Tài liệu Bước đầu tìm hiểu cách thức tri nhận thế giới của người việt (trên ngữ liệu câu đố)

  • Số trang: 123 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 780 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN ----------------------------------------------------- Nguyễn Thị Thanh Huyền Bước đầu tìm hiểu cách thức tri nhận thế giới của người Việt (trên ngữ liệu câu đố) : / ; Luận văn ThS. Ngôn ngữ học: 60 22 01 Nghd. : GS.TSKH. Lý Toàn Thắng ĐHKHXH & NV Hà Nội – 2009 Luận văn thạc sĩ TÓM TẮT 1. Lý do chọn đề tài Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, câu đố chiếm một số lượng đáng kể, không thua kém gì ca dao, tục ngữ, truyện thần thoại, cổ tích, hò vè,... Câu đố đã từng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân ta trong suốt cả một thời kì lịch sử và cho đến nay, hình thức đố vui vẫn còn là một sinh hoạt giải trí được nhiều người ưa thích. Có thể nói, câu đố thể hiện một lối nhìn thế giới của nhân dân ta khá dí dỏm, hóm hỉnh và cũng đầy chất thơ. Tuy không ghi lại những kinh nghiệm thực tiễn hay thể hiện lối suy nghĩ của nhân dân lao động đối với các vấn đề sản xuất, vấn đề xã hội như tục ngữ và không bao quát mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống nhân dân, từ thế giới nội tâm con người đến những sinh hoạt gia đình, sinh hoạt xã hội, sinh hoạt lao động, đấu tranh,… bằng ca dao; câu đố có một vị trí riêng của nó. Câu đố không chỉ mang lại cho người ta những giây phút thư giãn thoải mái, những tràng cười giòn giã mỗi khi giải được lời đố mà còn là phương tiện để thử độ tinh nhạy của tư duy, kích thích trí tưởng tượng của con người. Cho đến nay, mặc dù hình thức sinh hoạt đố - đáp không còn phổ biến như xưa, nhưng nó vẫn xuất hiện đây đó trên các diễn đàn mạng, trên các tờ báo, tạp chí hay trong những giờ nghỉ giải lao ở các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp,…và đặc biệt trong các sách giáo khoa phổ thông, nhất là sách cho bậc tiểu học, mục đố vui được đưa vào như là một hình thức giải trí sau những giờ học căng thẳng và cũng là một hình thức rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ, phần nào củng cố nhận thức cho các em nhỏ. Có thể nói đố vui là một trò chơi trí tuệ bổ ích, kích thích trí tưởng tượng của con người, đặc biệt những câu đố về đồ vật, cây cỏ, động vật, các bộ phận cơ thể con người hay các hiện tượng tự nhiên là một trò chơi hữu ích đối với sự phát 1 Luận văn thạc sĩ MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, câu đố chiếm một số lượng đáng kể, không thua kém gì ca dao, tục ngữ, truyện thần thoại, cổ tích, hò vè,... Câu đố đã từng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân ta trong suốt cả một thời kì lịch sử và cho đến nay, hình thức đố vui vẫn còn là một sinh hoạt giải trí được nhiều người ưa thích. Có thể nói, câu đố thể hiện một lối nhìn thế giới của nhân dân ta khá dí dỏm, hóm hỉnh và cũng đầy chất thơ. Tuy không ghi lại những kinh nghiệm thực tiễn hay thể hiện lối suy nghĩ của nhân dân lao động đối với các vấn đề sản xuất, vấn đề xã hội như tục ngữ và không bao quát mọi lĩnh vực khác nhau của đời sống nhân dân, từ thế giới nội tâm con người đến những sinh hoạt gia đình, sinh hoạt xã hội, sinh hoạt lao động, đấu tranh,… bằng ca dao; câu đố có một vị trí riêng của nó. Câu đố không chỉ mang lại cho người ta những giây phút thư giãn thoải mái, những tràng cười giòn giã mỗi khi giải được lời đố mà còn là phương tiện để thử độ tinh nhạy của tư duy, kích thích trí tưởng tượng của con người. Cho đến nay, mặc dù hình thức sinh hoạt đố - đáp không còn phổ biến như xưa, nhưng nó vẫn xuất hiện đây đó trên các diễn đàn mạng, trên các tờ báo, tạp chí hay trong những giờ nghỉ giải lao ở các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp,…và đặc biệt trong các sách giáo khoa phổ thông, nhất là sách cho bậc tiểu học, mục đố vui được đưa vào như là một hình thức giải trí sau những giờ học căng thẳng và cũng là một hình thức rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ, phần nào củng cố nhận thức cho các em nhỏ. Có thể nói đố vui là một trò chơi trí tuệ bổ ích, kích thích trí tưởng tượng của con người, đặc biệt những câu đố về đồ vật, cây cỏ, động vật, các bộ phận cơ thể con người hay các hiện tượng tự nhiên là một trò chơi hữu ích đối với sự phát 1 Luận văn thạc sĩ triển trí tuệ của trẻ nhỏ. Tuy nhiên, cho đến nay, câu đố ít được các nhà nghiên cứu chú ý bằng các thể loại văn học dân gian khác như ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn,… Có thể người ta chưa đánh giá cao vị trí và tầm quan trọng của câu đố trong văn học dân gian nhưng rõ ràng câu đố đã và đang là một nét sinh hoạt bổ ích và cần được duy trì cho thế hệ mai sau. Chính vì những lí do đó, luận văn này mong muốn có thể góp một phần nhỏ bé vào việc duy trì sự tồn tại của câu đố nói chung và đem lại một cái nhìn cơ bản về cách thức tri nhận thế giới của người Việt qua câu đố để chúng ta hiểu hơn về cuộc sống của ông cha ta cũng như lối nhìn, lối tư duy của họ trong cuộc sống thể hiện qua việc sáng tạo câu đố. 2. Lịch sử nghiên cứu Như trên đã nói, những công trình nghiên cứu và sưu tầm về câu đố cho đến nay, nói chung vẫn còn rất ít so với các thể loại văn học dân gian khác. Có thể kể đến một số công trình sau: 1. Phần phụ tập II Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc in lần đầu tại Hà Nội 1928. 2. Thai ngữ phổ thông của Nguyễn Văn Xứng, Sài Gòn 1949. 3. Câu đố câu thai, Phạm Văn Giao, Sài Gòn 1956, Nxb Phạm Văn Tiến. 4. Câu đố Việt Nam, Ninh Viết Giao, Hà Nội 1958. (Biên soạn và in lại năm 2008, Nxb Văn Học) 5. Thai đố phổ thông dẫn giải, Từ Phát, Sài Gòn 1971. 6. Câu đố Việt Nam, Nguyễn Văn Trung, Nxb Tổng hợp TPHCM. (Không rõ năm xuất bản) 7. Văn học dân gian Việt Nam, Đinh Gia Khánh (chủ biên), Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn. (Không rõ năm xuất bản) 2 Luận văn thạc sĩ 8. Văn học dân gian Việt Nam của Hoàng Tiến Tựu. (Không rõ năm xuất bản) 9. Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian của Đỗ Bình Trị. (Không rõ năm xuất bản) 10.Câu đố người Việt về tự nhiên, Triều Nguyên, Nxb Thuận Hoá, 2007. 11.Câu đố người Việt về văn hoá, Triều Nguyên, Nxb Thuận hoá, 2007. Ngoài ra, phần nghiên cứu của Ninh Viết Giao trong Câu đố Việt Nam được chọn in vào Văn học Việt Nam, Văn học dân gian - những công trình nghiên cứu (thuộc phần II “Một số thể loại và tác phẩm”) do Bùi Mạnh nhị chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000. Mục “Hoàn cảnh sử dụng, mục đích và chức năng của câu đố” trong phần nghiên cứu của Nguyễn Văn Trung, được chọn in ở Tổng tập Văn học dân gian Việt - tập 19, Nhận định và tra cứu (thuộc chương VI “Nghiên cứu, bình luận về câu đố”) do Nguyễn Xuân Kính biên soạn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2003. Cũng có thể kể đến một số sách sưu tầm về câu đố khác như: Câu đố dân gian, Lữ Huy Nguyên, Trần Gia Linh, Nguyễn Đình Chỉnh, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 1989; Câu đố, Nguyễn Đình Chúc, Huệ Nguyễn, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2000; Câu đố dân gian Việt Nam, Nguyễn Xuân Thu, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1998;… Hầu hết các sách này, nếu có nghiên cứu về câu đố thì thường chỉ nghiên cứu các vấn đề như nguồn gốc, xuất xứ, cách cấu tạo, tư tưởng nghệ thuật, hoàn cảnh sử dụng, mục đích và chức năng, tần số câu đố, phong tục, lối sống,… Chỉ có cuốn Câu đố Việt Nam của Nguyễn Văn Trung đề cập đến những lối nhìn và tư tưởng trong câu đố nhưng không đi sâu vào chi tiết. Vì thế, có thể nói luận văn này là công trình đầu tiên đặt vấn đề tìm hiểu về cách thức tri nhận thế giới của người Việt qua ngữ liệu câu đố, cụ thể là đặc điểm 3 Luận văn thạc sĩ định danh và đặc điểm tư duy liên tưởng của người Việt trong câu đố. Tuy nhiên, do khuôn khổ của khoá luận và thời gian thực hiện cho nên chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu câu đố về tự nhiên của người Việt và giới hạn ở hai nhóm câu đố về động vật và câu đố về thực vật. 3. Mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi khảo sát của luận văn Như chúng tôi đã trình bày ở trên, mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm góp phần vào việc duy trì sự tồn tại của hình thức sinh hoạt đố - đáp, là một trò chơi trí tuệ bổ ích giúp con người rèn luyện độ tinh nhạy, khả năng phân định, luận giải của tư duy; khả năng sử dụng ngôn ngữ và giúp củng cố nhận thức về thế giới. Hơn nữa, qua những tìm hiểu bước đầu về cách thức tri nhận thế giới của người Việt trên ngữ liệu câu đố, chúng tôi hy vọng có thể đem đến một cái nhìn toàn diện về cách thức quan sát thế giới, cách tư duy và sáng tạo câu đố của ông cha ta để từ đó phần nào thấy được cuộc sống sinh hoạt hàng ngày và công việc của họ. Ngoài ra, chúng tôi cũng hy vọng kết quả nghiên cứu của luận văn có thể góp phần vào việc nghiên cứu câu đố từ góc nhìn của lý luận ngôn ngữ học và có thể hữu ích cho việc nghiên cứu, giảng dạy câu đố nói riêng và ngữ nghĩa học tiếng Việt nói chung. Với các tiêu chí đã nêu ở trên, chúng tôi chọn mấy cuốn sách về câu đố sau để lấy cơ sở tư liệu khảo sát: a. Câu đố người Việt về tự nhiên, Triều Nguyên, Nxb Thuận Hoá, 2007. b. Câu đố Việt Nam, Nguyễn Văn Trung, Nxb Tổng hợp TPHCM, 2007. c. Câu đố Việt Nam, Hồ Anh Thái (chủ biên), Nxb Hải Phòng, 2004. Ngoài ra còn có một số câu đố lấy từ các diễn đàn trên mạng. Do khuôn khổ của khoá luận và thời gian thực hiện, chúng tôi không khảo sát toàn bộ số lượng hiện có của câu đố tự nhiên mà chỉ đi vào khảo sát 400 câu 4 Luận văn thạc sĩ đố về động vật và 400 câu đố về thực vật, là hai nhóm câu đố lớn nhất trong lĩnh vực câu đố tự nhiên của người Việt. 4. Phương pháp nghiên cứu a. Phương pháp thống kê phân loại: Luận văn tiến hành thống kê các đặc điểm, tiêu chí định danh trong câu đố động vật và thực vật sau đó tiến hành phân loại và đi đến những nhận xét bước đầu về cách thức quan sát và tri nhận thế giới của người Việt. b. Phương pháp so sánh đối chiếu: Sau khi khảo sát các đặc điểm định danh trong câu đố động vật và thực vật, chúng tôi có những so sánh bước đầu về cách thức tri nhận thế giới của người Việt trong hai mảng câu đố động vật và thực vật để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt. 5. Đóng góp của luận văn Luận văn là chuyên luận đầu tiên tìm hiểu về cách thức tri nhận thế giới của người Việt trong câu đố. Qua bước đầu tìm hiểu và khảo sát, luận văn có những đóng góp sau: - Góp phần vào việc nghiên cứu câu đố từ góc nhìn của lý luận ngôn ngữ học. - Những kết quả của luận văn có thể hữu ích cho việc nghiên cứu và giảng dạy câu đố nói riêng và ngữ nghĩa học tiếng Việt nói chung. 6. Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương: Chương 1: Những cơ sở lý luận ngôn ngữ học và tổng quan về câu đố của người Việt Chương này có nhiệm vụ chỉ ra những cơ sở ngôn ngữ học định hướng cho nghiên cứu của luận văn và những giới thiệu tổng quát về câu đố của người Việt. Đây là chương có tính chất lý luận và định hướng quan trọng của luận văn. 5 Luận văn thạc sĩ Chương 2: Đặc điểm định danh của câu đố động vật và đặc điểm tư duy liên tưởng của người Việt trong câu đố động vật Chương này có nhiệm vụ khảo sát và phân tích các đặc điểm được chọn làm cơ sở định danh của câu đố động vật, đặc điểm tư duy liên tưởng của người Việt trong khi miêu tả về các loài động vật trong câu đố để từ đó rút ra nhận xét bước đầu về cách thức tri nhận thế giới của người Việt trong câu đố động vật. Chương 3: Đặc điểm định danh của câu đố thực vật và đặc điểm tư duy liên tưởng của người Việt trong câu đố thực vật Chương này có nhiệm vụ khảo sát và phân tích các đặc điểm được chọn làm cơ sở định danh của câu đố thực vật, đặc điểm tư duy liên tưởng của người Việt trong khi miêu tả về các loài thực vật trong câu đố, từ đó có những so sánh về những điểm tương đồng và khác biệt trong cách thức sáng tạo câu đố động vật và thực vật của người Việt và có những nhận xét ban đầu về cách thức tri nhận thế giới của người Việt trong câu đố thực vật. ********** 6 Luận văn thạc sĩ NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN NGÔN NGỮ HỌC VÀ TỔNG QUAN VỀ CÂU ĐỐ CỦA NGƯỜI VIỆT 1.1. Những cơ sở lý luận ngôn ngữ học 1.1.1. Tính võ đoán của ngôn ngữ Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài người. Hệ thống tín hiệu ngôn ngữ có những đặc tính hay bản chất riêng khiến nó có một đẳng cấp vượt trội, không giống với bất cứ hệ thống vật chất nào khác không phải là tín hiệu. Một trong những bản chất quan trọng của tín hiệu ngôn ngữ là tính võ đoán của nó. Theo Ferdinand de Saussure: “Mối tương quan giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện là võ đoán, hoặc nói rõ thêm, vì chúng ta quan niệm tín hiệu là cái tổng thể do sự kết hợp giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện mà thành, có thể phát biểu một cách giản đơn: tín hiệu ngôn ngữ là võ đoán.” Chẳng hạn, ý niệm “hoa” không có mối tương quan bên trong nào với cái tổ hợp âm “H-O-A” được dùng làm cái biểu hiện cho nó. Chính vì thế mà ở các ngôn ngữ khác nhau thì ý niệm này cũng được biểu hiện khác nhau và nó hoàn toàn do sự quy ước hay là do thói quen của tập thể quy định chứ không thể giải thích lý do. Vì hiện thực của đời sống là đa dạng và vô cùng phong phú nên mối liên hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện ở các từ và các yếu tố ngôn ngữ khác cần thiết phải được trừu tượng hoá đến mức là võ đoán. Chính nhờ tính võ đoán này mà các kí hiệu ngôn ngữ có thể được sắp xếp theo các trục dọc (hệ hình) khác 7 Luận văn thạc sĩ nhau của hình thức để tạo nên tính hệ thống của ngôn ngữ. Cũng nhờ tính võ đoán mà ngôn ngữ có tính hình thức. Tuy nhiên, ở đây có sự phân biệt giữa từ đơn và từ ghép. Tiếng Việt cũng vậy, ở các từ đơn, mối tương quan giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện cơ bản là võ đoán, điều này không còn gì để bàn cãi. Tuy nhiên, đối với từ ghép thì khác, mối tương quan giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện không hoàn toàn là võ đoán nữa. Quay trở lại ví dụ ở trên, ý niệm “hoa” và cái tổ hợp âm “H-O-A” được dùng làm cái biểu hiện cho nó không có mối tương quan bên trong nào, hay nói cách khác nó là võ đoán. Tuy nhiên, bên cạnh từ đơn “hoa”, chúng ta có các từ ghép như “hoa giấy”, “hoa hồng”, “hoa hồng bạch”, “hoa hồng nhung”, “hoa sữa”, “hoa đào”,… Ở đây, cái biểu hiện và cái được biểu hiện không phải là không có mối tương quan nào nữa. Chẳng hạn, có thể giải thích về mối tương quan giữa ý niệm “hoa giấy” và tổ hợp âm “H-O-A” “G-I-A-Y” được dùng làm cái biểu hiện cho nó là: 1. Cánh hoa của nó mỏng như giấy nên người ta gọi là hoa giấy; 2. Cánh hoa của nó được làm bằng giấy nên được gọi là hoa giấy. Hay ta có thể giải thích cái tên gọi “hoa hồng” đơn giản là bởi người ta chọn đặc trưng màu sắc của nó để gọi tên. Rồi người ta thấy loài hoa này còn có nhiều màu sắc khác như trắng, vàng, xanh,… nhưng người ta vẫn gọi là hoa hồng bạch, hoa hồng vàng, hoa hồng xanh,… Về tính võ đoán của ngôn ngữ, đến nay có nhiều ý kiến khác nhau. Nguyễn Đức Tồn trong bài viết “ Từ đặc trưng dân tộc của định danh nhìn nhận lại nguyên lí võ đoán của kí hiệu ngôn ngữ” đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 4 năm 1997 cho rằng, “tất cả mọi kí hiệu ngôn ngữ đều có lí do, chứ không phải là võ đoán. Lí do ấy có thể là lí do khách quan, khi tên gọi dựa trên đặc trưng nằm trong chính bản thân đối tượng được gọi tên. Khi đó, tên gọi phản ánh bản chất hoặc một phần bản chất của đối tượng. Thuyết phúsei về tên gọi có lí ở mảng này. 8 Luận văn thạc sĩ Mặt khác, lí do của tên gọi có thể là lí do chủ quan (không nằm trong bản thân đối tượng, mà nằm ở chủ thể định danh), khi đó, tên gọi không phản ánh bản chất của sự vật được gọi tên. Lí do định danh chủ quan thường có ở các tên riêng.” Ở đây, chúng tôi không có ý định bàn luận về vấn đề này mà chỉ muốn nói đến khía cạnh mỗi ngôn ngữ đều có những đặc trưng rất riêng trong cách định danh sự vật và chúng tôi muốn tìm hiểu những nét đặc trưng riêng đó trong định danh ở câu đố của người Việt. 1.1.2. Hình thái bên trong của ngôn ngữ Wilhelm von Humboldt, nhà ngôn ngữ học người Đức, đã có những đóng góp lớn cho ngành ngôn ngữ học và những tư tưởng lớn của ông xoay quanh ba vấn đề chính như sau: - Ngôn ngữ không phải là một "công trình" đã hoàn thành và bất di bất dịch, mà là một hoạt động đang diễn ra. Trí tuệ làm việc không ngừng để thích ứng âm thanh, chất liệu ngữ âm, với sự thể hiện của tư duy. Chính hình thức ngôn ngữ, với những quy tắc hình thái và cú pháp, cho phép và nâng đỡ "lao động đó của tư duy". - Ngôn ngữ chẳng những là một phương tiện giao tiếp mà còn là sự phản chiếu trí tuệ con người, cũng như nghệ thuật và khoa học. "Ngôn ngữ là sự thể hiện hình thức mà qua đấy cá nhân nhìn nhận thế giới, và chuyển nó vào nội tâm của mình". - Về phương diện xã hội, mỗi ngôn ngữ phản ánh những cách tư duy của dân tộc dùng nó, đồng thời cũng tác động đến tư duy đó. Ngôn ngữ tổ chức và hướng dẫn thế giới quan của người nói. Thế giới quan ấy làm thành "hình thái bên trong” của ngôn ngữ, trong lúc "hình thái bên ngoài" là cấu trúc ngữ âm, ngữ pháp, v.v... 9 Luận văn thạc sĩ Trong định danh, khi nói đến “hình thái bên trong” của ngôn ngữ, tức là người ta có ý nói đến việc lựa chọn những đặc điểm, thuộc tính nào của sự vật để gọi tên cho nó. Trong định danh của câu đố người Việt, việc lựa chọn đặc điểm, thuộc tính nào của sự vật, hiện tượng để mô tả ở lời đố cũng thể hiện “hình thái bên trong” của ngôn ngữ, cũng như đặc điểm tư duy của dân tộc hay cách thức tri nhận thế giới của người Việt. 1.1.3. Bức tranh ngôn ngữ về thế giới Trong “Ngôn ngữ học tri nhận” của Lý Toàn Thắng, bình diện nội dung của ngôn ngữ đã được đề cập đến với những luận điểm đáng chú ý như sau: - Các ngôn ngữ tự nhiên đều có những cách thức riêng trong việc tổ chức các tài liệu ngữ nghĩa. - Trong ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ đều có phản ánh một cách hình dung về thực tại khách quan của cộng đồng văn hoá - bản ngữ đó, thường được gọi là “mô hình thế giới”, hay “bức tranh thế giới”, “hình ảnh thế giới” và “biểu tượng về thế giới”. - Mỗi mô hình như thế, ngoài cái chung, cái phổ quát, có cái riêng, cái đặc thù, ứng với từng ngôn ngữ và phản ánh một cách tri giác, một cách nhận thức về thế giới của dân tộc ấy (không giống với dân tộc khác), được gọi là “cách nhìn thế giới”. “Bức tranh thế giới” là hạt nhân hay là thành tố cơ sở của thế giới quan con người. Trong các ngôn ngữ, bức tranh này có thể biến đổi; mỗi bức tranh ngôn ngữ đều liên quan đến một “lôgich” nhìn nhận thế giới, hay nói đúng hơn, với một cách thức tri giác và nhận thức thế giới của người bản ngữ. 1.1.4. Định danh ngôn ngữ Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (chủ biên), “định danh” được định nghĩa như sau: Gọi tên sự vật, hiện tượng (nói về một chức năng của từ ngữ). 10 Luận văn thạc sĩ Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ này được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo quan niệm của G.V. Kolshanskii, định danh là “sự cố định (hay gắn) cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm - biểu niệm (signifikat) phản ánh những đặc trưng nhất định của một biểu vật (denotat) – các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ của các đối tượng và quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần, nhờ đó các đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn từ”. Đồng thời, ông cũng cho rằng: “Bất kì kí hiệu ngôn ngữ nào cũng biểu thị những thuộc tính đã được trừu tượng hoá của các sự vật cụ thể, và do vậy, bao giờ cũng được gắn với một lớp đối tượng hay với một hiện tượng v.v…”. 1 Vấn đề định danh trong câu đố cũng không nằm ngoài nội dung này. Có điều, vì câu đố là một chuỗi những câu văn vần mô tả về một sự vật, hiện tượng nào đó chứ không chỉ là một từ, cho nên phạm vi biểu đạt của nó rộng hơn. Người ta không chỉ nhìn vào các đặc điểm, thuộc tính của sự vật mà còn nhìn vào các mối tương quan của nó với môi trường xung quanh và với con người…. *** Tiếp thu những ý tưởng của Saussure và Humboldt cùng với những luận điểm về “bức tranh ngôn ngữ về thế giới” của Lý Toàn Thắng, chúng tôi đã áp dụng vào việc nghiên cứu và tìm hiểu cách thức định danh và đặc điểm tư duy liên tưởng trong câu đố của người Việt. Cụ thể là, trong định danh, người Việt thường lấy những đặc điểm, thuộc tính gì của sự vật, hiện tượng để gọi tên sự vật; còn trong tư duy liên tưởng, người Việt thường liên tưởng, so sánh sự vật, hiện tượng được đố với cái gì và chúng có sự liên quan với nhau như thế nào. Đó chính là cách thức tri nhận, cách nhìn thế giới của người Việt trong câu đố. Qua đây, chúng ta 1 Dẫn theo Nguyễn Đức Tồn trong cuốn “Đặc trưng văn hoá - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt”, Nxb Đại học QGHN, 2002 11 Luận văn thạc sĩ cũng có thể thấy được phần nào cuộc sống và các mối quan hệ xã hội, các quan niệm dân gian cũng như các đặc điểm tâm lý, tính cách của người Việt xưa. *** Trước khi đi vào tìm hiểu cách thức tri nhận thế giới của người Việt (trên ngữ liệu câu đố), chúng tôi xin giới thiệu những nét tổng quát về câu đố của người Việt để chúng ta có một cái nhìn đầy đủ về câu đố - một thể loại văn học dân gian của người Việt Nam: 1.2. Tổng quan về câu đố của người Việt 1.2.1. Định nghĩa về câu đố Câu đố là thể loại văn học dân gian phản ánh sự vật hiện, tượng theo lối nói chệch. Khi sáng tạo câu đố, người ta tìm đặc trưng và chức năng của từng vật cá biệt và sau đó phản ánh thông qua sự so sánh, hình tượng hóa. Xét về mặt cấu tạo, câu đố có cấu trúc của một đối thoại gồm hai phần: Lời đố và lời giải. Lời đố là một câu hỏi dưới hình thức mô tả những đặc điểm về hình dáng, cấu tạo, màu sắc, công dụng,… của vật đố. Như vậy, câu đố là một kiểu định nghĩa ở đó người đố cố gắng đưa ra những thông tin về vật đố để người giải có đủ cơ sở gọi tên được vật đố. Hai vế khác nhau về xây dựng ngôn ngữ, nhưng giống nhau về nghĩa. Lời đố bao giờ cũng là một mô tả những yếu tố cấu tạo vật đố, nhưng chỉ cần đưa ra hai ba điểm chính hoặc hai ba điểm chính kèm theo một vài điểm phụ. Những điểm chính này là những chỉ dẫn người nhận giải câu đố dựa vào để đoán giải. Do đó câu đố còn có thể hiểu như một xây dựng ngôn ngữ áp dụng phép hoán dụ vì chỉ lấy một đặc điểm tiêu biểu, một phần để chỉ thị toàn phần của sự vật. Xét về mặt xã hội, câu đố là một cuộc chơi sử dụng đồ chơi hình ảnh, từ và ý nghĩa; là một cách chơi chữ, nhằm mục đích giải trí vui vẻ, nhưng là một giải trí của tinh thần vì chủ yếu người chơi sử dụng trí tuệ, óc phán đoán lý luận. Nói 12 Luận văn thạc sĩ cách khác, câu đố là một bài toán, không phải toán số mà là toán văn học có một trật tự luận lý chặt chẽ và hợp lý theo cách riêng của câu đố… Do đó, câu đố biểu lộ chức năng sinh hoạt tri thức thông qua những đấu trí thi đua trổ tài mà trình độ thông minh là tiêu chuẩn chính quyết định ý nghĩa giá trị câu đố và khả năng của người chơi… Trong văn học dân gian, nếu tục ngữ là “túi khôn” kho tàng kiến thức đạo lý về đối nhân xử thế, ca dao dân ca là tiếng nói của tình cảm thì câu đố là tiếng cười của trí tuệ thông minh linh hoạt. Trí tuệ thông minh linh hoạt được đem ra thử thách thi tài trong sinh hoạt câu đố đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến hóc búa. Cái khó, cái hóc búa được thể hiện qua các lối diễn tả bằng so sánh, ví, ẩn dụ, hoặc bằng cái tục, cái quái dị và chơi chữ,…do đó cấu trúc của câu đố thường là một cấu trúc ngôn ngữ gián tiếp ám chỉ. Người nhận đoán giải câu đố phải có những điều kiện như: - Có vốn kiến thức dồi dào về không gian cư ngụ dựa vào óc quan sát tinh tế và trí nhớ thật tốt. - Có óc tưởng tượng phong phú, óc suy luận linh hoạt để sử dụng nhanh, đúng vốn kiến thức kinh nghiệm kể trên. Ngoài ra, người giải đố còn phải có tinh thần cảnh giác cao độ, vì câu đố, đặc biệt dưới hình thức lắt léo hóc búa dựa vào những kỹ thuật diễn tả giống như cạm bẫy có thể đánh lừa, làm lạc hướng, thay vì đưa người giải đố vào lối thoát, lại đưa vào ngõ cụt bế tắc. Câu đố, trừ một số ít trường hợp, nói chung không bày tỏ những ý nghĩa, tư tưởng về đời người và người đời như thường thấy trong ca dao, tục ngữ, truyện thần thoại, cổ tích,… mà thường chỉ nhằm gọi tên cho đúng sự vật là đối tượng của câu đố. 13 Luận văn thạc sĩ Chiều cạnh văn chương nghệ thuật cũng không phải là điều thiết yếu trong câu đố. Tuy câu đố có vần, điệu nhưng không phải là thơ mà chỉ là một thứ văn vần có tính cách thực dụng để dễ nói, dễ đọc, dễ nhớ mà thôi. Câu đố trình bày một số chỉ dẫn về phong tục hay nếp sống của dân tộc. Tính cách dân tộc của câu đố không hẳn ở chính những lối sống (lề lối, kỹ thuật canh tác, làm việc, ăn, ở, mặc, giải trí,…) mà ở cách diễn tả, biểu lộ những nếp sống bằng hình tượng, văn cảnh… Tóm lại, có thể trình bày một định nghĩa về câu đố như sau: Câu đố là một thể loại văn học dân gian, gồm hai bộ phận: bộ phận lời đố và bộ phận lời giải (vật đố); lời đố bằng văn vần, nhằm miêu tả vật đố một cách xác thực, hợp lẽ nhưng làm cho lạ hoá để khó đoán nhận, lời giải nêu tên vật đố, là những sự vật, hiện tượng phổ biến, ai cũng từng hay, từng biết. 1.2.2. Nội dung câu đố 1.2.2.1. Đặc điểm của vật đố Vật đố là những sự vật, hiện tượng, sự việc thuộc về thế giới hiện thực như cây cau, con trâu, cái bát, ánh trăng, (việc) câu cá,… Sự vật trừu tượng hầu như không thấy. Vật đố có hai đặc điểm là tính phổ biến và tính khái quát. a. Tính phổ biến của vật đố đòi hỏi những sự vật, hiện tượng, sự việc được đem ra đố phải là những thứ, những việc mà ai cũng từng hay, từng biết. Bởi mỗi khi đưa ra đố cái mà đối phương chưa từng nghe thấy thì cuộc chơi đố coi như bị huỷ bỏ, vì đã vi phạm yêu cầu vật đố phải là những sự vật phổ biến của trò chơi này. Chính vì thế mà vật đố trong câu đố của người Việt hầu hết là những thứ gần gũi với cuộc sống của người dân như con trâu, con gà, cây cau, lá trầu, hạt thóc, cây ngô, bàn tay, con mắt,… 14 Luận văn thạc sĩ Cũng chính vì yêu cầu về tính phổ biến của vật đố mà những câu đố về một loại sự vật chỉ một thiểu số người nào đó biết được thường diễn ra hạn chế trong nhóm người ấy, và tất nhiên, mức độ lưu truyền cũng hãn hữu. b. Tính khái quát của vật đố yêu cầu sự vật đem ra đố phải là một sự vật mà trong cảm quan ngôn ngữ của người Việt có được sự phân loại với những sự vật khác trong cùng một chủng loại. Ví dụ như vật đố cái cày phân biệt với cái bừa, cái cuốc, cùng là những nông cụ; vật đố cây ngô phân biệt với cây mía, cây chuối, cây cau, cây mít,… cùng là những cây trồng;…. Chúng đồng thời cũng phân biệt với sự vật ở cấp chủng loại lớn hơn, bao hàm chúng, và phân biệt với sự vật ở cấp chủng loại bé hơn mà chúng bao hàm. Ví dụ như có vật đố là cái cày, cái bừa,… mà không có vật đố thuộc chủng loại bao hàm chúng là nông cụ; có vật đố là cái cuốc mà không có vật đố thuộc chủng loại bé hơn mà nó bao hàm như cuốc bàn, cuốc năm răng, cuốc ba răng, cuốc chim, cuốc xếp,… Mặt khác, tính khái quát cũng được biểu hiện ở sự không xác định của vật đố. Các sự vật, hiện tượng khi trở thành vật đố đã bị tước đi những khía cạnh có tính chất cá biệt, cụ thể, để chỉ còn mang những đặc điểm khái quát về chủng loại mà chúng tham gia. 1.2.2.2. Đặc điểm của lời đố Lời đố xét về nội dung và đặt trong mối quan hệ với vật đố, có hai đặc điểm nổi bật, đó là tính xác thực và tính lạ hoá. a. Tính xác thực của lời đố thể hiện ở các chi tiết được nêu trong lời đố phải là những cơ sở xác thực để suy ra vật đố. Không phải tất cá các đặc điểm của vật đố đều được lời đố nêu hết, mà chỉ một vài chi tiết trong số chúng được lựa chọn. Nhưng khi đã nêu thì các chi tiết ấy phải tương ứng một cách xác thực với 15 Luận văn thạc sĩ vật đố (tức thông tin chứa đựng trong lời đố, so với vật đố, có thể thiếu chứ không được thừa, và chúng đều hợp lẽ). b. Tính lạ hoá của lời đố được thể hiện ở sự phong phú, đa dạng của các lời đố khác nhau về cùng một vật đố, và sự khác thường của hình ảnh, của cấu tạo ngữ pháp ở một lời đố. Ví dụ: Các lời đố khác nhau về con cua, ghẹ: - Tám sào chống cạn, Hai nạng chống xiên, Con mắt láo liên; Cái đầu không có! - Tám thằng dân vần cục đá tảng, Hai ông xã xách nạng chạy theo! - Vuông không vuông, Méo không méo, Tròn không tròn; Lặn cùng khe suối, nước non, Bởi chưng ăn sổi nên mắc cạn, có bản son để thờ. v.v… Tính lạ hoá thể hiện bằng những miêu tả khác thường tạo nên những hình ảnh kì dị: Vừa bằng thằng bé lên ba, Thắt lưng con cón chạy ra ngoài đồng. (Bó mạ) Tính lạ hoá còn được thể hiện bởi những sự kết hợp không bình thường về mặt ngữ pháp, thường gặp là sự đánh lẫn đối tượng ở vai chủ thể của một hành động: 16 Luận văn thạc sĩ Đi thì nằm, nằm thì đứng. (Bàn chân) Mặc áo xanh, đội nón xanh; Đi quanh một vòng, Mặc áo trắng, đội nón trắng! (Quả cau khi róc vỏ) 1.2.2.3. Nội dung của lời đố Như chúng tôi đã nói, câu đố nói chung không bày tỏ những ý nghĩa, tư tưởng về đời người và người đời như thường thấy trong ca dao, tục ngữ,… mà thường chỉ nhằm gọi tên cho đúng sự vật là đối tượng của câu đố. Nhưng cũng có một bộ phận câu đố mà lời đố ngoài chuyện để chỉ ra vật đố còn có thể tìm thấy nội dung về nhân sinh, về xã hội nhất định. Ví dụ: Chân đen mình trắng, Đứng nắng giữa đồng. Đây là câu đố về con cò, nhưng thực chất là nói về người nông dân dãi nắng dầm mưa ngoài đồng ruộng để làm nên thóc gạo. Hay câu đố sau đây nói về người và bóng nhưng cũng là để lên án tình bạn có tính chất cơ hội: Nắng ba năm ta không bỏ bạn, Mưa một ngày bạn lại bỏ ta. Câu đố về cái chiếu lại chính lời phàn nàn của người vợ bị chồng vũ phu, ngược đãi: Xưa kia em trắng như ngà, Vì chàng quân tử thiếp đà nên thâm. Trách ai mảng tính vô tâm, 17 Luận văn thạc sĩ Chàng đánh, chàng đập, chàng lại còn nằm với em. Câu đố về con dê nhưng lại là lời phê phán thói hư tật xấu của tầng lớp thống trị: Hơn đời tốt bộ mày râu, Trong làng sừng sỏ dễ hầu kém ai. Tính quen dâu bộc ăn chơi, Dâm ô để một tiếng cười về sau. v.v… 1.2.3. Hình thức của câu đố Đa số câu đố được thể hiện bằng câu nói xuôi hay có vần điệu giống như thơ với nhiều thể loại từ hai tiếng, ba tiếng, bốn tiếng, thể ngũ ngôn, thể lục ngôn, thể song thất lục bát hay các thể dạng thơ hỗn hợp khác… Tuy nhiên, những hình thức diễn tả này chỉ để làm cho câu đố dễ nói, dễ nhớ, dễ truyền miệng đi mà thôi chứ không phải để thưởng thức về văn chương, vì cái hay, cái thú vị của câu đố chính là ở mục đích thách thức khả năng nhận thức, lý luận suy diễn của nó. Mặc dù câu đố luôn luôn sử dụng những hình thức xây dựng ngôn ngữ như so sánh, ví, ẩn dụ, nhưng hình như trước hết và chủ yếu là do yêu cầu về kỹ thuật hơn là về nghệ thuật, chỉ nhằm làm sao cho lời đố trở nên rắc rối, phức tạp, hóc búa, khó đoán giải mà thôi. Vì vậy, ở đây chúng tôi không trình bày chi tiết về các thể thơ sử dụng trong câu đố mà sẽ nói về các khía cạnh hình thức sau của câu đố: 1.2.3.1. Hình ảnh Hình ảnh ở lời đố thường được thể hiện theo lối lạ hoá, nhằm làm cho đối phương lạc hướng, hay khó khăn trong việc tìm ra đáp án cho lời đố. Lối lạ hoá của hình ảnh được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau như sử dụng những hình ảnh, âm thanh gây nhiễu; phóng đại; tráo hình ảnh muốn nói bằng hình ảnh cùng 18
- Xem thêm -