Tài liệu Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thpt qua giờ học làm văn nghị luận xã hội

  • Số trang: 17 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 357 |
  • Lượt tải: 0
nguyenvanhung1009

Đã đăng 2767 tài liệu

Mô tả:

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT NGUYỄN HOÀNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN ĐỀ TÀI GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THPT QUA GIỜ HỌC LÀM VĂN NGHỊ LUẬN Xà HỘI Người thực hiện: Nguyễn Thị Thắng Chức vụ: Giáo viên SKKN thuộc lĩnh vực môn : Văn THANH HOÁ NĂM 2013 1 A. PHẦN MỞ ĐẦU. I. Lý do chọn đề tài. 1. Lý do kh¸ch quan: Trong những năm gần đây vấn đề kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống đang là vấn đề “nóng” được giới nghiên cứu và xã hội quan tâm ,nhất là trước tình trạng báo động về nhân cách,đạo đức ,lối sống của một bộ phận giới trẻ hiện nay.Tuy nhiên giáo dục kỹ năng sống cần cả một quá trình giáo dục từ gia đình đến nhà trường và cả xã hội. Trong đó có thể nói giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường theo chủ trương của Bộ giáo dục và đào tạo là một trong nhiều con đường hình thành kỹ năng sống ở mỗi người, nhưng giáo dục kỹ năng sống theo con đường giáo dục nhà trường sẽ đảm bảo vai trò chủ đạo của giáo dục và có thể đem lại hiệu quả cao hơn nhờ tính khoa học và tính chuyên nghiệp của nó. Thế nhưng tình hình chung ở các trường phổ thông hiện nay là phần lớn thời gian dạy học đều dành hết cho các môn học chính khóa còn kỹ năng sống ít được quan tâm, có chăng là đưa vào lồng ghép với các hoạt động khác như hoạt động ngoại khóa, hoạt động ngoài giờ lên lớp…và thường có tính hình thức, làm chiếu lệ. Giáo dục cần phải hướng đến một chương trình toàn diện, dạy học là dạy cả tri thức, kỹ năng và thái độ sống để học sinh có thể hội nhập , thích nghi với thế giới. Môn Ngữ văn là môn học có những khả năng đặc biệt trong giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, bởi đây là một môn khoa học xã hội và nhân văn, môn học không chỉ cung cấp những trí thức về xã hội, văn hóa, lịch sử, đời sống nội tâm của con người mà còn giúp học sinh có năng lực giao tiếp, nhận thức về xã hội, con người, bồi dưỡng năng lực tư duy, làm giàu xúc cảm thẩm mĩ và định hướng thị hiếu lành mạnh để hoàn thiện nhân cách. Từ khi thuật ngữ “kĩ năng sống” và vấn đề giáo dục kỹ năng sống được đặt ra như một vấn đề cấp bách của thời đại thì dạy học Ngữ văn được nhìn nhận một cách hệ thống hơn, người giáo viên khi thiết kế bài học thường có ý thức hơn trong việc lồng ghép kỹ năng sống vào trong môn học làm sao vừa đảm bảo kiến thức cơ bản vừa giáo dục được kỹ năng sống cho học sinh. Đối với các tiết học đọc- hiểu văn bản vì thời 2 gian có hạn nên phần lồng ghép kỹ năng sống thường không nhiều và người giáo viên không có hoặc rất ít thời gian để lắng nghe những phản hồi từ phía học sinh và kịp thời uốn nắn , hình thành những kỹ năng tích cực. Trong khi đó các giờ học làm văn do đặc thù của phân môn, giáo viên có nhiều thời gian để hình thành cho học sinh kỹ năng làm văn, kỹ năng sống. Đặc biệt là các giờ học làm văn nghị luận xã hội thường gợi nhiều hứng thú, hấp dẫn đối với học sinh bởi các em có thể trình bày quan điểm, những suy nghĩ của riêng cá nhân mình. Người giáo viên qua đó có thể nắm bắt được suy nghĩ, quan điểm của học sinh, từ đó hướng các em đến một lối sống tốt, có ý nghĩa… Vì vậy giáo dục kỹ năng sống cho học sinh qua các tiết học làm văn nghị luận xã hội có thể phát huy được tính tích cực, những giá trị tốt đẹp và đánh thức tiềm năng con người ở mỗi học sinh. 2. Lý do chủ quan. Trong quá trình giảng dạy bản thân tôi luôn cố gắng lồng ghép kỹ năng sống qua các giờ học và nhận thấy học sinh rất có hứng thú, giờ học sôi nổi khi có phần lồng ghép ấy. Các em có cơ hội để bày tỏ ý kiến, suy nghĩ của mình, tranh luận với các bạn cùng lớp, với giáo viên và từ đó có hứng thú với môn học, tự tin hơn khi bày tỏ quan điểm của mình trước đông người … Đặc biệt đối với các tiết làm văn nghị luận xã hội và khi chấm bài văn nghị luận xã hội tôi nhận thấy bên cạnh những em có suy nghĩ lành mạnh, trong sáng vẫn còn có những em có suy nghĩ ngô nghê, lệch lạc, thực dụng, sống không mục đích, không lý tưởng mà bằng lòng với cuộc sống hiện tại… Trong đó có những suy nghĩ khiến người đọc “giật mình”, thậm chí “báo động” về nhân cách của học sinh hiện nay. Điều đó khiến tôi luôn trăn trở và nhận thấy rằng cần phải uốn nắn cho học sinh ngay từ suy nghĩ, tư tưởng, định hướng những điều tốt đẹp rồi từ đó hướng học sinh đến những chân trời mới, sống có mục đích, có lý tưởng. Giáo dục kỹ năng sống qua các bài văn nghị luận xã hội là một phương pháp giáo dục theo kiểu “mưa dầm thấm lâu” hy vọng với sự định hướng của giáo viên, tâm huyết và lương tâm nghề nghiệp của thầy, cô giáo sẽ góp phần 3 vào việc hoàn thiện nhân cách của học sinh, để các em trở thành những con người năng động, có hành vi ứng xử một cách đúng mực, có văn hóa, chấp hành luật pháp và có thể thích ứng nhanh với các yêu cầu, đòi hỏi và hoàn cảnh trong cuộc sống. Theo đúng nhiệm vụ và mục tiêu giáo dục được Đảng xác định: “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha, gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường, xây dựng và bảo vệ tổ quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính kỷ luật và có sức khỏe, là những người kế thừa xây dựng CNXH vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ.” Với mong muốn góp một ý kiến nhỏ vào giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, giúp các em tự tin, đối phó với yêu cầu của cuộc sống hiện đại tôi chọn đề tài: “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT qua giờ học làm văn nghị luận xã hội”. II. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài. 1. Mục đích: - Áp dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào các tiết làm văn để hình thành kỹ năng sống cho học sinh. 2. Nhiệm vụ nghiên cứu. - Tổ chức, hướng dẫn học sinh hình thành một số kỹ năng sống cần thiết. - Áp dụng vào một số tiết thực hành làm văn Nghị luận xã hội. III. Phương pháp nghiên cứu. 1. Nghiên cứu lí thuyết. - Đọc tìm hiểu và nghiên cứu các tài liệu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống trong môn Ngữ văn. - Đọc nghiên cứu các bài làm văn trong chương trình lớp 11,12. 2. Nghiên cứu thực tiễn. 4 - Thực hiện giáo dục kĩ năng sống trong các bài làm văn nghị luận xã hội trong chương trình lớp 11,12 - So sánh đối chiếu kết quả giảng dạy ở 2 lớp khác nhau. - Đánh giá thái độ, hành vi ứng xử của học sinh. 5 B. GIẢI QUYẾT VẦN ĐỀ I. Cơ sở lý luận: Đặc thù của môn Ngữ văn là một môn học vừa cung cấp kiến thức khoa học về xã hội, văn hóa, lịch sử, môi trường, nội tâm con người vừa hình thành cho học sinh kỹ năng làm văn, trình bày một vấn đề, vừa có thể giáo dục kỹ năng sống. Môn Ngữ văn hiện tại có ba phân môn: Đọc- hiểu văn bản, làm văn và Tiếng Việt. Trong đó giờ đọc – hiểu văn bản chiếm nhiều thời lượng nhất và phần lớn giáo viên dạy Ngữ văn cũng rất chú trọng đến phần này vì bên cạnh tính hấp dẫn của văn bản văn học thì phần này còn liên quan đến nội dung kiểm tra đánh giá, thi cử… Bởi vậy giờ học thường mang tính hàn lâm, giáo viên thường hướng dẫn học sinh tìm hiểu những giá trị của tác phẩm văn chương, khi kiểm tra đánh giá học sinh thường tái hiện lại những gì mà thầy cô đã trình bày. Cùng với sự có mặt tràn lan của những tài liệu tham khảo, bài văn mẫu, học sinh không có cơ hội hoặc không tự tin xen vào đó những suy nghĩ độc lập của mình cho nên nói “văn là người” nhưng thực ra trong suốt thời gian dài học sinh thường vay mượn suy nghĩ của người khác, thiếu tư duy độc lập và sáng tạo. Bản thân người giáo viên khi dạy những văn bản văn học cũng muốn phá cách, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh theo kiểu người Mỹ dạy học bài “Cô bé lọ lem” (Nguồn Internet) nhưng lại sợ “lệch chuẩn” và khi kiểm tra đánh giá học sinh sẽ không có kiến thức để làm bài. Thế nên giáo dục kỹ năng sống qua giờ đọc- hiểu văn bản chỉ mang tính hình thức. Từ khi thay sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy- học, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá, mảng văn nghị luận xã hội thường được xem là hay, thường thu hút sự quan tâm, chú ý, hứng thú của học sinh, giờ luyện tập hay khi kiểm tra đánh giá có đề văn nghị luận xã hội bao giờ cũng kích thích được tư duy sáng tạo, tính tích cực, chủ động của học sinh . Được sự khuyến khích của giáo viên, những ý kiến của các em được lắng nghe, được tôn trọng, được tán dương… điều đó khiến các em phấn khởi, tự tin và sẽ tự giác, tích cực trình bày những suy nghĩ cá nhân .“Mưa dầm thấm lâu”, qua một thời gian khi 6 các em đã quen với cách học như vậy thì sẽ có niềm say mê hứng thú đối với môn học và tự hình thành các kỹ năng: Kỹ năng trình bày một vấn đề và các kỹ năng sống. Bởi vậy trong quá trình dạy học môn Ngữ văn, đặc biệt các giờ làm văn nghị luận xã hội, để giờ học không còn mang tính khuôn mẫu, sơ cứng, tôi luôn cố gắng xây dựng giờ học có ý nghĩa tích cực, để rồi sau mỗi giờ học các em thấy mình đã học được cái gì và mong đợi những tiết sau đó. 1. Các biện pháp giáo dục kỹ năng sống qua giờ học làm văn nghị luận xã hội. Để học sinh có thể nói lên những suy nghĩ của mình người giáo viên phải biết khơi gợi, dẫn dắt hướng học sinh đến cái đích cuối cùng của bài học và để làm được điều đó giáo viên phải kết hợp nhiều biện pháp dạy học tích cực như: Kỹ thuật đặt câu hỏi, phương pháp thảo luận nhóm, vẽ sơ đồ tư duy, chấm, trả bài kiểm tra cho học sinh. 2. Kỹ năng sống. Kỹ năng là năng lực làm cái gì đó .Có nhiều quan niệm về kỹ năng sống : - Theo tổ chức y tế thế giới WHO : Kỹ năng sống là khả năng có hành vi thích ứng và tích cực giúp cá nhân giải quyết có hiệu quả với những đòi hỏi và thách thức của cuộc sống hàng ngày. - Theo người Palestin: Kỹ năng sống là năng lực mà chúng ta cần để giải quyết những vấn đề tồn tại của chúng ta, vượt qua áp lực, tìm kiếm sự thay đổi tích cực và khuyến khích những điều tích cực hiện có nhằm mục đích cải thiện tình huống của chúng ta và đạt được sự an ninh, hòa bình, hài hòa với xã hội và môi trường. - Theo từ điển Wikipedia: Kỹ năng sống là tập hợp các kỹ năng của con người có được qua việc học hoặc trải nghiệm trực tiếp trong cuộc sống dùng để giải quyết những vấn đề mà con người phải đặt ra trong cuộc sống hàng ngày. - Theo UNESCO, tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục liên hợp quốc:Kỹ năng sống gắn liền với bốn trụ cột giáo dục là: Học để biết gồm các kỹ năng tư duy như: Tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết 7 vấn đề, nhận thức được hậu quả… học để làm người gồm các kỹ năng như: Ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin… học để sống với người khác gồm các kỹ năng xã hội như giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định , làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông. Học để làm gồm các kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: kỹ năng đặt mục tiêu, đảm bảo trách nhiệm… Nói tóm lại kỹ năng sống bao gồm một loạt các kỹ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người. Bản chất của kỹ năng sống là kỹ năng tự quản lý bản thân và kĩ năng cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Nói cách khác kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác, với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. 3Giải pháp tổ chức và thực hiện Có rất nhiều kỹ năng sống và chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau không thể tách rời. Bởi thế trong một tiết học khi giáo viên nêu vấn đề hướng đến hình thành cho học sinh một kỹ năng nào đó thì đồng thời qua quá trình tiếp nhận, học sinh sẽ tự hình thành cho mình những kỹ năng khác. Ví dụ: Khi học bài “Thao tác lập luận phân tích”, Giáo viên nêu vấn đề “tư ti và tự phụ là hai thái độ trái ngược nhau nhưng đều ảnh hưởng không tốt đến kết quả học tập và công tác. Anh chị hãy phân tích hai căn bệnh trên”. Học sinh sẽ phân tích những biểu hiện cũng như tác hại của lối sống tự ti và tự phụ, lấy ví dụ chứng minh, sau đó các em sẽ đề xuất những thái độ sống hợp lý có thể giúp hoàn thiện nhân cách và thành công trong cuộc sống. Sau khi cho học sinh tự do phát biểu, bình luận về hai thái độ sống nói trên, tự rút ra bài học nhận thức, hành động, giờ học đó giáo viên đã hình thành được cho học sinh kỹ năng sống: - Kỹ năng nhận thức,kĩ năng xác định giá trị bản thân: Là khả năng hiểu những giá trị của bản thân mình: Khả năng, sở trường, sở thích, điểm yếu… để từ đó có những ứng xử phù hợp, hiệu quả với người khác, cảm thông với mọi 8 người, tôn trọng giá trị của mọi người, có quyết định đúng đắn, phù hợp với bản thân. - Kỹ năng kiểm soát cảm xúc: Hiểu được cảm xúc của mình và ảnh hưởng của những cảm xúc ấy với mọi người, với công việc để biết điều chỉnh cảm xúc, giảm căng thẳng, nâng cao hiệu quả giao tiếp, trách mâu thuẫn, ra quyết định sáng suốt. - Kỹ năng thể hiện sự tự tin: Có niềm tin vào bản thân, cảm thấy mình là người có ích, có khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Giúp các em giao tiếp hiệu quả, mạnh mẽ, quyết đoán trong giải quyết vấn đề, lạc quan trong cuộc sống. Đồng thời với những kỹ năng trên, học sinh có thể tự hình thành các kỹ năng khác như kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp… Ngoài ra sau mỗi bài học như vậy, kỹ năng trình bày một vấn đề của học sinh cũng được rèn luyện, các em sẽ cảm thấy tự tin và có khả này nhìn nhận và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo. Khi dạy -học bài: “Thao tác lập luận bác bỏ”giáo viên nêu vấn đề:Có ý kiến cho rằng :”vào đại học là con đường lập thân duy nhất”.Ý kiến của anh chị?Học sinh sẽ vận dụng thao tác lập luận bác bỏ để bác bỏ quan niệm trên.Sau bài học các em sẽ có được kĩ năng lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân sao cho phù hợp với năng lực ,sở trường ,điều kiện gia đình và nhu cầu của xã hội;có kĩ năng ra quyết định;kĩ năng thể hiện sự tự tin,quyết đoán… Hoặc với bài học “Nghị luận về một tư tưởng đạo lí”giáo viên lựa chọn các vấn đề liên quan đến những phẩm chất đạo đức tốt đẹp,những câu chuyện hay về tình yêu cuộc sống…làm tiền đề để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Không chỉ giáo dục học sinh từ từ tưởng, quan niệm mà còn hướng đến giáo dục cả thái độ, hành vi ứng xử trong cuộc sống. Hàng ngày học sinh thường được tiếp xúc với muôn mặt của cuộc sống đời thường và không phải em nào cũng có khả năng “miễn nhiễm” với cái xấu, cái tiêu cực nhất là do tâm lý lứa tuổi, học sinh THPT thường dễ bị tác động bởi môi trường bên ngoài, một chút sơ xẩy có thể hủy hoại cả tương lai của các em. Đối với vấn đề này, giáo dục tư 9 tưởng chưa đủ mà người giáo viên cần giáo dục cả hành vi,lối sống.Để làm được điều đó biện pháp tốt nhất là tạo dư luận xã hội: Tức là tạo sức mạnh của dư luận tập thể tác động đối với cá nhân. Để tạo được những dư luận lành mạnh người giáo viên cần lôi cuốn học sinh tham gia vào những cuộc thảo luận tập thể về các hiện tượng tiêu biểu trong đời sống của lớp,của trường…hướng dẫn các em đánh giá đúng các sự kiện đó, cùng có thái độ phê phán cái xấu… là tập thể đã hình thành được dư luận lành mạnh. Ở lứa tuổi này các em rất sợ bị cô lập, bị tẩy chay nên nếu tạo được một môi trường học tập lành mạnh thì sẽ có ảnh hưởng tốt đến nhân cách của mỗi con người cụ thể. Ví dụ dạy bài “Nghị luận về một hiện tượng đời sống” giáo viên cho học sinh thảo luận về một đề tài nào đó: tình yêu học trò, bạo lực học đường, biến đổi khí hậu và hành động của chúng ta, Internet, Facebook… Đây là những vấn đề xảy ra hàng ngày nên các em sẽ rất hứng thú và thảo luận sôi nổi. Chỉ cần một câu hỏi “nên hay không nên yêu ở tuổi học trò ?” sẽ nhận được rất nhiều ý kiến trái ngược nhau. Có những ý kiến rất thật kiểu như “Tình yêu ở tuổi học trò sẽ ảnh hưởng nhiều đến học tập nhưng khi gặp một người bạn khác giới mà mình thích, không thể không nghĩ đến họ rồi nhớ thương, yêu lúc nào không hay. Khi đã yêu rồi thì chuyện học chỉ còn là thứ yếu thôi ạ.” Hoặc “ tất cả các bạn có người yêu, mình không có thì “quê” lắm ”….Người giáo viên cần lắng nghe và phân tích định hướng để học sinh có những hiểu biết về bản thân mình, những biến đổi tâm sinh lý, cách ứng xử có văn hóa trong tình yêu và đồng ý với những ứng xử tích cực của học sinh, cùng tập thể phê phán những lối ứng xử chưa hợp lý, phản cảm… Ngoài ra việc chấm, trả bài cho học sinh cũng rất quan trọng, nhiều giáo viên chỉ chú trọng dạy văn bản, dạy lý thuyết, khi chấm bài thì qua loa, không phê hoặc có những lời phê lạnh lùng, vô cảm, bỏ qua giờ trả bài. Trong khi đó học sinh sợ học văn một phần do những lời phê vô cảm ấy, điểm cũng quan trọng nhưng nếu giáo viên đọc kỹ bài làm của học sinh có những lời phê đúng sẽ kích thích được hứng thú học tập, học sinh sẽ cảm nhận được tình cảm, sự trân 10 trọng của giáo viên đối với những suy nghĩ của mình, sẽ tự tin trình bày ý tưởng. Qua đó giáo viên cũng có thể uốn nắn, hình thành kỹ năng sống cho học sinh. Như vậy khác với nghị luận văn học, học sinh dễ dàng “đạo văn” nghị luận xã hội buộc các em phải tư duy, phải giải quyết vấn đề theo quan điểm riêng của mình nên giáo viên có thể giáo dục kỹ năng sống cho các em một cách thuận lợi. Tuy nhiên để tạo hứng thú và hiệu quả trong giáo dục kỹ năng sống, người giáo viên cũng phải đặt ra các vấn đế thực sự là mới, “nóng” mà học sinh và xã hội quan tâm, tránh trường hợp đi theo lối mòn, những vấn đề đã quá cũ, xa lạ với học sinh, không hợp xu thế của thời đại, đều không có tác dụng bởi kỹ năng sống là khả năng ứng phó nhanh với các yêu cầu và đòi hỏi của hoàn cảnh sống. Tạo thói quen tư duy sáng tạo, tích cực, chủ động trong các giờ học làm văn nghị luận xã hội là hình thành thói quen tích cực. Nhờ thói quen mà ý nghĩ có thể trở thành niền tin, từ đó niền tin trở thành hành động. 11 II. Giáo án thực nghiệm: Tiết 12: Làm văn: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG A. Mục tiêu bài học: Giúp học sinh: -Biết vận dụng các thao tác lập luận để làm tốt bài nghị luận về một hiện tượng đời sống. -Có ý thức và thái độ đúng đắn trước các hiện tượng đời sống. B. phương pháp giảng dạy. - Vấn đáp- diễn giảng- thực hành C. Phương tiện thực hiện. - Giáo viên: Thiết kế bài học, chuẩn kiến thức kỹ năng, tài liệu tham khảo,máy chiếu project… - Học sinh: Sách giáo khoa, vở, bài soạn. D. Tiến trình dạy học. 1. Kiểm tra bài cũ. 2. Bài mới: Hoạt động của thầy và trò Nội dung kiến thức Hoạt động 1: Tìm hiểu về cách làm I.Cách làm bài nghị luận về một hiện bài văn nghị luận về một tư tưởng tượng đời sống. đạo lý. 1. Tìm hiểu đề và lập dàn ý: Giáo viên cho học sinh đọc tư liệu a.Tìm hiểu đề: tham khảo SGK trang 69. -Hiện tượng được nêu trong bài:Chia ?Đề bài yêu cầu nghị luận về hiện chiếc bánh thời gian của các bạn trẻ tượng gì?Có mấy luận điểm? hôm nay. -Luận điểm:+Việc làm của Nguyễn Hữu Ân. +Đây là lối sống đẹp của thanh niên hiện nay. ?Bài viết sử dụng những dẫn chứng -Dẫn chứng:+Đưa ra một số việc làm 12 minh họa nào?Em có nhận xét gì về có ý nghĩa của thanh niên hiện nay như những dẫn chứng ấy? Nguyễn Hữu Ân… . +Đưa ra một số việc làm đán phê phán của thanh niên học sinh… Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào b.Lập dàn ý: phần gợi ý trong SGK để thảo luận Mở bài:Nêu hiện tượng cấn bàn luận: nhóm và trình bày dàn ý. Thân bài: Giáo viên chốt lại bằng slide. -Nguyễn Hữu Ân đã dành hết thời gian của mình cho những người bị bệnh ung thư giai đoạn cuối. -Phân tích:Đây là hiện tượng có ý nghĩa giáo dục rất lớn đối với thanh niên học sinh hiện nay. -Bình luận :+Biểu dương việc làm của Nguyễn Hữu Ân. +Phê phán một vài hiện tượng tiêu cực trong lối sống lãng phí thời gian vào những trò vô bổ của một bộ phận thanh niên, học sinh. Kết bài:Bày tỏ suy nghĩ riêng của người viết đối với hiện tượng trên. ?Qua ví dụ trên em hãy rút ra cách làm 2.Cách làm bài nghị luận về một hiện bài văn nghị luận về một hiện tượng tượng đời sống: đời sống? -Nghị luận về một hiện tượng đời sống Học sinh trả lời,Giáo viên chốt lại bằng là bàn về một hiện tượng có ý nghĩa slide. đối với xã hội. -Bài nghị luận cần nêu rõ hiện tượng ,phân tích các mặt đúng ,sai,chỉ ra 13 nguyên nhân và bày tỏ thái độ ,ý kiến của người viết. -Ngoài việc vận dụng các thao tác lập luận phân tích ,so sánh,bác bỏ,bình luận …người viết cần diễn đạt giản dị,ngắn gọn,trong sáng… Hoạt động 2: Luyện tập Học sinh thảo luận nhóm và trình bày. III.Luyện tập: ?Phần mở bài cần giới thiệu vấn đề gì? Đề bài: Facebook và giới trẻ ngày nay? Mở bài: - Hiện tượng sử dụng Facebook của giới trẻ ngày nay. ?Em biết gì về facebook? Thân bài: 1.Giải thích:Facebook là một trang mạng xã hội chứa đựng những thông tin cá nhân,giúp kết nối bạn bè,chia sẻ thông tin… ?Facebook có những ưu điểm và hạn 2.Phân tích: chế gì? -Ưu điểm: với tuổi trẻ Facebook không còn là chốn riêng tư mà trở thành một không gian mở rất thú vị, nơi để họ quan tâm chia sẻ, động viên và khích lệ lẫn nhau, khiến cuộc sống trở nên có ý nghĩa… -Hạn chế:+ Lối suy nghĩ cực đoan theo “Hiệu ứng đám đông, ngôn từ” “không trong sạch” + Tốc độ lan truyền nhanh- ảnh hưởng không tốt đến giới trẻ. 14 +Là “Kẻ cắp thời gian” suốt ngày vùi đầu vào Facebook , sao nhãng học tập, sức khỏe suy giảm, ảnh hưởng chất lượng học tập… ? Nguyên nhân nào dẫn đến những -Nguyên nhân:+Do thói quen kiểu hùa biểu hiện đáng tiếc đó ? vào đám đông của giới trẻ- chưa nhận thức đúng. +Gia đình (người lớn) thiếu sự quan tâm định hướng đối với nhận thức, suy nghĩ và cảm xúc cho giới trẻ. ? Vậy các em sử dụng Facebook như 3.Bài học nhận thức và hành động: thế nào ? Trước những Face không -Nhận thức và phát huy những ưu điểm lành mạnh thái độ em ra sao ? của Facebook . - Sử dụng hợp lý, có hiệu quả không Giáo viên Trình chiếu một số trang ảnh hưởng đến học tập. Facebook của một số học sinh, yêu - Có thái độ (phản ứng) đối với những cầu học sinh bình luận.Qua đó giáo Facebook không lành mạnh. dục kỹ năng sống cho học sinh: Kết luận: - Cần biết ứng xử có văn hóa, biết -Giới trẻ cần sử dụng facebook một kiểm soát chừng mực mỗi hành vi của cách hữu ích. mình, có thái độ cương quyết đối với cái xấu, cái tiêu cực… 3. Bài tập về nhà:-Cách làm bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống. -Hoàn thành đề bài trên. 15 III.Kết quả thực nghiệm: 1.So sánh kết quả giờ học: Lớp 12A8:không lồng ghép kỹ năng sống :giờ học trầm, học sinh không hứng thú,ít hoạt động và thường không tự tin khi trình bày một vấn đề trước tập thể. Lớp 12A4:Thực nghiệm lồng ghép kỹ năng sống trong các giờ học: Giờ học sôi nổi,học sinh có điều kiện bộc lộ mình,trình bày quan ®iÓm của mình một cách tự tin,sắc sảo và đặc biệt các em rất hứng thú với những tiết học như vậy. 2. So sánh kết quả bài kiểm tra: Sau khi thực nghiệm một số tiết học,chúng tôi tiến hành cho hai lớp làm bài kiểm tra một tiết.Kết quả kiểm tra tính trung bình như sau: Lớp Số Điểm 0-4 Điểm 5-6 Điểm 7-10 12A8 30 8 26,6% 17 56,7% 5 16,7% 12A4 30 0 0 16 53,3% 14 46,7% bài Đặc biệt lớp 12A4 :100% học sinh có suy nghĩ trong sáng ,tích cực, có hành vi ứng xử đúng mực,tự tin trình bày quan điểm của mình khi cần thiết… 3.Căn cứ vào đối chứng trên cho thấy áp dụng giáo dục kỹ năng sống trong các giờ học làm văn nghị luận xã hội là có thể và cho kết quả tốt.Kết quả một bài kiểm tra đánh giá chưa hẳn đã đánh giá hết năng lực của học sinh xong có thể khẳng định khi lồng ghép kĩ năng sống vào giờ học khiến học sinh say mê hứng thú hơn đối với môn học,phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh trong quá trình học,hướng học sinh đến với lối sống đẹp,hình thành thói quen tư duy độc lập…để các em có thể trở thành những con người năng động ,tự tin,có khả năng ứng phó với những tình huống xảy ra trong cuộc sống,làm chủ bản thân,trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước,sẵn sàng hội nhập với thế giới. 16 C KẾT LUẬN Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh cần phải có sự nhập cuộc của cả xã hội.Trong nhà trường vấn đề giáo dục kĩ năng sống đòi hỏi phải có hệ thống,tiến hành đồng bộ ở các môn học và bản thân các thầy giáo, cô giáo phải là một tấm gương sáng về đạo đức, tinh thần tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ. Nhà trường cần xây dựng được môi trường học tập “thân thiện” mà ở đó học sinh có thể phát huy được tính tích cực, chủ động trong học tập, để chiếm lĩnh tri thức và học hình thành các kỹ năng ứng phó với cuộc sống. Riêng đối với môn ngữ văn để khơi gợi được niềm say mê,tình yêu đối với môn học giáo viên dạy -học ngữ văn cần phải linh hoạt,đưa văn chương đến gần với cuộc sống hơn để học sinh nhận thấy rằng văn chương thực sự có ích cho cuộc sống. Trên đây là một vài sáng kiến của tôi đã áp dụng vào thực tế dạy học trong thời gian qua.Rất mong được trao đổi và góp ý của các thầy ,cô giáo để sáng kiến trên được hoàn thiện hơn và có thể ứng dụng hiệu quả hơn trong dạy học môn ngữ văn. Xác nhận của thủ trưởng đơn vị Thanh Hóa, ngày 5 tháng 5 năm 2013 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,không sao chép nội dung của người khác. Người viết Nguyễn Thị Thắng 17
- Xem thêm -