìm đến không phải là một con đường mòn mà người ta vẫn đi, ông đã đột phá ra khỏi con đường ấy bằng lối đi cho riêng mình. Ông đã tự bộc bạch “ văn học giúp con ngƣời nhận thức về mình về cuộc sống”. Văn học con người ta phải biết, phải dám nhìn thẳng vào chính mình, cuộc sống của mình đang tồn tại để tự ý thức về mình. Thái độ e thẹn, ngại ngùng không dám nói sẽ làm chết đi chức năng phản ánh của văn chương. Chính vì điều đó, Nguyễn Huy Thiệp dám nhìn thẳng vào sự thật và đời sống hiện tại để phản ánh. Đi sâu vào thế giới truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp chúng ta không bắt gặp những gì quá gay gắt, nghẹt thở trước một cuộc sống trần tục rất gần gũi với chúng ta, có thể do hữu ý hay vô tình mà chúng ta thừa nhận ra đó là một xã hội thu nhỏ, gồm những gia đình con con trong những mối quan hệ “cơm áo gạo tiền”, tình yêu hôn nhân, gia đình xã hội… thậm chí cả những ý thức 15
- Xem thêm -