Tài liệu Tư tưởng dung thông tam giáo của nguyễn dữ trong tác phẩm truyền kỳ mạn lục

  • Số trang: 70 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 98 |
  • Lượt tải: 0

Mô tả:

Phân tích, khái quát các điều kiện và tiền đề cho sự hình thành tư tưởng triết học nói chung và tư tưởng dung thông tam giáo nói riêng của Nguyễn Dữ. Phân tích, làm rõ những nội dung và đặc điểm của tư tưởng dung thông tam giáo của Nguyễn Dữ trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN KHOA TRIẾT HỌC ----------------------- Nguyễn Thị Hồng Tâm TƯ TƯỞNG DUNG THÔNG TAM GIÁO CỦA NGUYỄN DỮ TRONG TÁC PHẨM TRUYỀN KỲ MẠN LỤC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH TRIẾT HỌC Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học: QH-2015-X Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thanh Bình HÀ NỘI, 2019 LỜI CẢM ƠN Hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn sự dạy dỗ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong khoa Triết học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội trong suốt thời gian tôi học tập tại khoa, tại trường. Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Nguyễn Thanh Bình, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình và chu đáo trong quá trình thực hiện và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này. Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng chắc chắn khóa luận sẽ không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, các cô, cùng toàn thể các bạn để khóa luận này được hoàn thiện hơn. Hà Nội, ngày 29 tháng 5 năm 2019 Nguyễn Thị Hồng Tâm MỤC LỤC MỞ ĐẦU ...................................................................................................................1 NỘI DUNG ...............................................................................................................7 CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ CƠ BẢN CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG DUNG THÔNG TAM GIÁO CỦA NGUYỄN DỮ ..................................7 1.1. Bối cảnh lịch sử, tình hình kinh tế, chính trị - xã hội và văn hóa thế kỷ XVI ....7 1.2. Tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng dung thông tam giáo của Nguyễn Dữ ............................................................................................................................10 1.3. Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Dữ............................................................20 CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG DUNG THÔNG TAM GIÁO CỦA NGUYỄN DỮ .........................................................................................................24 2.1. Tư tưởng dung thông tam giáo thể hiện trong thế giới quan của Nguyễn Dữ ........... 24 2.2. Tư tưởng dung thông tam giáo thể hiện trong nhân sinh quan của Nguyễn Dữ........ 31 2.3. Tư tưởng dung thông tam giáo thể hiện trong quan niệm về đạo đức của Nguyễn Dữ...............................................................................................................40 CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ TƯ TƯỞNG DUNG THÔNG TAM GIÁO CỦA NGUYỄN DỮ ...........................................................50 3.1. Một số đặc điểm chủ yếu trong tư tưởng dung thông tam giáo của Nguyễn Dữ ....... 50 3.2. Giá trị và hạn chế trong tư tưởng dung thông tam giáo của Nguyễn Dữ ........57 KẾT LUẬN .............................................................................................................63 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................65 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo là ba hệ thống học thuyết triết học có vị trí quan trọng, chi phối mạnh mẽ đến hệ tư tưởng văn hóa Việt Nam suốt một ngàn năm quân chủ chuyên chế. Sự kết hợp nhuần nhuyễn, dung hợp giữa Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo đã tạo nên một nền văn hóa Việt Nam rực rỡ và tinh hoa. Đó là sự kết hợp của gam màu văn hóa dân gian với văn hóa bác học cung đình, sự hòa hợp giữa chính trị và đời sống tôn giáo tâm linh. Tuy các học thuyết trên có vị thế khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, song chính quá trình tiếp biến nói trên đã tạo nên mối quan hệ tam giáo với tính chất không đồng nhất với mối quan hệ tam giáo ở Trung Quốc và các nước đồng văn khác của khu vực. Xu hướng dung thông tam giáo tại Việt Nam đã có xuất hiện ở Việt Nam rất sớm nhưng nội dung, đặc điểm và tính chất dung thông Nho, Phật, Đạo ở mỗi thời kỳ đều có những nét đặc sắc riêng biệt. Có thể nói rằng, thế kỷ XVI mở ra một giai đoạn lịch sử diễn ra hết sức phức tạp với việc tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến và các cuộc nội chiến xảy ra liên tục. Tư tưởng và các giá trị đạo đức của Nho gia dường như bất lực trước bối cảnh rối ren này và thời kỳ khủng hoảng chế độ phong kiến Việt Nam trong suốt ba thế kỷ XVI - XVIII. Nho giáo không đủ sức để thay đổi và cải thiện tình trạng khủng hoảng này, trong bối cảnh đó các nhà tư tưởng, mà chủ yếu là Nho sĩ đã tìm đến Phật và Đạo như một lối đi mới để giải quyết sự khủng hoảng trong tư tưởng của chính mình. Và đó là nguyên nhân khiến lịch sử tư tưởng Việt Nam xuất hiện xu hướng mới trong quan hệ tam giáo. Nguyễn Dữ là một trong những đại diện của xu hướng này. Là một nhà Nho tiêu biểu của thế kỷ XVI đầy sóng gió và biến động của xã hội và chế độ phong kiến Việt Nam, nhưng tiếc rằng các tác phẩm của Nguyễn Dữ không còn được bảo tồn và lưu giữ, Truyền kỳ mạn lục là tài liệu duy nhất của ông còn được lưu giữ đến ngày nay. Truyền kỳ mạn lục là một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học Việt Nam thế kỷ XVI. Vũ Khâm Lân đời nhà Lê khi nói về tác phẩm này đã khen rằng đây là một “thiên cổ kỳ bút”. Truyền kỳ mạn lục được đánh giá cao như vậy là bởi nó không chỉ là một tác phẩm văn học thuần túy mà ẩn sâu trong đó còn là những giá trị về mặt tư tưởng, đạo đức, lối sống mà Nguyễn 1 Dữ muốn gửi gắm đến người đọc. Thế nhưng, cho đến nay, Nguyễn Dữ và tác phẩm này của ông chỉ được nghiên cứu nhiều dưới góc độ văn học, văn hóa học. Còn từ góc độ triết học và lịch sử tư tưởng thì nghiên cứu về Nguyễn Dữ và đặc biệt là tư tưởng dung thông tam giáo của ông chưa dành được quan tâm đúng với giá trị, ý nghĩa của nó. Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu về tư tưởng triết học, đặc biệt là tư tưởng dung thông tam giáo của Nguyễn Dữ là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa trong học tập, nghiên cứu về tư tưởng Việt Nam nói chung và tư tưởng Việt Nam thế kỷ XVI nói riêng. Trên cơ sở đó, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Tư tưởng dung thông tam giáo của Nguyễn Dữ trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục” làm đề tài để nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành Triết học của mình. 2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu Qua những công trình nghiên cứu về tư tưởng Nguyễn Dữ nói chung và tư tưởng dung thông tam giáo của ông nói riêng từ trước đến nay, có thể khái quát một số kết quả nghiên cứu chủ yếu sau đây: Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về Nguyễn Dữ nói chung Trong số các công trình nghiên cứu về Nguyễn Dữ thì đáng chú ý nhất là công trình Truyền kỳ mạn lục (tái bản năm 2018) của tác giả Trúc Khê dịch và giới thiệu, NXB Hội nhà văn, Hà Nội. Trong tác phẩm này, ngoài việc Trúc Khê biên dịch thì ông có giới thiệu khát quát về cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Dữ. Cuốn sách có viết rằng Nguyễn Dữ là một nhà nho sống dưới đời nhà Lê, ông vốn hiếu học, thông minh từ nhỏ và là học trò của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông có làm quan tại huyện Thanh Toàn nhưng chán nản trước thời cuộc nên xin từ chức, về quê nuôi mẹ. Trong cuốn sách cũng đề cập đến Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm duy nhất của Nguyễn Dữ còn lại cho đến ngày nay. Cuốn sách gồm 20 truyện, viết bằng chữ Hán theo thể loại truyền kỳ. Cốt truyện Truyền kỳ mạn lục chủ yếu lấy từ những câu chuyện lưu truyền trong dân gian, nhiều trường hợp xuất phát từ truyền thuyết các vị thần mà đến thời hiện nay vẫn còn. Trúc Khê cho rằng Nguyễn Dữ viết bộ truyện này nhằm ghi lại những câu chuyện truyền thuyết linh dị, kì bí từ thời Lý – Trần đến thời ấy. Trúc Khê cũng đánh giá Truyền kỳ mạn lục 2 là một tuyệt tác, nó vừa có giá trị về mặt văn chương, vừa thể hiện sự đặc sắc về mặt tư tưởng. Bên cạnh 20 truyện trong Truyền kỳ mạn lục, nhiều nhà nghiên cứu cũng đặc biệt quan tâm đến 19 Lời bình trong tác phẩm. Tuy nhiên, về vấn đề này thì đến nay vẫn có nhiều nhà nghiên cứu tranh cãi về nguồn gốc và tác giả của 19 Lời bình trên. Trong bản dịch của Ngô Văn Triện và Trúc Khê, họ cho rằng những lời bình là là những đánh giá, nhận xét của Nguyễn Dữ về những vấn đề trong đời sống, xã hội đương thời. Tuy nhiên, cũng có nhiều tác giả đưa nhận định trái ngược, điển hình như trong bài Bàn thêm về tác giả - tác phẩm Truyền kỳ mạn lục (2002), Lại Văn Hùng lại khẳng định Nguyễn Dữ chỉ là người viết lời bình. Ông cho rằng giữa phần truyện và lời bình của Truyền kỳ mạn lục có nhiều điểm mâu thuẫn với nhau, bởi phần lời bình cho thấy rõ những quan điểm, nhận định, lập trường của một nhà Nho, song trong phần chính truyện, tác giả lại đưa ra nhiều quan niệm, tư tưởng phi Nho. Từ sự mâu thuẫn trên, Lại Văn Hùng khẳng định rằng Nguyễn Dữ không phải tác giả của Truyền kỳ mạn lục mà chỉ đưa ra nhận xét của mình về những truyện ấy thông qua phần Lời bình. Cũng nhận thấy được những mâu thuẫn về mặt tư tưởng trong chính tác phẩm Truyền kỳ mạn lục, song Bùi Duy Tân lại cho rằng đây chính là biểu hiệu rạn nứt của ý thức hệ phong kiến. Ông có nhận xét về Nguyễn Dữ như sau: “Nguyễn Dữ đã phản ánh hiện thực mục nát của chế độ phong kiến một cách có ý thức. Toàn bộ tác phẩm thấm sâu tinh thần và màu sắc của cuộc sống, phạm vi phản ánh của tác phẩm tương đối rộng rãi, khá nhiều vấn đề của xã hội, con người được đề cập tới. Tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Dữ là tư tưởng Nho gia…Tuy nhiên Truyền kỳ mạn lục không phải chỉ thể hiện tư tưởng nhà nho, mà còn thể hiện sự dao động của tư tưởng ấy trước sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến” [13,tr.1125]. Trong cuốn “Truyền kỳ mạn lục Giải âm”(2019) do Nguyễn Quang Hồng phiên âm và chú giải, đã đề cập đến việc so sánh và đối chiếu giữa tác phẩm Truyền kỳ mạn lục và Tiễn đăng tân thoại, ông có khát quát một số điểm giống cũng như những nét đặc sắc riêng của từng tác phẩm. Đặc biệt, ở cuốn sách này, trong quá trình phiên âm đã giữ nguyên các cấu trúc, quy tắc dùng từ của người 3 Việt trong thời kỳ trung đại. Bên cạnh việc phiên âm, tác giả còn tiến hành chú giải các điển tích, điển cố và từ ngữ trong sách. Bởi vậy, tập truyện có giá trị cao về học thuật, không giống các bản Truyền kỳ mạn lục đang lưu hành chỉ đơn thuần là dịch từ Hán văn sang tiếng Việt hiện đại. Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về tư tưởng dung thông tam giáo của Nguyễn Dữ Nhìn chung các công trình đề cập đến tư tưởng tam giáo nói chung và tư tưởng dung thông Nho, Phật, Đạo của Nguyễn Dữ khá ít. Trong đó, Hệ thống tam giáo trong Truyên kỳ mạn lục (1972) của tác giả Thạnh Trung Giả là một công trình tiêu biểu, theo tác giả trong số hai mươi truyện ngắn tạo thành tác phẩm Truyền kỳ mạn lục, thấy được sự ảnh hưởng sâu sắc của Nho, Phật, Đạo trong đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân Việt Nam. Thạch Trung Giả ở bài viết này, đã liệt kê những chi tiết truyện mang tư tưởng của tam giáo, đồng thời sắp xếp chúng một cách hệ thống, logic. Ông cũng chỉ ra những đánh giá, nhận định và lý giải của mình về những chi tiết truyện ấy. Tuy nhiên, bài viết mới chỉ dừng lại ở việc phân tích tư tưởng tam giáo trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục, chưa cho thấy được bối cảnh, tiền đề đã tạo nên sự dung hợp giữa tam giáo và nguyên nhân vì sao trong tư tưởng của Nguyễn Dữ lại bị ảnh hưởng bởi cả Nho, Phật và Đạo giáo. Trong Luận án tiến sĩ Tư tưởng dung thông Nho, Phật, Đạo của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Dữ, tác giả Vũ Phú Dưỡng đã nêu ra được những điều kiện, bối cảnh kinh tế xã hội và tiền đề tư tưởng tạo nên tư tưởng triết học nói chung của Nguyễn Dữ. Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến sự ảnh hưởng, tác động của Nguyễn Bỉnh Khiêm đến tư tưởng triết học và cuộc đời của Nguyễn Dữ. Ông khẳng định, tư tưởng dung thông tam giáo của Nguyễn Dữ là sự kế thừa và phát triển những tư tưởng về dung thông tam giáo của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tuy nhiên, Luận án chưa làm rõ, nổi bật được những nội dung, đặc điểm riêng biệt trong tư tưởng của Nguyễn Dữ nói chung và tư tưởng dung thông tam giáo của ông nói riêng. Ngoài các công trình nói trên đề cập tới tư tưởng dung thông tam giáo của Nguyễn Dữ, còn có các bài viết của các nhà khoa học trên các tạp chí chuyên ngành, tạp chí triết học như Tam giáo đồng nguyên và tính đa nguyên trong truyền 4 thống văn hóa Việt Nam của tác giả Nguyễn Tài Đông, Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, số 5; Bàn thêm về vấn đề tác giả - tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Lại Văn Hùng, Tạp chí Văn học, số 10 hay bài viết Lại bàn về tam giáo đồng nguyên của Lê Văn Quán được đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 5;… Những bài viết trên đều khái quát chung về xu hướng dung thông tam giáo trong lịch sử Việt Nam trong giai đoạn XVI, trong đó chỉ ra nguyên nhân của quá trình dung thông và đặc điểm của nó, Nguyễn Dữ được nhắc đến với tư cách là một đại diện tiêu biểu cho xu hướng này. Công trình đáng chú ý nhất là bài viết Vấn đề tam giáo trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ của Trần Nguyên Việt. Trong bài viết của mình tác giả cũng đã làm rõ quan điểm của Nguyễn Dữ về vai trò của từng học thuyết trong tam giáo đối với ý thức của người Việt nói chung, của giới trí thức nói riêng trong thế kỷ XVI – XVII. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích của khóa luận Trình bày có hệ thống tư tưởng dung thông tam giáo của Nguyễn Dữ, thể hiện trong thế giới quan, nhân sinh quan và quan niệm về đạo đức của ông. Và từ đó, chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của tư tưởng dung thông tam giáo của Nguyễn Dữ. 3.2. Nhiệm vụ của khóa luận Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của khóa luận là: - Phân tích, khái quát các điều kiện và tiền đề cho sự hình thành tư tưởng triết học nói chung và tư tưởng dung thông tam giáo nói riêng của Nguyễn Dữ. - Phân tích, làm rõ những nội dung và đặc điểm của tư tưởng dung thông tam giáo của Nguyễn Dữ trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu của khóa luận: Nội dung tư tưởng dung thông tam giáo được thể hiện trong thế giới quan, nhân sinh quan và quan niệm về đạo đức của Nguyễn Dữ ( qua nghiên cứu tác phẩm Truyền kỳ mạn lục). 4.2. Phạm vi nghiên cứu của khóa luận: Bối cảnh kinh tế, xã hội và lịch sử tư tưởng Việt Nam thế kỷ XVI và tư tưởng dung thông tam giáo của Nguyễn Dữ trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục. 5 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận: Khóa luận được thực hiện trên cơ sở vận dụng những nguyên lý cơ bản của triết học Mác – Lênin và quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về xã hội và con người. 5.2. Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận chủ yếu vận dụng phương pháp biện chứng duy vật trong triết học Mác – Lênin, phương pháp nghiên cứu lịch sử triết học và kết hợp một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: phương pháp logic kết hợp với phương pháp lịch sử, phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh, v.v. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khóa luận Khóa luận không chỉ làm rõ hơn nội dung, đặc điểm, giá trị và hạn chế trong tư tưởng dung thông tam giáo của Nguyễn Dữ mà còn góp phần vào việc học tập, nghiên cứu tư tưởng của Nguyễn Dữ, tư tưởng Việt Nam thế kỷ XVI. 7. Kết cấu của khóa luận Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương, 8 tiết. 6 NỘI DUNG CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ CƠ BẢN CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG DUNG THÔNG TAM GIÁO CỦA NGUYỄN DỮ 1.1. Bối cảnh lịch sử, tình hình kinh tế, chính trị - xã hội và văn hóa thế kỷ XVI Sau thời kỳ thịnh trị của Lê Thánh Tông, triều đại phong kiến nhà Lê sơ bước vào giai đoạn suy thoái. Triều đình phong kiến nhà Lê sơ xuất hiện các ông “vua quỷ”, “vua lợn” như vua Uy Mục (1505 - 1509), Tương Dực (1509 - 1516), còn hệ thống quan lại thì ngang ngược hoành hành. Bên cạnh nhà vua hoang dâm vô độ, cho xây dựng nhiều đền đài, cung điện thì việc các quan trong triều đình lợi dụng chức quyền, vơ vét tài sản, tham ô công quỹ đã làm gia tăng mâu thuẫn giữa triều đình phong kiến với nhân dân. Dưới thời Lê Thánh Tông trị vì (1460 – 1497), nhà nước phong kiến Việt Nam về cơ bản đã tạo ra và duy trì một xã hội tương đối ổn định và phát triển. Bước sang thế kỷ XVI, bộ máy triều đình không thể cải thiện tình trạng mâu thuẫn này, đồng thời những mâu thuẫn mới tiếp tục nảy sinh càng cho thấy rõ sự lạc hậu, bất lực của chế độ. Nhà nước phong kiến đã trở thành đối tượng đấu tranh của các phong trào nông dân khởi nghĩa. Họ đều là những người bị bóc lột thậm tệ bởi nhà nước phong kiến đương thời, chính chế độ ấy đã khiến họ trở nên bần cùng hóa và buộc phải đấu tranh để tự giải thoát chính mình. Ở giai đoạn này, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân diễn ra trên khắp cả nước nhưng cuối cùng đều thất bại. Tuy không thể lật đổ triều đình Lê sơ nhưng những cuộc khởi nghĩa đó một mặt cho thấy sự suy yếu của nhà nước phong kiến đương thời, mặt khác thể hiện được nhu cầu, khát khao của nhân dân về một xã hội thái bình, thịnh trị. Lợi dụng sự suy yếu, rối loạn của triều đình Lê sơ, Mạc Đăng Dung (1483 – 1541) ủ mưu lật đổ nhà Lê để giành lấy quyền chấp chính. Năm 1526 Mạc Đăng Dung giết vua Lê Chiêu Tông (1516 – 1522), tháng 6 năm 1527 bắt ép vua Lê Cung Hoàng (1522 - 1527) nhường ngôi cho mình. Việc Mạc Đăng Dung lật đổ nhà Lê, thành lập nhà Mạc đã gây nên làn sóng phản đối dữ dội từ đội ngũ trí thức Nho gia, đặc biệt là những vị công thần và sĩ phu khoa bảng lúc bấy giờ như Nguyễn Thái Bạt, Lê Tuấn Mậu, Đàm Thuận Huy, Nguyễn Duy Tường,... Hình thành trong một 7 bối cảnh danh không chính, ngôn không thuận đồng thời vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ đội ngũ nhà Nho, nhà Mạc phải tìm biện pháp để bảo vệ được ngôi vị của mình. Chính vì thế, triều đình nhà Mạc đã tìm đến nhà Minh (Trung Quốc) để kêu gọi sự hậu thuẫn đồng thời tìm cách đối phó với những người trung thành với triều đình cũ. Bên cạnh đó, nhà Mạc cũng chú trọng đến vấn đề giáo dục khoa cử nhằm đào tạo ra đội ngũ trí thức Nho học để từ đó tìm ra những hiền tài trung thành với nhà Mạc, trở thành trụ cột cho triều đình. Dù có nhiều sự thay đổi nhưng về cơ bản, bộ máy chính trị nhà Mạc sử dụng để xây dựng, quản lý xã hội vẫn là mô hình nhà nước phong kiến trung ương tập quyền giống như triều đại trước. Sự ra đời của vương triều nhà Mạc đã làm cho các tập đoàn phong kiến khác lấy danh nghĩa “phù Lê diệt Mạc” để thành lập ra triều đại mới là Lê Trung hưng (ở Thanh Hóa). Sự xung đột giữa nhà Mạc và nhà Lê Trung hưng là nguyên nhân hình thành nên Bắc triều (nhà Mạc thống trị ở Bắc Bộ) và Nam triều (họ Trịnh dưới danh nghĩa phù Lê quản lý vùng đất Thanh Hóa trở vào). Từ năm 1546 đến 1592, trên lãnh thổ nước ta đã diễn ra 38 chiến dịch lớn nhỏ giữa Lê – Trịnh và Mạc nhằm tranh giành quyền lực nhưng không bên nào giành được thắng lợi cuối cùng. Mãi đến năm 1592, Nam triều thắng Bắc triều, nhà Mạc chạy lên Cao Băng và tồn tại ở đó được khoảng hơn 60 năm thì tan rã. Khi cuộc xung đột giữa nhà Mạc và Lê – Trịnh kết thúc, thì xã hội Việt Nam lại xuất hiện cuộc xung đột mới Trịnh – Nguyễn. Sự phân chia và quản lý đất nước do các tập đoàn phong kiến Mạc, Trịnh, Nguyễn là nét nổi bật nhất trong tình hình chính trị của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Tuy nhiên, các tập đoàn phong kiến Đàng Trong và Đàng Ngoài đều có điểm chung là theo mô hình cũ từ thời Lê sơ – nhà nước quan liêu ngày càng nặng nề và phức tạp và đang trở thành một lực cản trở sự phát triển của xã hội. Các nhân tố kinh tế, chính trị thời kỳ này đã góp phần quy định bộ mặt đời sống văn hóa tư tưởng của xã hội Việt Nam thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII. Thời kỳ này Nho giáo vẫn được các tập đoàn phong kiến sử dụng là công cụ chính để xây dựng, củng cố chính quyền và thành lập, củng cố trật tự xã hội. Giáo dục và thi cử Nho giáo cũng như dưới thời Lê sơ, vẫn lấy nội dung trong Tứ thư và Ngũ Kinh. Sự củng cố giáo dục khoa cử trong các tập đoàn phong kiến được tăng cường chủ yếu nhằm tạo ra tầng lớp sĩ phu mới để phục vụ cho các tập đoàn phong kiến này. Tuy 8 nhiên, nếu Nho sĩ - những người trí thức ở thế kỷ XV là những nhà tư tưởng tiêu biểu của xã hội, thì bước sang thế kỷ XVI và thế kỷ XVII, các nhà Nho sĩ phải đối diện với đất nước triền miên trong loạn lạc, trong chiến tranh, trong sự chia cắt. Thực tiễn đó đã đặt ra cho các nhà Nho lúc đó là làm sao đất nước trở về một mối, xã tắc được yên vui, nhân dân được sống trong cảnh thái bình, thịnh trị, có trật tự, có kỷ cương, v.v. Thế kỷ XVI và thế kỷ XVII, do sự suy thoái của chế độ quân chủ chuyên chế, trung ương tập quyền, sự tranh chấp giữa các thế lực, phe phái phong kiến và do ảnh hưởng ngày càng tăng của quan hệ hàng hóa – tiền tệ, Nho giáo đã thể hiện sự bất lực trước các vấn đề của xã hội. Tôn ti trật tự xã hội không còn như trước và sự suy đồi ấy biểu hiện trong mọi mặt của xã hội, ví như: Giáo dục vốn là một vấn đề luôn được triều đình coi trọng, đề cao nhưng nay ngày càng xuống cấp. Trong các kì thi Nho học, các quan chấm thi ở trường thi Hương soạn sẵn 4 – 5 đề thi, ra đi ra lại; những thầy đồ giỏi cũng dựa vào đó để trục lợi bằng cách soạn sẵn đáp án, đem đến quan trường bán cho các thí sinh dự thi. Thậm chí, các bộ Ngũ Kinh, Tứ Thư còn được tóm tắt, người đi thi chỉ cần học thuộc bản tóm tắt đấy là đủ. Nạn mua quan bán chức cũng là một điển hình tiêu biểu cho sự rối loạn của triều đình phong kiến. Sự suy đồi của Nho giáo diễn ra trong chính hàng ngũ những người lấy Nho học làm nền tảng tri thức và có nhiệm vụ truyền bá học thuyết này. Trước tình hình trên, những nhà Nho chân chính - những người còn trách nhiệm với đất nước, họ đã nhận thấy được sự bế tắc của Nho giáo trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn xã hội. Do vậy, để khắc phục sự suy yếu, bất lực của Nho giáo, khôi phục lại địa vị và vai trò của Nho giáo như thời Lê sơ, đồng thời lập lại trật tự, kỷ cương và sự ổn định của xã hội thì vấn đề đặt ra cho nhiều nhà Nho là theo Nho, theo Phật hay theo Đạo. Chỉ theo một đạo hay kết hợp các đạo lại với nhau là tốt nhất chính là một câu hỏi mà đội ngũ tri thức lúc bấy giờ được đặt ra. Nho giáo không còn là tư tưởng chủ đạo mà khuynh hướng chính lúc này là tư tưởng kết hợp tam giáo là một xu hướng phát triển trong giai đoạn này. Trong đó, khuynh hướng kết hợp Nho giáo với Đạo Lão – Trang có Nguyễn Bỉnh Khiêm là một đại diện tiêu biểu, còn ở một số nhà Nho khác như Nguyễn Dữ thì khuynh hướng kết hợp giữa Nho giáo với Đạo giáo lại được biểu lộ rõ ràng hơn. 9 Tóm lại, cả Nho, Phật, Đạo đều có một phương diện cần thiết cho con người, cho xã hội lúc bấy giờ. Sự xuất hiện chủ trương kết hợp Nho, Phật, Đạo như trên cũng không phải là điều mới mẻ trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Trong giai đoạn Lý – Trần, sự kết hợp này cũng đã xuất hiện. Tuy nhiên, trong hai thế kỷ XVI và XVII thì sự kết hợp Nho, Phật, Đạo trong tư tưởng của các nhà Nho Việt Nam có nội dung và tính chất khác so với các thời kỳ trước đó. 1.2. Tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng dung thông tam giáo của Nguyễn Dữ 1.2.1. Tam giáo và sự du nhập, phát triển của tam giáo đến thế kỷ XVI Thứ nhất, Nho giáo và sự du nhập, phát triển của Nho giáo ở Việt Nam đến thế kỷ XV: Nho giáo là một học thuyết chính trị, xã hội, đạo đức được Khổng Tử (551 – 479 tr.CN) sáng lập và sau đó được các môn đệ của ông phát triển qua các giai đoạn phát triển của Nho gia. Những nội dung cơ bản của Nho giáo được thể hiện rõ trong các tác phẩm kinh điển như: Tứ Thư (gồm: Luận ngữ, Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử) và Ngũ Kinh (gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu). Nho giáo có nội dung tư tưởng triết học chính về thế giới, con người và xã hội, trong đó những vấn đề luân lý đạo đức, thể chế và đường lối cai trị, quản lý xã hội được chú trọng hàng đầu. Trong Quan niệm về thế giới, Nho giáo có hai khuynh hướng chủ yếu là duy tâm và duy vật. Với quan điểm duy tâm, xuất phát từ quan niệm trời là gốc của vạn vật “vạn vật bản hồ thiên”, các nhà Nho cho rằng trời là một thực thể có ý chí, có sức mạnh tối thượng và có quyền uy tuyệt đối, quy định sự sinh thành, phát triển, tiêu vong của mọi sự vật, hiện tượng trong xã hội. Vì vậy, cuộc đời con người hay các hiện tượng trong cuộc sống thì đều chịu sự quy định của mệnh trời. Đến Đổng Trọng Thư (thời hán), ông còn bổ sung thêm quan niệm này khi cho rằng mọi hiện tượng của tự nhiên đều biểu lộ cảm xúc của trời hoặc mang ý nghĩa như một lời cảnh báo của trời đối với nhà vua, đất nước. Nếu nhà vua thực hiện đúng ý trời, dùng “đức” để cai trị thì trời sẽ cho mùa màng bội thu, còn nếu nhà vua làm trái với ý trời thì trời sẽ giáng thiên tai xuống để cảnh cáo, trừng phạt. Bên cạnh quan điểm 10 duy tâm, Nho giáo cũng có những quan điểm duy vật để giải thích cho sự vận hành của thế giới như quan điểm về âm dương, ngũ hành,… Ở Quan niệm về bản chất, bản tính của của con người. Các nhà Nho chủ yếu tập trung bàn về vấn đề bản tính của con người. Nếu Khổng Tử và Mạnh Tử cho rằng con người sinh ra vốn mang tính thiện, tính ngay thẳng thì Tuân Tử lại cho rằng, bản chất của con người là vô lại, bởi con người luôn bị dục vọng chi phối nên không có việc ác nào mà con người không làm. Tuy có cách lý giải khác nhau về bản tính con người nhưng Khổng Tử, Khổng Tử, Tuân Tử đều hướng đến mục đích hướng thiện cho con người và họ đều đề cao việc tu dưỡng đạo đức của mỗi cá nhân. Từ Đổng Trọng Thư trở đi, một quan niệm nữa về bản tính của con người xuất hiện, nhiều nhà Nho cho rằng ở con người tồn tại cả thiện và ác. Họ đưa ra quan điểm về tính tam bậc, trong đó, toàn thiện chỉ có ở bậc thánh nhân, quân tử đây là những người làm nhiệm vụ cai trị xã hội và giáo hóa con người. Vừa thiện vừa ác thì xuất hiện ở tầng lớp trung gian như tầng lớp trí thức, thương nhân,… Còn những người toàn ác chính là hạng tiểu nhân, đây là đối tượng của giáo dục, giáo hóa. Tóm lại, trong quan niệm của Nho giáo, con người con bản tính và tính ấy do trời quy định, phú cho con người nhưng tính người có thể thay đổi dựa vào việc tự tu dưỡng đạo đức của mỗi con người. Từ quan niệm về bản tính của, các nhà Nho đưa ra quan niệm về vai trò của con người đối với trời và trong các mối quan hệ. Đối với trời, họ cho rằng con người phải “Tri thiên mệnh, úy thiên mệnh”. Nghĩa là con người trước hết phải thành tính, tôn thờ và sợ trời để từ đó suy nghĩ, hành động theo ý trời, mệnh trời. Còn trong những mối quan hệ xã hội, Nho giáo phân chia thành 5 mối quan hệ cơ bản (ngũ luân), gồm có: vua – tôi, cha – con, chồng – vợ, anh – em, bạn – bè. Trong quan hệ vua – tôi thì đề cao “Quân nhân, thần trung”, nhà vua là người có quyền lực tối thượng, được trời ủy quyền cai quản xã hội nhưng nhà vua ấy phải là người có đạo đức, là tấm gương và thực hiện các chính sách để kiến tạo ra một xã hội có đạo đức. Vua phải thương yêu bề tôi như bậc làm cha, làm mẹ. Con bề tôi cũng cần tuyệt đối trung thành và thực hiện mọi mệnh lệnh của nhà vua đồng thời can gián những hành vi trái với đạo của nhà vua, giúp vua sửa đức và cai trị xã hội. Trong mối quan hệ cha còn thì coi trọng “Phụ từ, tử hiếu” nghĩa là người cha có trách 11 nhiệm dạy dỗ con thành người có đạo đức, còn người con có hiếu thì quan trọng nhất là thái độ thành kính. Trong mối quan hệ vợ chồng thì đề cao trách nhiệm yêu thương, chăm sóc lẫn nhau nhưng người chồng có vị trí, vai trò cao hơn, còn người vợ thì phải tuân theo đạo tam tòng, tứ đức. Còn trong mối quan hệ bạn bè thì đề cao sự tương đồng trong lối sống, giữa bạn bè cần có sự thành thật, thành tâm và giúp đỡ lẫn nhau để sửa đức. Từ việc chỉ ra vai trò của con người trong những mối quan hệ xã hội, Nho giáo muốn hướng tới việc xây dựng một xã hội thái bình, thịnh trị. Nho giáo cũng nhấn mạnh vai trò của con người là vô cùng quan trọng bởi con người cùng trời hóa sinh vạn vật nhưng con người trước hết phái có đạo đức. Nho giáo là một hình thức văn hóa ngoại lai được du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc với hai phương thức chủ yếu, theo gót chân xâm lược của các thế lực phong kiến phương Bắc và thông qua quá trình giao lưu văn hóa. Từ năm 179 tr.CN, khi nhà nước Âu Lạc rơi vào ách đô hộ của nhà Triệu, mở đầu một thời kỳ Bắc thuộc. Năm 111 tr.CN, nhà Hán thôn tính Nam Việt và biến Âu Lạc thành thuộc địa của nhà Hán. Từ thời Tây Hán, chính quyền đô hộ truyền bá Nho giáo vào nước ta để nô dịch nhân dân ta về mặt tư tưởng. Chúng có âm mưu biến Việt Nam thành một quận đồng thời Hán hóa dân ta về mặt tư tưởng, nhằm xóa bỏ văn hóa Việt Nam. Lúc nay, Nho giáo được sử dụng như một công cụ xâm lược nên bị phản đối gay gắt từ phía nhân dân Việt Nam, chống Nho giáo cũng đồng nghĩa với việc chống quân xâm lược. Chính vì lý do trên, trong thời Bắc thuộc, Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam. Ngoài con đường áp đặt, “cưỡng bức” văn hóa, Nho giáo cũng được du nhập thông qua những trí thức, lái buôn, nông dân Trung Quốc… Những tầng lớp này vì nhiều lý do khác nhau mà chuyển đến định cư tại nước ta đồng thời đem theo văn hóa của người Hán, trong đó có Nho giáo được biểu lộ trong lối sống, lối sinh hoạt của họ. So với Nho giáo được truyền tải trong sách vở thì Nho giáo đã được dân gian hóa này dễ dàng được nhân dân Việt Nam tiếp nhận hơn. Tuy nhiên, nó cũng không để lại nhiều dấu ấn trong ý thức hệ của nước ta, mà ngược lại, bộ phận những người phương Bắc định cư tại Việt Nam để thích nghi với thiên nhiên và xã hội, họ buộc phải thay đổi và tiếp nhận những nét văn hóa, lối sinh hoạt của nhân dân ta. 12 Từ sau thế kỷ VI, cùng với sự trưởng thành trong ý thức độc lập của dân tộc, sự tiếp thu những giá trị phù hợp của Nho giáo trở thành một nhu cầu thực tế của đất nước, tầng lớp trí thức bắt đầu nhận ra được sự cần thiết của tri thức Nho giáo đối với sự phát triển của xã hội nói chung và con người nói riêng. Lúc này, Nho giáo được sử dụng như một biện pháp chống quân xâm lược và sau là xây dựng, bảo vệ bộ máy nhà nước phong kiến Việt Nam. Sau chiến thằng Bạch Đằng, nhà nước phong kiến Việt Nam về cơ bản là một bộ máy nhà nước phong kiến trung ương tập quyền. Tuy nhiên, cơ sở kinh tế xã hội chưa tạo điều kiện phát triển thuận lợi cho Nho giáo. Hơn nữa chế độ thi cử Nho học chưa được áp dụng nên đội ngũ tri thức Nho giáo cũng chưa xuất hiện trong giai đoạn này. Sau Bắc thuộc, nhiệm vụ chủ yếu của dân tộc là khôi phục đất nước qua việc phát triển kinh tế nên Nho giáo cũng không được chú trọng. Đồng thời, trình độ và tầm hiểu biết của các vị vua nhà Ngô - Đinh - Tiền Lê còn nhiều hạn chế, nên họ chưa hiểu được tầm quan trọng của việc phát triển Nho giáo đối với bộ máy chính trị đương thời. Đến thời Lý – Trần, từ những chuyển biến về mặt kinh tế, xã hội, khả năng đáp ứng những nhu cầu xây dựng, tổ chức, quản lý xã hội và đặc biệt là nhu cầu phát triển văn hóa, giáo dục, Nho giáo ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò mình đối với triều đình phong kiến và đời sống tinh thần của nhân dân. Để có thể xây dựng, duy trì sự ổn định, phát triển của đất nước đồng thời đè bẹp những âm mưu xâm lược từ phía bên ngoài, các triều đình phong kiến buộc phải lựa chọn một lý luận, một hệ tư tưởng soi đường, làm chỗ dựa trong việc cai trị, quản lý đất nước. So với Phật và Đạo giáo, Nho giáo là học thuyết phù hợp nhất, có hiệu quả nhất để có thể đáp ứng những nhu cầu trên. Chính vì vậy mà, các triều đại phong kiến Lý – Trần và cả các triều đại phong kiến về sau đã lựa chọn Nho giáo với tư cách là học thuyết chính trị, xã hội để cai trị, quản lý đất nước và phát triển chế độ phong kiến về mọi mặt. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của Nho giáo đối với đời sống chính trị, xã hội, phong tục và nếp sống của nhân dân Việt Nam vẫn diễn ra hết sức chậm chạp. Đến thời nhà Trần, trong điều kiện phải củng cổ quyền lực nhà nước và tổ chức cuộc khảng chiến chống quân Nguyên – Mông, triều đình đề cao những quan niệm về đạo cương thường, nghĩa quân thần, trật tự trên dưới,.. nên việc học tập và thi cử Nho học được triển khai khá rầm rộ. Số lượng Nho sĩ gia tăng và chiếm phần đông 13 trong bộ máy tri thức Việt Nam đương thời. Trái ngược với sự phát triển của Nho giáo, Phật giáo bắt đầu biểu lộ những mặt hạn chế, nhiều nhà Nho đã đứng lên để phê phán sự duy đồi về mặt đạo đức của một bộ phận tăng ni, sự xa hoa, lãng phí tiền của và sức lực của nhân dân trong việc xây dựng nhà chùa và các nghi lễ tôn giáo. Đến thời nhà Hồ, Hồ Quý Ly đã mạnh tay công kích Phật giáo và suy tôn Nho giáo. Số lượng trường dạy Nho học gia tăng nhanh chóng và được mở đến tận cấp châu, huyện trong giai đoạn này. Chính vì thế nên sang đến thế kỷ XV, khi nhà nước Lê sơ được thành lập thì Nho giáo đã giành được vị trí độc tôn trong đời sống chính trị và tinh thần của dân tộc ta. Hệ tư tưởng Nho giáo được thể hiện trong nhiều chủ trương, chính sách của nhà nước phong kiến, qua đó thấm vào mọi lĩnh vực văn hóa, đạo đức của xã hội đương thời. Nó làm thay đổi cách ứng xử, giao tiếp và đưa ra những yêu cầu chặt chẽ, quy củ cho các nghi lễ, phong tục của cộng đồng làng xã Việt Nam. Thứ hai, Phật giáo và quá trình du nhập, phát triển của Phật giáo ở Việt Nam đến thế kỷ XVI: Phật giáo là một trào lưu triết học – tôn giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ VI TCN ở bắc Ấn Độ. Theo sử sách ghi lại, người sáng lập ra là Tất Đạt Đa, thái tử của vua Tịnh Phạn thuộc bộ tộc Sakiya. Tư tưởng Phật giáo mang nặng tính triết lý, đạo đức và nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa phương Đông nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng. Trước hết, trong quan niệm về bản thể của thế giới, khác với các hệ thống tư tưởng khác, Phật giáo cho rằng bản thể của thế giới chính là “tâm”. Ban đầu, cái “tâm” của Phật giáo mang trạng thái tĩnh, không có sự vận động và chính vì cái “tâm” ấy tĩnh nên cũng không có vũ trụ, vạn vật. Sự sinh thành của mọi sự vật, sự việc và hiện tượng trong thế giới này là do cái “tâm” đã chuyển sang trạng thái động. Theo quan niệm Phật giáo, thế giới này là luôn vận động, biến đổi, các biến đổi diễn ra nhanh như chớp mắt, và thế giới thì không có trước, không có sau, vô thủy, vô chung. Đó chính là lẽ vô thường, tức không có gì là tồn tại cố định, mọi thứ luôn biến đổi nhanh chóng và không ai có thể lường trước được những sự biến đổi ấy. Tuy nhiên những biến đổi này không phải tự dưng mà có, nó đều tuân theo luật nhân quả, nghiệp báo. 14 Nhân sinh quan Phật giáo xuất phát từ quan niệm cho rằng đời là bể khổ, bởi vì con người có sinh, lão, bệnh, tử. Hơn thế nữa, theo quan niệm luân hồi thì cuộc đời con người là một vòng tuần hoàn, liên tiếp từ kiếp này sang kiếp khác. Vậy nên, sau khi con người qua đời thì sẽ tái sinh, trải qua một kiếp sống khác để trả nợ cho cái nghiệp mà họ tạo ra ở kiếp trước. Sự luân hồi chỉ kết thúc khi con người trả hết nghiệp nhưng con người lại bị chi phối bởi những ham muốn nhục dục, tham, sân, si và để thỏa mãn cho những dục vọng đó, con người không ngừng tạo ra nghiệp. Cuộc đời còn là bể khổ do không biết thỏa mãn với những gì mình đang có, con người không thể sống thảnh thơi mà luôn bị dằn vặt bởi sự ham muốn, tham lam. Giáo lý của Phật giáo đã dùng thuyết Tứ Diệu Đế để lý giải về sự khổ trong cuộc đời con người. Trong đó, Khổ đế là chân lý về sự khổ, Tập đế là chân lý về nguyên nhân của sự khổ, Diệt đế là chân lý về sự chấm dứt các nỗi khổ và Đạo đế là chân lý về con đường diệt khổ. Để thoát khỏi sự khổ đau, đạt tới cõi niết bàn thì Phật giáo khuyên con người tu tập theo Bát chính đạo, gồm có: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tịnh tiến, chính niệm, chính định. Bát chính đạo là con đường Đức Phật đã chỉ ra để con người có được trí tuệ diệt trừ vô minh, phá vòng luân hồi sinh tử, vừa thực hành tu tập diệt trừ tham dục, đạt đến sự giải thoát. Về thời điểm Phật giáo truyền vào Việt Nam, đến nay tuy chưa có những cứ liệu chính xác, song hầu hết các học giả đều cho rằng, Phật giáo truyền vào Việt Nam khá sớm, khoảng thế kỷ II sau Công nguyên. Phật giáo truyền bá vào nước ta chủ yếu theo hai nguồn: Một, từ các vị sư Trung Hoa sang lánh nạn ở miền Bắc nước ta khi Hán triều có nội loạn ở thế kỷ thứ II và thế kỷ thứ III; Hai, từ các thiền sư từ Ấn Độ trực tiếp sang truyền đạo và lập nên các thiền phái ở nước ta từ thế kỷ thứ II và III kéo dài nhiều đời. Phật giáo bắt đầu xuất hiện ở nước ta trong thời Bắc thuộc, đây là thời kỳ nhân dân ta phải sống dưới ách đô hộ, áp bức và bóc lột của nhà nước phong kiến phương Bắc. Vậy nên người dân Việt Nam có ý thức sâu sắc về nỗi khổ của con trong thế tục, đây chính là điểm tương đồng với nhân sinh quan Phật giáo. Hơn thế nữa, Phật giáo du nhập vào nước ta với tinh thần từ bi, hỷ xả, cứu khổ cứu nạn, các nhà sư là người truyền giáo đồng thời làm công việc cứu tế, chữa bệnh cho dân chúng. Chính điều ấy khiến cho Phật giáo nhanh chóng nhận 15 được thiện cảm từ phía nhân dân Việt Nam và dễ dàng hòa nhập vào đời sống văn hóa, tinh thần của dân tộc. Trong thời kỳ Bắc thuộc, Phật giáo dần lan tỏa trong đời sống tinh thần của nhân dân, được biểu lộ trong các câu chuyện cổ tích về một vị Bụt, người luôn xuất hiện để cứu giúp những người gặp phải hoàn cảnh đau khổ, bất công. Sang đến triều đại nhà Đinh và Tiền Lê, khi nền độc lập còn non trẻ, các vị vua tuổi đời và trình độ học thức cũng không cao đã mời các Thiền sư uyên bác, đạo pháp cao thâm vào triều làm cố vấn chính trị và ngoại giao. Những thiền sư tiêu biểu của giúp sức cho các nhà vua Đinh – Tiền Lê gồm có Khuông Việt, Ngô Chân Lưu, Pháp Thuận,… Phật giáo thời kỳ được suy tôn và truyền bá rộng rãi trên khắp cả nước, nó lan rộng về mặt không gian cũng như sự thấm sâu trong đời sống tinh thần của người Việt, bước đầu chiếm được vị trí vững chắc trong xã hội thế kỷ X. Thời kỳ Lý – Trần là thời kỳ phát triển đỉnh cao của Phật giáo tại Việt Nam tuy nhiên đến cuối thời nhà Trần, Phật giáo bắt đầu cho thấy sự suy yếu và mặt hạn chế của mình thông qua những biểu hiện xa hoa, lãng phí và đặc biệt là sự xuống cấp về mặt đạo đức của một bộ phận nhà sư. Từ đây, Phật giáo dần nhường chỗ cho Nho giáo trong lĩch vực chính trị và tồn tại với tư cách là một tôn giáo trong đời sống tinh thần, đời sống tâm linh của nhân dân Việt Nam. Thứ ba, Đạo giáo và quá trình du nhập, phát triển của Đạo giáo ở Việt Nam đến thế kỷ XVI: Đạo giáo là một nhánh triết học và tôn giáo Trung Quốc, nó là một trong Tam giáo tồn tại từ thời Trung Quốc cổ đại, song song với Nho giáo và Phật giáo. Cũng như Nho và Phật giáo, Đạo giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến nền tảng văn hoá dân tộc của nhiều nước phương Đông, tiêu biểu nhất là Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản. Trong quan niệm của Đạo giáo về vũ trụ, vạn vật thì bản nguyên của vũ trụ và vạn vật là Đạo. Đạo là thể vô hình vô tướng, không sinh không diệt, hằng hữu đời đời. Sở dĩ người ta không thấy được Đạo là vì nó là những nguyên tố rời rạc, chưa kết thành hình tượng. Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật. Trong đó, một là Thái cực, hai là Âm Dương, ba là Tam Thiên Vị. Âm và Dương vừa xung đột vừa hòa hợp với nhau, tạo thành trời đất, vũ trụ và vạn vật. Vậy nên 16 trong vạn vật đều có Âm và Dương. Theo Đạo giáo, trước khi vũ trụ thành hình, trong khoảng không gian hư vô bao la, có một chất sinh rất huyền diệu, gọi là Đạo. Đạo biến hóa ra Âm – Dương, Âm - Dương tạo ra vũ trụ và vạn vật. Vạn vật được hóa sinh ra, tác động với nhau, phồn thịnh với nhau, rồi cuối cùng tan rã để trở về trạng thái không vật không hình, tức là trở về nguồn gốc của nó là Đạo. Về nhân sinh quan, Đạo giáo cho rằng, đạo trời không thân ai, không sợ ai. Trời Đất sinh ra muôn vật, cây cỏ, chim muông, nhân loại cốt để các sinh vật khắc chế lẫn nhau, nuôi dưỡng nhau, bổ trợ nhau để cùng tồn tại. Theo Đạo giáo, con người không nên ham mê danh lợi, quá coi trọng cái xác thịt của mình mà hãy sống một cách bình thản, vô lo, vô nghĩ, thuận theo tự nhiên. Chính từ quan niệm đó, Đạo giáo khuyên con người chọn lối sống vô vi, bất tranh để hòa hợp với thiên nhiên, vạn vật. Khi nói về sự du nhập của Đạo giáo vào Việt Nam, không có tài liệu nào chỉ ra thời gian cụ thể tôn giáo này được truyền bá tại nước ta, chỉ có thể biết rằng Đạo giáo bắt đầu xuất hiện dưới thời Bắc thuộc. Đạo giáo truyền sang Việt Nam, chia thành hai phái: Đạo giáo Phù thủy dùng pháp thuật trừ tà, trị bệnh giúp người dân quê khỏe mạnh, và Đạo giáo Thần tiên dạy tu tiên, luyện thuốc trường sinh bất tử cho giới quí tộc. Ngay từ khi đạo Nho chưa có cơ sở xã hội ở nước ta, thì Đạo Phù thủy nhờ sự tương đồng với các ma thuật phù phép địa phương, nên đã bắt đầu phát triển rộng rãi từ đời Tiền Lê. Thời xa xưa, người Việt ta thường dùng bùa chú, họ tin rằng có thể trị tà ma, chữa bệnh, sai âm binh, tàng hình, v.v. Một số nhà sư cũng phải học phù phép, chữa bệnh, đuổi tà nhằm tạo uy tín, lòng tin với dân chúng để có thể truyền bá Phật giáo dễ dàng. Ở thời Đinh – Tiền Lê, Đạo giáo cũng được tôn trọng và đề cao giống như Nho giáo. Bên cạnh các thiền sư thì nhà vua cũng cho mời các vị đạo sĩ uyên bác vào triều đình để giúp sức cho vua. Đến ưới thời Lý - Trần, hình thức khoa thi tam giáo chứng tỏ rằng các tư tưởng của Đạo giáo cũng được coi trọng như Phật giáo và Nho giáo. Trong đó, Đạo giáo ảnh hưởng chủ yếu đến các nhà tư tưởng bởi học thuyết của nó có hàm lượng triết học cao, đó là những vấn đề bản thể luận, nhận thức luận về “Đạo” và “Đức”, về quy luật vận động và biến đổi của các sự vật hiện tượng trong thế giới. Bên cạnh các quan niệm của Đạo giáo về bản thể luận, vũ trụ 17
- Xem thêm -