Tài liệu đặc điểm ngữ nghĩa của những từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin của người việt (so sánh với người anh)

  • Số trang: 101 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 928 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------ ------ VŨ LINH CHI ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA NHỮNG TỪ NGỮ BIỂU THỊ PHONG TỤC CƯỚI XIN CỦA NGƯỜI VIỆT (SO SÁNH VỚI NGƯỜI ANH) LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC HÀ NỘI – 2010 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------ ------ VŨ LINH CHI ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA NHỮNG TỪ NGỮ BIỂU THỊ PHONG TỤC CƯỚI XIN CỦA NGƯỜI VIỆT (SO SÁNH VỚI NGƯỜI ANH) LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số: 60 22 01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN ĐỨC TỒN HÀ NỘI – 2010 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài .......................................................................................... 3 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 3 3. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 4 4. Ý nghĩa ......................................................................................................... 6 NỘI DUNG Chương 1: Một số vấn đề lí luận cơ bản về đặc trưng văn hoá – dân tộc của ngôn ngữ 1.1. Khái niệm văn hoá và ngôn ngữ ................................................................ 8 1.2. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hoá và tư duy ........................................ 9 1.3. Sự phản ánh đặc trưng văn hoá – dân tộc trong ngôn ngữ....................... 12 1.3.1. Đặc trưng văn hoá-dân tộc trong ý nghĩa của từ ................................... 12 1.3.2. Đặc trưng văn hoá-dân tộc qua “bức tranh ngôn ngữ về thế giới” ...... 13 1.3.3. Đặc trưng văn hoá-dân tộc qua định danh ngôn ngữ ............................ 16 1.3.4. Đặc trưng văn hoá-dân tộc trong cách biểu trưng ................................ 19 1.4. Tiểu kết .................................................................................................... 20 Chương 2: Đặc điểm định danh các hiện tượng thuộc phong tục cưới xin của người Việt (trong sự so sánh với người Anh) 2.1. Định nghĩa về phong tục ......................................................................... 21 2.2. Lịch sử hôn lễ của người Việt .................................................................. 21 2.3. Đặc điểm định danh của nhóm từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin ......... 24 2.3.1. Đặc điểm định danh xét từ góc độ nguồn gốc ................................... ...24 2.3.2. Đặc điểm định danh xét từ góc độ cách thức biểu thị ........................... 33 1 2.3.2.1. Đặc điểm cấu tạo của tên gọi ............................................................. 33 2.3.2.2. Đặc điểm đồng nghĩa của tên gọi ....................................................... 35 2.3.2.3. Những đặc trưng được chọn để định danh .................................... .... 37 2.4. Tiểu kết ............................................................................................... ..... 41 Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của trường từ vựng biểu thị phong tục cưới xin của người Việt và người Anh 3.1. Cấu trúc ngữ nghĩa của trường từ vựng biểu thị phong tục cưới xin ..... 43 3.1.1. Phân tích nghĩa vị .................................................................................. 43 3.1.2. Mô hình cấu trúc ngữ nghĩa .................................................................. 61 3.2. Mối tương quan giữa đặc trưng định danh và đặc trưng ngữ nghĩa........ 65 3.3. Ý nghĩa biểu trưng của tên gọi các hiện tượng thuộc phong tục cưới xin trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao của người Việt ............................ 66 3.4. Tiểu kết ..................................................................................................... 73 KẾT LUẬN Tài liệu tham khảo ........................................................................................ 78 Phụ lục ............................................................................................................ 83 2 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Trong quá trình giao tiếp giữa các cộng đồng văn hoá dân tộc khác nhau, xảy ra không ít những trường hợp người ta không hiểu nhau, thậm chí hiểu lầm nhau. Điều này một phần do những người tham gia giao tiếp chưa lĩnh hội được hết những kiến thức ngôn ngữ, một phần nữa là do sự thiếu hiểu biết về "phông" văn hoá xã hội của hành vi giao tiếp. Chính vì vậy, hiện nay, trong lĩnh vực tâm lí ngôn ngữ học và lí thuyết giao tiếp, vấn đề đặc trưng văn hoá dân tộc của tư duy và giao tiếp ngôn ngữ ngày càng được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, những vấn đề này ở Việt Nam còn khá mới mẻ và lần đầu tiên được bàn đến tại Hội thảo “Việt Nam - những vấn đề ngôn ngữ và văn hoá” được tổ chức vào năm 1992 tại Hà Nội. Phần lớn các báo cáo của Hội thảo này đã tập trung nghiên cứu về mặt lí luận. Có thể kể tên một số tác giả tiêu biểu như: Trần Ngọc Thêm, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Trịnh Thị Kim Ngọc,...Ngoài ra, còn có một số tác giả khảo sát chuyên sâu về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá như Nguyễn Đức Tồn, Nguyễn Quang,.... Vấn đề đặc trưng văn hoá dân tộc của tư duy và giao tiếp ngôn ngữ là một lĩnh vực tuy còn khá mới nhưng có rất nhiều bổ ích và thiết thực nên chúng tôi đã chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn này. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Nói tới đặc trưng văn hoá - dân tộc, chúng ta không thể không nhắc tới các thành tố văn hoá mà qua đó sắc thái đặc trưng dân tộc được thể hiện rõ nét như phong tục, truyền thống, nghi lễ, nghệ thuật.... Phong tục cưới xin là một hiện tượng khá lí thú. Trong phong tục cưới xin tồn tại nhiều hành vi thực tế mà chưa được định danh, chưa được ngôn từ hoá. Ví dụ như: tục giã cối đón dâu của người Việt. Khi đám rước dâu về tới đầu ngõ, một người lấy chày giã vào cối đá, đôi khi giã mạnh đến vỡ cả cối. 3 Chày cối, theo quan niệm dân gian, là hình giống của nam và nữ. Giã cối có ý nghĩa tượng trưng cho hành vi giao phối và là tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở. Hay như tục mẹ chú rể cầm chiếc bình vôi lánh mặt trước khi cô dâu bước vào nhà. Có quan niệm cho rằng bình vôi tượng trưng cho của cải trong nhà. Nhưng có quan niệm cho rằng bình vôi là vật tượng trưng cho bà chúa trong nhà. Tại sao bình vôi lại là uy quyền, của cải? Chữ vôi (chữ Nôm) được viết bằng chữ khôi (Hán-Việt). Khôi chính nghĩa là tro, là màu xám. Chữ khôi có nhiều từ đồng âm. Trong đó có chữ khôi (bộ quỷ) nghĩa là đứng đầu và chữ khôi (bộ ngọc) nghĩa là quý báu. Vì thế, hành vi bà mẹ chồng lánh mặt sang nhà hàng xóm có nghĩa là trao quyền lo công việc nhà cho cô con dâu. Nhưng cầm bình vôi là có ý vẫn giữ vai trò nắm quyền điều hành. Đối với những hành vi chưa được định danh như trên, chúng tôi sẽ không xét tới trong luận văn này do thời gian có hạn. Chúng tôi chỉ khảo sát những từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin của người Việt trong sự so sánh với những từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin của người Anh. Những từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin trong tiếng Việt và tiếng Anh là đối tượng mà luận văn hướng tới để tìm hiểu. Bởi thứ nhất, cưới xin là phong tục mà dân tộc nào cũng có nhưng các từ ngữ để biểu thị các hiện tượng thuộc phong tục này ở các dân tộc lại rất khác nhau; thứ hai, đây là nhóm từ ngữ hàm súc cả về nghĩa từ vựng lẫn các thành tố văn hoá và tương đối khép kín. Điều này rất thuận lợi cho việc nghiên cứu. Thêm vào đó, những từ ngữ này chưa được khảo sát một cách toàn diện. Vậy nên, nhiệm vụ đặt ra cho luận văn này là: xem xét đặc điểm quá trình định danh nhằm ghi lại kết quả của sự tri giác, phạm trù hoá khúc đoạn hiện thực khách quan phong tục cưới xin này và xem xét cấu trúc ngữ nghĩa của những từ ngữ biểu thị phong tục ấy. 3. Phương pháp nghiên cứu 4 Để giải quyết vấn đề được nêu ra, trong luận văn này, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích thành tố nghĩa. Đây là phương pháp nghiên cứu mặt nội dung các đơn vị có ý nghĩa, được nêu ra trong phạm vi ngữ nghĩa học cấu trúc và có mục đích là phân giải ý nghĩa của từ ngữ ra thành các nghĩa vị (hay còn được gọi là các nét nghĩa). Đối tượng phân tích bằng phương pháp này là tất cả những từ liên quan với nhau về ngữ nghĩa. Phương pháp này có ưu điểm là có thể phát hiện ra được những mặt căn bản của ý nghĩa của từ và có thể sử dụng một cách hiệu quả để nghiên cứu hệ thống ngữ nghĩa của ngôn ngữ, giải quyết những vấn đề của ngữ nghĩa từ vựng như vấn đề đa nghĩa, đồng nghĩa; và sự phân tích thành tố nghĩa có thể được sử dụng vào phân tích đối chiếu một loạt ngôn ngữ. Điều này giúp cho không những vạch ra được tính bất đẳng cấu ngữ nghĩa giữa các ngôn ngữ khác nhau, mà còn cho phép thâm nhập sâu hơn vào những quy luật ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ để từ đó có thể nhận ra những đặc trưng văn hoá dân tộc của một trường từ vựng - ngữ nghĩa cụ thể. Bên cạnh phương pháp phân tích thành tố vừa nêu ở trên, một phương pháp nữa thường được sử dụng trong nghiên cứu ngôn ngữ học đó là phương pháp thống kê. Chúng ta biết rằng, các hiện tượng ngôn ngữ không chỉ có những đặc trưng về chất mà còn có cả đặc trưng về lượng. Do đó, những đánh giá về lượng đã nhiều lần được sử dụng khi nghiên cứu các hiện tượng ngôn ngữ khác nhau. Trong nhiều trường hợp, những sự khác biệt về chất của các cấu trúc ngôn ngữ chỉ có thể giải thích bằng những sự khác biệt về lượng. Thêm vào đó “cần áp dụng thường xuyên hơn tư duy toán học, định lượng trong ngôn ngữ học và bằng cách đó, sẽ ngày càng làm xích gần hơn ngôn ngữ học với các khoa học chính xác”- I.A.Boduen de Curtenê (dẫn theo [59, 90]). Phương pháp thứ ba mà chúng tôi áp dụng trong luận văn này là phương pháp đối chiếu. Phương pháp này nhằm làm sáng tỏ những nét tương 5 đồng và khác biệt giữa các ngôn ngữ Việt và Anh để từ đó giúp cho việc dạy và học ngoại ngữ tốt hơn. 4. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn Như đã nêu ở trên, phong tục cùng với truyền thống, nghi lễ, nghệ thuật,... là những thành tố văn hoá mang đậm nhất sắc thái đặc trưng dân tộc. Có những phong tục chỉ có ở một dân tộc nhất định nào đó nhưng có những phong tục lại phổ biến cho nhiều tộc người. Cưới xin thuộc loại thứ hai. Phong tục cưới xin tồn tại ở tất cả các dân tộc trên thế giới. Tuy nhiên, giữa các dân tộc, phong tục này có sự khác biệt. Và không phải ai cũng có thể hiểu hết những ý nghĩa của phong tục đó. Vì thế, tìm hiểu về những từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin của người Việt và người Anh sẽ giúp chúng ta hiểu được phần nào ý nghĩa những nét văn hoá đặc trưng của dân tộc Việt và dân tộc Anh. Giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu được đề cập ở trên sẽ mở ra những hướng đi, những cách tiếp cận vấn đề mang tính thời sự của tâm lí ngôn ngữ học tộc người như tính tương quan giữa hành vi ngôn ngữ và phi ngôn ngữ của các cá nhân thuộc cộng đồng văn hoá ngôn ngữ khác nhau và mối quan hệ tương hỗ giữa ngôn ngữ và tư duy. Bên cạnh đó, nó còn có ý nghĩa trong việc biên soạn từ điển như: cần thiết loại bỏ hay thêm vào những lời định nghĩa của các mục từ những yếu tố thuộc về văn hoá. Thêm vào đó, nó sẽ giúp ích rất nhiều cho việc học ngoại ngữ. Ngoài ra, nó còn giúp ích trong công tác giảng dạy tiếng Việt và tiếng Anh như một ngoại ngữ. Bởi dạy một thứ tiếng cho người nước ngoài như một ngoại ngữ hay học một thứ tiếng nước ngoài không chỉ dạy và học cách nói mà còn phải dạy và học cách tư duy cũng như truyền thống văn hoá của dân tộc nói thứ tiếng ấy. Nếu không sẽ xảy ra những trường hợp thường được gọi là “sốc văn hoá” trong khi giao tiếp giữa những người thuộc những cộng đồng văn hoá - ngôn ngữ khác nhau. 6 Cấu trúc luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm có 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lí luận cơ bản về đặc trưng văn hoá - dân tộc của ngôn ngữ Trong chương này chúng tôi sẽ bàn về một số vấn đề cơ bản như: khái niệm văn hoá và ngôn ngữ; mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hoá và tư duy; sự phản ánh đặc trưng văn hoá - dân tộc trong ngôn ngữ. Chương 2: Đặc điểm định danh các hiện tượng thuộc phong tục cưới xin của người Việt (trong sự so sánh với người Anh) Chương này đề cập tới những vấn đề như: định nghĩa về phong tục; lịch sử hôn lễ của người Việt; đặc điểm định danh của nhóm từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin. Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của trường từ vựng biểu thị phong tục cưới xin của người Việt và người Anh. Chương này được dành cho các vấn đề: cấu trúc ngữ nghĩa của trường từ vựng biểu thị phong tục cưới xin; ý nghĩa biểu trưng của các hiện tượng cưới xin trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao của người Việt. 7 NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẶC TRƯNG VĂN HOA - DÂN TỘC CỦA NGÔN NGỮ 1.1. Khái niệm văn hoá và ngôn ngữ Khi nghiên cứu về vấn đề đặc trưng văn hoá-dân tộc của tư duy và giao tiếp ngôn ngữ, câu hỏi đầu tiên được đặt ra cho các nhà nghiên cứu đó là: văn hoá là gì? nó có chức năng gì? Để trả lời cho câu hỏi này, đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hiện tượng được gọi là văn hoá. Dưới đây là một vài định nghĩa mà được nhiều nhà nghiên cứu chấp thuận: Giáo sư Trần Quốc Vượng trong cuốn Cơ sở văn hoá Việt Nam đã khẳng định: “Văn hoá là sự thích nghi và biến đổi thiên nhiên. Thiên nhiên đặt ra trước con người những thử thách, những thách đố. Văn hoá là sản phẩm của con người, là phản ứng, là sự trả lời của con người trước những thách đố của tự nhiên....Văn hoá, xét ở mỗi cá nhân, cũng như ở mỗi cộng đồng còn là do lịch sử hun đúc nên. Những số phận, vận mệnh lịch sử khác nhau tạo nên những văn hoá khác nhau”. Giáo sư Phan Ngọc cho rằng Văn hoá không phải là kỹ thuật, không phải là hoạt động tinh thần hay hoạt động chính trị xã hội, cũng không phải là phong tục tập quán, mà “văn hoá là dấu ấn của một tập thể cộng đồng lên mọi hiện tượng tinh thần, vật chất, mọi sản phẩm của tập thể cộng đồng này từ tín ngưỡng, phong tục cho đến cả sản phẩm công nghiệp bán ra thị trường.” [43, 21] Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, Trần Ngọc Thêm đã phân biệt khái niệm và cấu trúc giữa văn hoá và văn minh. Theo ông, văn hoá chứa đựng cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần, mang tính dân tộc và có bề 8 dày lịch sử. Còn văn minh chỉ một trình độ thiên về giá trị vật chất và kĩ thuật, có tính quốc tế. Theo Hà Quang Năng, “văn hoá theo nghĩa rộng, là cái tự nhiên được con người biến đổi, để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử, một cách nhìn, một quan niệm về vũ trụ, về thế giới với một hệ thống những chuẩn mực, những giá trị, những cách nhận thức....Văn hoá bao giờ cũng hình thành trong một quá trình và được tích luỹ qua nhiều thế hệ, mang tính lịch sử và tạo cho nó một bề dày, một chiều sâu. Được duy trì bằng cơ chế tích luỹ và truyền đạt kinh nghiệm trong cộng đồng qua không gian và thời gian nên văn hoá luôn tồn tại và phát triển”.[39, 66] “Văn hóa là một tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần được con người tạo ra và được phát triển theo lịch sử, khác với các đối tượng của tự nhiên”. (Từ điển bách khoa Xô Viết) (dẫn theo [59,16]) Qua một vài định nghĩa về văn hoá như đã nêu ở trên, có thể rút ra một nhận xét về văn hoá như sau: văn hoá với tư cách là một hiện tượng xã hội bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần đã và đang được một cộng đồng người tích luỹ. Văn hoá bao gồm những đặc trưng sau: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử. Trong đó tính lịch sử thể hiện truyền thống văn hoá là những giá trị tương đối ổn định (kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội, được tích luỹ và tái tạo trong cộng đồng người theo không gian và thời gian và được cố định hoá dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ... Còn về khái niệm “ngôn ngữ” cũng có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Nhưng quan niệm được nhiều nhà nghiên cứu đồng ý nhất là coi “ ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội ( không chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn là hiện tượng xã hội đặc biệt) và ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, là công cụ của tư duy”. 1.2. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hoá và tư duy 9 Giữa ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ chặt chẽ trong sự phát triển, tác động qua lại lẫn nhau. Ngôn ngữ vừa là một bộ phận của nền văn hoá dân tộc, vừa là thành tố cấu tạo nên văn hóa, đồng thời cũng là phương tiện lưu giữ giá trị văn hoá một cách bền chắc và khá đầy đủ. Mặc dù chúng ta không thể có được nội dung trọn vẹn của một nền văn hoá nhờ ngôn ngữ, vì không phải lúc nào ngôn ngữ cũng truyền tải một cách đầy đủ nền văn hoá mà nó đang hành chức nhưng ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ khăng khít, cùng hình thành từ hoạt động giao tiếp, gắn liền với hoạt động nhận thức của con người. Và nếu như ngôn ngữ là hình thức, là công cụ của hoạt động giao tiếp thì văn hoá chính là nội dung của nó. Ngôn ngữ vừa là phương tiện trao đổi giữa các nền văn hoá, đồng thời là phương tiện liên hệ, kế thừa giữa các thế hệ trong sự phát triển tinh thần của cộng đồng sử dụng nó. Chính vì vậy “ ngôn ngữ là tấm gương thực sự của nền văn hoá dân tộc" - E.S.Veresaghin, hay nói như A.T.Agaép “chính ngôn ngữ được một dân tộc sáng tạo ra và của riêng dân tộc này đã thực hiện chức năng đặc trưng dân tộc”. Đồng thời, “chính sự đặc thù của văn hoá được biểu hiện trong ngôn ngữ đã quy định đặc trưng văn hoá dân tộc của hành vi nói năng ở những người thuộc cộng đồng văn hoá - ngôn ngữ khác nhau”- Nguyễn Đức Tồn [59,23]. Chẳng hạn, nhìn vào tục ngữ, thành ngữ tiếng Việt, chúng ta nhận thấy một nền văn hoá dân tộc mang đậm màu sắc của những cư dân nông nghiệp như: chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm/ ráng đàng đông vừa trông vừa chạy, ráng đàng nam vừa làm vừa chơi/ đom đóm bay ra trồng cà trồng đỗ/ ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng/ con trâu là đầu cơ nghiệp/ đổ thóc giống ra mà ăn/ chiêm khê mùa thối/ cổ cày vai bừa/ đầu trâu mặt ngựa/ một nắng hai sương/ ăn củ ủ nhiều/ ôm rơm nặng bụng/ ra môn ra khoai/ kéo cày trả nợ/ con sâu làm rầu nồi canh/ mò cua bắt ốc/ rẻ như bèo/ đắt như tôm tươi... Đó là những lát cắt cuộc sống của cư dân có nền văn hoá được xây dựng từ nền văn minh nông nghiệp lúa nước. 10 Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, một vấn đề mà chúng ta không thể không nhắc tới đó là vấn đề tư duy của những người thuộc cộng đồng văn hoá - ngôn ngữ đang được xem xét. Bởi vì “nói đến khái niệm văn hoá - dù hiểu rộng hay hiểu hẹp - trong định nghĩa của nó bao giờ cũng có chú trọng đến nét riêng biệt về mặt tinh thần, mặt tâm lí giữa các dân tộc; hay nói cho cụ thể hơn (như nhiều học giả quan niệm) đó là lối nghĩ riêng , cách tư duy riêng của dân tộc đó về các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh, của tự nhiên, của xã hội và con người của đất nước đó, lãnh thổ đó” ”- Lý Toàn Thắng [53, 2]. Vậy những biểu hiện của lối nghĩ ấy, cách tư duy ấy có thể tìm thấy ở đâu? Có thể thấy rằng không tìm ở đâu dễ dàng, nhanh chóng và thực tế hơn là nghiên cứu và khảo sát ngôn ngữ của nền văn hoá đó. Vì ngôn ngữ là phương tiện phản ánh tư duy con người. Chẳng hạn, khi so sánh đại từ nhân xưng giữa tiếng Anh và tiếng Việt, chúng ta thấy có sự khác biệt rất lớn. Ví dụ: Tiếng Việt Tiếng Anh Ngôi thứ nhất: + Tôi, tớ, tao, mình, người ta,.... + Chúng / bọn tôi, chúng / bọn tớ, +I + We chúng / bọn tao,... Ngôi thứ hai: + Mày, ấy, cậu, bạn,... + You Chúng/bọn mày, bọn ấy, bọn cậu,... + You Ngôi thứ ba: + Nó, hắn, y, thị, anh ấy, cô ấy... + He, she + Chúng/bọn nó, họ, bọn họ,.. + They Có thể thấy rằng để biểu thị ngôi thứ nhất, số ít, trong tiếng Anh chỉ sử dụng một đại từ hoàn toàn trung tính về sắc thái biểu cảm – “I”; nhưng trong 11 tiếng Việt, ngoài yếu tố trung tính tương đương- “tôi”, người Việt còn sử dụng một loạt các yếu tố hàm chỉ thái độ, tình cảm tích cực- “tớ, mình” hay tiêu cực – “tao”. Đối với các đại từ thuộc ngôi thứ nhất, số nhiều, ngôi thứ hai và ngôi thứ ba, trường hợp cũng tương tự. Điều này chứng tỏ người Anh thể hiện tính khách quan trong xưng hô còn người Việt biểu hiện tính chủ quan. Bênfu cạnh đó, người Việt thường dùng danh từ thân tộc để xưng hô như anh, chị, em, ông, bà, bác, chú, cô, dì, cháu,....Như vậy có thể nhận thấy từ xưng hô trong tiếng Việt rất phong phú. Qua cách xưng hô có thể nhận thấy tư duy của người Việt rất coi trọng tôn ti trật tự, có trên có dưới. Trong khi đó người Anh lại coi trọng hơn về sự bình đẳng, dân chủ. 1.3. Sự phản ánh đặc trưng văn hoá dân tộc trong ngôn ngữ Theo Nguyễn Đức Tồn, có thể nhận thấy đặc trưng văn hoá - dân tộc được thể hiện qua những bình diện sau đây: 1.3.1. Đặc trưng văn hoá - dân tộc trong ý nghĩa của từ Như trong phần 1.2 đã khẳng định: lối nghĩ, cách tư duy của một dân tộc có thể dễ dàng tìm thấy qua sự nghiên cứu và khảo sát nền văn hoá của chủ thể cộng đồng ngôn ngữ của nền văn hoá đó. Nhưng phải chăng tất cả các khía cạnh của ngôn ngữ đều thể hiện rõ bản sắc văn hoá của dân tộc. “Hiện nay, dễ dàng chấp nhận hơn cả là nghiên cứu phương diện ngữ nghĩa để tìm hiểu bản sắc văn hoá của một ngôn ngữ” - Nguyễn Huy Cẩn [3,24]. Và đi sâu thêm nữa thì đó trước hết là ngữ nghĩa của các từ. Vì ý nghĩa của từ là một dạng tri thức về thế giới. Trong ý nghĩa của từ có lưu giữ lại sự hiểu biết của con người đã thu nhận, tích luỹ được trong quá trình nhận thức thế giới khách quan. Các tri thức đó phản ánh trình độ hiểu biết mà ý thức xã hội đã đạt được ở giai đoạn hiện tại. A.N.Lêônchép, A.R.Luria nhận xét: “Thông qua ý nghĩa của mình, từ thể hiện quá trình phản ánh trực tiếp, cảm giác về thế giới”, “chính ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ, đặc biệt là từ và từ tổ, đã thể hiện hình thức tồn tại tinh thần của thế giới sự vật, các thuộc tính và quan hệ của 12 nó đã được thực tiễn chung của xã hội khám phá ra, nhưng đã được cải biến trong ý nghĩa của từ cũng còn lưu giữ lại cả những yếu tố của nền văn hoá dân tộc như: các hình ảnh, cách so sánh truyền thống, sự đánh giá, sự biểu trưng,... Chẳng hạn, nhiều dân tộc dùng hình ảnh của các loài cây khác nhau để chỉ tính cách của con người, để chỉ phẩm chất của con người. Người Việt dùng hình ảnh của cây tùng, cây bách để nói đến người quân tử. Dùng cây liễu để nói đến dáng vẻ yểu điệu của phụ nữ. Dùng hương thơm của bông hoa nhài để nói đến vẻ đẹp tinh khiết, trong trắng, thanh lịch của các cô gái thành thị (Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An). Dùng cây tre để biểu thị sự cứng cỏi, kiên cường,...Còn đối với người Nga, cây sồi là biểu trưng của sức mạnh, cây bạch dương thể hiện cho sự trong sạch, thanh thoát, cây liễu được dùng để biểu thị cho sự mảnh dẻ, yếu đuối, cây dương xỉ biểu trưng cho sự chết chóc... Từ đó chúng ta có thể đi tới một kết luận: việc nghiên cứu phương diện ngữ nghĩa của một ngôn ngữ cho phép tìm hiểu được nét độc đáo về văn hoádân tộc của chủ thể ngôn ngữ ấy. 1.3.2. Đặc trưng văn hoá - dân tộc qua “bức tranh ngôn ngữ về thế giới” Khi nghiên cứu về đặc trưng văn hoá - dân tộc, một vấn đề mà các nhà nghiên cứu thường đề cập tới đó là “bức tranh thế giới”. Trong triết học và ngôn ngữ học hiện nay, hiện tượng “bức tranh thế giới” được hiểu theo những cách khác nhau. Đó là “bức tranh ý niệm về thế giới ” hoặc “bức tranh ngôn ngữ về thế giới”. Thậm chí nhiều học giả còn đối lập hai loại bức tranh này. Chúng ta biết rằng con người nhận thức các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan rồi phản ánh vào trong trí óc của mình. Khi được phản ánh vào trong trí óc, các sự vật, hiện tượng này trở thành thế giới tinh thần - thế giới của các hình ảnh, biểu tượng, khái niệm và bức tranh thế giới tinh thần đó được biểu đạt trong ngôn ngữ thông qua ý nghĩa của các từ ngữ. 13 Như vậy, muốn nghiên cứu “bức tranh ý niệm về thế giới” trong ý thức của con người cần phải khảo sát “bức tranh ngôn ngữ về thế giới” và khi làm công việc đó chúng ta sẽ nhận thấy là giữa các ngôn ngữ không có sự trùng khít với nhau. “Bức tranh ngôn ngữ về thế giới” không trùng nhau ở các dân tộc, có nghĩa là mỗi dân tộc có “bức tranh” riêng về thế giới. Quan niệm của từng dân tộc về thế giới xung quanh được khúc xạ độc đáo trong các bức tranh dân tộc đó. Theo P.V.Sécba “ khi so sánh ngôn ngữ này với ngôn ngữ khác, chúng ta thấy rõ ràng tính võ đoán của bức tranh về thế giới bên ngoài được phản ánh trong ngôn ngữ”(dẫn theo [59,31]). Để chứng minh cho điều này, chúng ta thử lấy một vài ví dụ: trong tiếng Anh, để chỉ bàn tay và cánh tay, người Anh dùng hai từ là “hand, arm”, còn người Việt lại biểu hiện nhất thể hoá hai biểu vật này chỉ bằng một từ là “tay”. Khi cần cụ thể hoá, người Việt sẽ dùng đến từ tổ “bàn tay” và “cánh tay”. Hay khi chỉ phần dưới của cái cốc, người Anh dùng một từ “bottom” nhưng người Việt lại phân biệt “đáy/đít và trôn cốc”. Người Trung Quốc có từ “chi” để biểu thị chung cho cả tay và chân, còn người Anh và người Việt thì không. Xảy ra sự khác nhau này là do cách biểu hiện có phân biệt một nội dung nhất định trong ngôn ngữ này có thể là bắt buộc, còn trong ngôn ngữ khác lại là không bắt buộc. Để có thể rút ra được đặc điểm về “bức tranh ngôn ngữ về thế giới”, cần phải tập hợp các từ thuộc các trường ngữ nghĩa bao trùm những phạm vi khác nhau của hiện thực khách quan trên cơ sở định nghĩa từ điển của chúng. Để thực hiện tốt thao tác này, chúng tôi áp dụng lý thuyết về kiểu cấu trúc khung (frame) của Ch. J.Fillmore. Lý thuyết về kiểu cấu trúc khung (frame) của Ch.J.Fillmore được trình bày trong cuốn “Cái mới trong ngôn ngữ học nước ngoài” tập XIV như sau: Khung (tiếng Anh: frame) là một bộ các từ mà mỗi từ trong đó biểu thị một phần nhất định hoặc một bình diện của một chỉnh thể khái niệm hoặc hành động nào đó. Nói cách khác, nội dung của một đơn vị từ vựng này hay 14 khác của khung sẽ không thể hiểu được nếu như không biết cấu trúc nội tại của khung nói chung. Khái niệm khung được minh hoạ bằng những thí dụ sẽ dễ hơn so với miêu tả dưới dạng chung. Chúng ta hãy xem xét một thí dụ liên quan tới thương mại: Hoàn cảnh mua bán gồm: một người nào đó, đổi tiền của mình để lấy hàng hóa hay dịch vụ nhận được từ người khác. Có một tập hợp từ tiếng Anh miêu tả các bộ phận và các khía cạnh khác nhau của hoàn cảnh này, chẳng hạn, buy (mua), sell (bán), pay (trả tiền), spend (tiêu), cost (trị giá), charge (trả tiền), price (giá cả), money (tiền), change (đổi) và vài chục từ khác. Bên trong tập hợp từ thuộc về một khung có thể tách ra những tập hợp nhỏ tạo thành các hệ hình, những sự phân loại và các kiểu cấu trúc khác. Song sự miêu tả ngữ nghĩa của chúng chỉ có thể được tiến hành với điều kiện chi tiết hoá sơ bộ sơ đồ khái niệm làm cơ sở cho khung (dẫn theo [25,189]). Như vậy, với cách đặt mình vào các vị trí (các vai) trong bối cảnh giao tiếp, chúng ta sẽ có những cấu trúc khung cần thiết. Vận dụng vào phạm vi hôn nhân, có thể nhận thấy các loại vai và các chu tố sau đây:  Thành phần tham gia/ Con người và quan hệ: + Tiếng Việt: cô dâu (dâu), chú rể (rể), phù dâu, phù rể, nhà gái, nhà trai, vợ, chồng, bố mẹ vợ (ông bà nhạc, ông gia, bà gia), bố mẹ chồng, thông gia, vợ cả, vợ hai, vợ lẽ, hậu, phi, thê thiếp, nàng hầu, mối lái (bà mối, ông mai), ông tơ, bà nguyệt (Nguyệt lão), chủ hôn, quan viên.... + Tiếng Anh: bride, bridegroom, bridesmaid, maid of honour, best man, wife, husband, concubine, fiancé, fiancée, match maker, mother-in-law, father-inlaw, in-laws, consort, spouse, old man, matron of honour, ….  Lễ vật/ Sính lễ: + Tiếng Việt: trầu, cau, chè, rượu, xôi, lợn, gà, bánh cốm, bánh đậu xanh, bánh phu thê (su sê), thiếp mời, hương, mâm/ quả/ tráp, đèn cầy/ nến, nhẫn, 15 vòng, dây chuyền, kiềng, hoa tai/ bông tai, xuyến,... và một số lễ vật khác tuỳ thuộc vào từng vùng miền. + Tiếng Anh: champagne, dowry, engagement ring, wedding cake, wedding ring, wedding present, wedding invitation,…  Nghi lễ/ Nghi thức: + Tiếng Việt: nạp thái, vấn danh, nạp cát, thỉnh kỳ, nạp tệ, thân nghinh, hôn lễ, chạm mặt/ngõ, dạm hỏi, ăn hỏi, thách cưới, dẫn cưới, sêu, lễ tơ hồng, xin dâu, đưa dâu, đón dâu, lễ gia tiên, đóng cửa(cổng), chăng dây, cheo, tân hôn, thành hôn, vu quy, lễ rót rượu, trao nhẫn, cỗ cưới, lễ hợp cẩn, lễ động phòng, lại mặt/ tứ hỷ/ nhị hỷ, lại quả, gửi rể, giá thú, tục huyền, tục hôn, song hỉ,... + Tiếng Anh: banns, betroth, betrothal, propose, proposal, engage, affiance, engagement, marry, maritial, conjugal, connubial, wed, wedding, nuptials, nuptial rites, marriage rites, marriage, marriage licence, marriage certificate, white wedding, wedding breakfast, honey moon, remarriage, …  Lễ phục: + Tiếng Việt: áo the, áo tứ thân, áo nậu, nón dấu, áo mớ ba, yếm nhiễu điều, quần lĩnh, thắt lưng nhiễu điều, áo dài, nón thúng, comple, váy cưới,... + Tiếng Anh: trousseau, suit, tailcoat, wedding dress, bow-tie,… 1.3.3. Đặc trưng văn hoá - dân tộc qua định danh ngôn ngữ Về thuật ngữ “định danh” có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Nhưng quan niệm sau của T.V.Kolshansky được chúng tôi chấp thuận và lấy làm cơ sở để nghiên cứu: “ Định danh (nomination) là gắn cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm - biểu niệm (signifikat) phản ánh những đặc trưng nhất định của một biểu vật (denotat) - các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ của các đối tượng và quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần, nhờ đó các đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn từ” (dẫn theo [59,33]). Nói ngắn gọn, định danh là cách đặt tên gọi cho một sự vật, hiện tượng, tính chất... 16 Khi định danh một sự vật, hiện tượng, tính chất hay quá trình,... con người với tư cách là chủ thể định danh tiến hành quan sát, tìm hiểu kĩ càng, vạch ra một loạt những đặc trưng nào đó có trong nó. Tuy nhiên, vấn đề là cần phải lựa chọn đặc trưng nào để định danh? Có hai quan niệm khác nhau khi bàn về vấn đề này: Quan niệm thứ nhất cho rằng: để định danh, người ta chỉ chọn đặc trưng nào thấy là tiêu biểu, dễ khu biệt với đối tượng, tính chất hay quá trình khác... và đặc trưng này đã có tên gọi trong ngôn ngữ. Hay nói theo cách của Phoi-ơ-bắc “đặc trưng nào đó đập vào mắt mà ta lấy làm đại diện cho đối tượng” [dẫn theo Lênin trong Bút kí triết học, tập 29, tr.87-88]. V.G. Gak gọi hành vi này là hành vi phân loại. Ông cho rằng “trong ngôn ngữ tự nhiên, quá trình gọi tên tất yếu gắn với hành vi phân loại. Nếu như cần phải biểu thị một đối tượng X nào đó mà trong ngôn ngữ chưa có tên gọi, thì trên cơ sở các đặc trưng đã được tách ra trong đối tượng này, nó được quy vào khái niệm “A” hoặc “B” mà trong ngôn ngữ đã có cách biểu thị riêng cho chúng và nhận tên gọi tương ứng. Nhưng đồng thời cũng diễn ra sự “lắp ráp” bản thân các từ vào hiện thực: khi thì người ta bỏ đi một cái gì đó khỏi sự hiểu biết ban đầu của mình, khi thì, ngược lại, bổ sung thêm một cái gì đó vào sự hiểu biết đầu tiên ấy” [59,35]. Ví dụ để gọi tên loài động vật sống dưới nước, thở bằng mang và bơi bằng vây thì người Việt gọi là “cá” và tuỳ vào hình dáng hay màu sắc người ta gọi tên cá vàng, cá hồng, cá bạc má, cá ngạnh, cá kiếm, cá kìm, cá voi, cá chim trắng... Hoặc để gọi tên loài cây cảnh cỡ nhỏ, thân có gai, lá kép có răng, hoa màu hồng, có hương thơm, người ta gọi là “hoa” và chọn đặc trưng màu sắc nổi bật nên có tên gọi là “hồng”. Khi đó loài cây này có tên gọi là “hoa hồng”. Nhưng sau đó, người ta thấy màu sắc của loài cây ấy không chỉ có màu hồng, nó có thể là màu đỏ, trắng, vàng,...Như vậy tên gọi đã được bổ sung thành: hoa hồng nhung, hoa hồng vàng, hoa hồng bạch,...[59,35]. 17 Đặc điểm định danh còn được thể hiện cả ở việc quy loại khái niệm của đối tượng được định danh chứ không chỉ ở việc chọn đặc trưng nào để định danh. Chẳng hạn, cùng một loại thức ăn làm bằng bột gạo nếp, viên tròn, có nhân đường,...thường làm vào ngày Tết Hàn Thực, người miền Bắc quy vào loại “bánh” nên gọi là “bánh trôi nước”, còn người miền Nam quy vào loại “chè” nên gọi là “chè trôi nước” (vì có nước nên gọi là chè). Quan niệm thứ hai, tiêu biểu là B.A.Sereprennhicốp, lại cho rằng: “việc tạo ra từ theo đặc trưng nào đó chỉ là biện pháp thuần tuý kĩ thuật ngôn ngữ. Đặc trưng được chọn chỉ để tạo ra vỏ ngữ âm của từ. Đặc trưng được chọn để gọi tên hoàn toàn không nói hết toàn bộ bản chất của đối tượng, không bộc lộ hết tất cả các đặc trưng của nó. Ngoài ra, đặc trưng được chọn để gọi tên thậm chí có thể là không cơ bản, không quan trọng về mặt thực tiễn” (dẫn theo [59,36]). Ví dụ: loại thức ăn làm bằng bột gạo nếp, thường có nhân ngọt, hoặc nhân mặn (nhân thịt, miến,...), rán chín, người Việt gọi là “bánh rán”, trong khi đó cũng có rất nhiều bánh được làm bằng cách rán như bánh chuối, bánh tôm, bánh gối,...Tương tự như vậy chúng ta còn có “bánh nướng”. Thực ra, việc chọn đặc trưng bản chất hay không bản chất để làm cơ sở cho định danh là hai thái cực của quá trình định danh thống nhất. Hay nói như Nguyễn Đức Tồn : đặc trưng được chọn có thể là đặc trưng cơ bản, thuộc bản chất của sự vật, mà cũng có thể là thuộc tính không căn bản, miễn sao đặc trưng được chọn có giá trị khu biệt sự vật ấy với sự vật khác. Ở mỗi dân tộc việc lựa chọn đặc trưng làm cơ sở cho sự định danh không phải bao giờ cũng giống nhau. Chẳng hạn: loại phương tiện đi lại có hai hoặc ba bánh, dùng sức người đạp cho bánh quay để di chuyển, người Việt nhìn thấy ở sự vật đó đặc trưng cách thức (đạp) nên gọi là “xe đạp”, nhưng với cùng sự vật ấy, đặc trưng “đập vào mắt” người Anh lại là cấu tạo nên nó có tên gọi là “bicycle” (bi-hai, cycle- vòng tròn). Điều này cho thấy cách nhìn nhận về sự vật, hiện tượng của các dân tộc khác nhau là không 18
- Xem thêm -