Tài liệu Biểu tượng trăng, hồn, máu trong thơ hàn mặc tử

  • Số trang: 52 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 239 |
  • Lượt tải: 1
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC LÊ THU HƢƠNG BIỂU TƢỢNG TRĂNG, HỒN, MÁU TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, tháng 05 năm 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC LÊ THU HƢƠNG BIỂU TƢỢNG TRĂNG, HỒN, MÁU TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Giảng viên hƣớng dẫn: ThS. Nguyễn Công Tho Sơn La, tháng 05 năm 2014 LỜI CẢM ƠN Khóa Luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của Thạc sĩ Nguyễn Công Tho - Giảng viên bộ môn Văn học Việt Nam – Khoa Ngữ văn, sự quan tâm của phòng Nghiên cứu khoa học, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, Thư viện nhà trường cùng các thầy cô giáo bộ môn tiếng Việt, Trường Đại học Tây Bắc. Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ đó! Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Thạc sĩ Nguyễn Công Tho người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận. Sơn La, tháng 5 năm 2014 Sinh viên Lê Thu Hƣơng MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................. 1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .............................................................................. 2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................... 5 4. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài .................................................................... 5 5. Ý nghĩa của đề tài ........................................................................................... 6 6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu ..................................................... 6 7. Cấu trúc của đề tài .......................................................................................... 7 Chƣơng 1: NHƢ̃ NG VẤN ĐỀ CHUNG .......................................................... 8 1. Vài nét về Hàn Mặc Tử .................................................................................. 8 2. Khái niệm biểu tượng và biểu tượng Trăng, Hồn, Máu................................. 11 2.1. Khái niệm biểu tượng ................................................................................ 11 2.2. Biểu tượng Trăng ...................................................................................... 12 2.3. Biểu tượng Hồn ......................................................................................... 13 2.4. Biểu tượng Máu......................................................................................... 15 Chƣơng 2: BIỂU TƢỢNG TRĂNG, HỒN, MÁU TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ ................................................................................................................... 18 1. Biểu tượng Trăng trong thơ Hàn Mặc Tử .................................................... 18 1.1.Trăng - mối lương duyên kì ngộ ................................................................. 18 1.2. Trăng - người bạn tâm giao ....................................................................... 22 1.3. Trăng – huyền ảo, ma quái, rùng rợn ......................................................... 26 1.4. Trăng – nhân vật huyền thoại .................................................................... 28 2. Biểu tượng Hồn ............................................................................................ 30 2.1. Hồn - biểu tượng của sự sống .................................................................... 30 2.2. Hồn trong thơ Hàn Mặc Tử mang màu sắc Thiên Chúa giáo ..................... 32 2.3. Hồ n là tâm trạng, cảm xúc ......................................................................... 33 3. Biểu tương Máu trong thơ Hàn Mặc Tử ....................................................... 38 3.1. Máu - nguồn sinh lực của sự sống ............................................................ 38 3.2. Máu - ẩn dụ về cái chết ............................................................................. 41 KẾT LUẬN ..................................................................................................... 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................. 47 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Hàn Mặc Tử là một nhà thơ có số phận kì lạ và đau thương. Đường thơ bất tận và đường đời ngắn ngủi của Hàn Mặc Tử chập nhau trong khoảng mười năm, để lại những tiếng thơ bất hủ cho hậu thế. Hàn Mặc Tử chính thức gia nhập phong trào “Thơ mới” năm 1936 với tập thơ Gái quê, ông được xem là nhà thơ lạ nhất trong phong trào “Thơ mới” (1932-1945), người cai trị Trường thơ Loạn của các nhà thơ Bình Định. Trong bài viết Hàn Mặc Tử, anh là ai? (Văn Nghệ Bình Định – 1988 - Số 18 (Xuân Mậu Thìn) nhà thơ Chế Lan Viên đã phân tích rất hay về Hàn Mặc Tử khiến người đọc phải đặt ra câu hỏi: Không biết sự tồn tại của ông là huyền thoại hay hiện thực? Ông là thiên tài hay là kẻ mê hoặc điên loạn?. Nhưng dù Hàn Mặc Tử là người như thế nào, có một điều không thể phủ nhận: ông đã để lại một dấu ấn không phai mờ trong lịch sử văn chương Việt Nam thế kỉ XX. Trên hành trình tinh thần của Hàn Mặc Tử, thơ ca chính là sự cứu rỗi của linh hồn để anh hòa với thiên nhiên, tìm đến cõi vĩnh hằng của thể xác. Thế giới thi ca của Hàn Mặc Tử luôn ám ảnh bởi các yếu tố Trăng, Hồn, Máu. Đó là những hình tượng nghệ thuật đặc sắc, xuyên suốt trong cảm hứng thi ca của Hàn Mặc Tử, chính những điều ấy đã tạo ra một giọng thơ đặc biệt và không chia sẻ âm hưởng với bất kì ai. Hơn một nửa thế kỉ đã trôi qua từ khi chúng ta phải đau xót tiễn đưa một tài năng thơ lạ lùng, phức tạp đầy bí ẩn trong phong trào thơ mới 1932 – 1945. Đó là nhà thơ Hàn Mặc Tử. Bên bờ biển Quy Nhơn xanh thẳm với muôn ngàn con sóng vỗ dào dạt, cái nắng quyện vào cái gió của mảnh đất miền Trung mặn mà, chính là nơi thi sĩ đi vào cõi vĩnh hằng, giã từ trần gian với một tâm hồn thanh khiết. Ông chỉ có mặt trên cuộc đời với khoảng thời gian ngắn ngủi trong quằn quại đau đớn với căn bệnh quái ác nhưng ông đã sống và cống hiến hết mình cho khát vọng văn chương làm nên một sức sáng tạo kì lạ: Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ, sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của tình yêu tôi, đã vui, buồn, giận hờn đến gần 1 như đứt sự sống. Một nguồn thơ được nuôi dưỡng bằng tất cả tinh huyết, bằng giọt lệ cạn khô, bằng giằng xé đau đớn trong bệnh tật để say sưa rung động trong một trái tim khổ đau. Nhà thơ Chế Lan Viên đã hơn một lần khẳng định thiên tài hiếm thấy này: “Tử là một đỉnh cao lòa chói trong văn học thế kỉ thậm chí qua các thế kỉ. Trước không có ai, sau không có ai Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi lòa chói rực rỡ của mình” [16]. Ngôi sao ấy đã bay vào vũ trụ bao la, đi vào cõi vĩnh hằng nhưng vệt sáng của nó vẫn còn chứa một sức đê mê huyền ảo thấp thoáng hiện lên trong từng thi phẩm tạo nên sức cuốn hút lạ kì. Những cung đàn vui, buồn, giận hờn, sự quằn quại và đau đớn đến tê liệt thể xác và tâm hồn, những khát khao và những lời cầu nguyện đều in dấu trong thơ ông. Những biểu tượng trong thơ Hàn Mặc Tử được coi là những biểu tượng tượng lạ lùng, đầy bí ẩn. Thơ ông đã đi từ cuộc đời đến những cõi xa xôi, mơ mộng, huyền ảo. Thơ đem đến cho tâm hồn Hàn Mặc Tử những phút giây sáng láng, đê mê, một sức sáng tạo tràn đầy lúc êm dịu, lúc day dứt, lúc mãnh liệt như những con sóng ào ạt xô bờ, lúc tê tái, buốt giá như băng tuyết. Nghiên cứu về những biểu tượng Trăng, Hồn, Máu trong thơ Hàn Mặc Tử là ngược dòng quá khứ trở về với cõi xa xưa trong cuộc đời một con người bất hạnh, tìm về cội nguồn trong sự sáng tạo bất diệt và nguồn sống mãnh liệt của thơ ca. Với những lí do như đã trình bày tôi mạnh dạn chọn vấn đề Biểu tượng Trăng, Hồn, Máu trong thơ Hàn Mặc Tử làm vấn đề nghiên cứu. Với hi vọng kết quả nghiên cứu sẽ góp phần hữu ích trong việc tìm hiểu thế giới thơ Hàn Mặc Tử một cách có hiệu quả hơn. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Có thể nói từ trước tới nay việc nghiên cứu về Hàn Mặc Tử là một hoạt động diễn ra khá sôi nổi trong giới phê bình văn học. Về biểu tượng Trăng, Hồn, Máu trong thơ Hàn Mặc Tử mặc dù đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm xem xét ở góc độ này hoặc góc độ khác nhưng do mục đích của từng công trình khác nhau nên sự quan tâm chưa được sâu rộng. 2 Năm 1941, công trình nghiên cứu của Trần Thanh Mại Hàn Mặc Tử thân thế và thi văn một công trình có quy mô và chuyên biệt đầu tiên viết về Hàn Mặc Tử. Tác giả đã đi sâu phân tích từng cử chỉ tính tình của thi sĩ từng giai đoạn trong cuộc đời nhà thơ và coi đó như “những cái vòng của sợi dây chuyền để mà ảnh hưởng cái đích mà người viết sách muốn đi đến để cắt nghĩa thi phẩm của nhà thơ” [8]. Trần Thanh Mại đã đi sâu nghiên cứu theo một hướng mới là tiếp cận nghiên cứu số phận đời tư đau khổ, bệnh hoạn, những mối tình dở, những đêm trăng sáng, màu trắng tinh khiết đến hãi hùng của dòng sông, của lấp loáng bờ cát trắng trải dài. Tuy nhiên trong công trình nghiên cứu của ông vẫn mang những trăn trở mà chính ông cũng không thể lí giải hết được. Nhưng công trình nghiên cứu của ông có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì đã đem đến cho độc giả một cái nhìn tổng quan nhất về thơ Hàn Mặc Tử. Tuy nhiên trong việc sưu tầm và công bố những tư liệu về Hàn Mặc Tử của ông có đôi chút sơ xuất nên Quách Tấn đã phát đơn kiện và vụ án Hàn Mặc Tử gây xôn xao dư luận và có không ít những bất bình trong giới văn nghệ sĩ. Với tác giả thi nhân Việt Nam - Hoài Thanh và Hoài Chân thực sự đã rất nhạy cảm tinh tế khi đi vào thế giới thơ Hàn Mặc Tử: “ngót một tháng trời tôi đã đọc thơ Hàn Mặc Tử. Tôi đã đi theo Hàn Mặc Tử từ lối thơ Đường đến vở kịch bằng thơ Quần Tiên Hội. Và tôi đã mệt lả… chính những lời Hàn Mặc Tử nói trong tựa “thơ điên”: “vườn thơ của người rộng rinh không bờ bến càng đi xa càng ớn lạnh”[11]. Có rất nhiều công trình nghiên cứu cùng những khẳng định đánh giá của các nhà nghiên cứu văn học trước năm 1945. Đó là những đóng góp đầu tiên khai phá mở đường cho độc giả đi vào thế giới thơ kì lạ, là những viên gạch đầu tiên xây lên bức tường thành vĩ đại trong hồn thơ Hàn Mặc Tử. Nguyễn Tấn Long trong Việt Nam thi nhân tiền chiến đã nói về những thẩm định của các nhà nghiên cứu về Hàn Mặc Tử: “có những kẻ chiêm ngưỡng thơ Hàn Mặc Tử như một tâm hồn cảm xúc đầy âm nhạc và màu sắc. Có kẻ mượn phân tâm học để mổ xẻ thơ Hàn Mặc Tử bằng kết tinh của nhân vật bệnh 3 hoạn, có kẻ ca tụng thơ Hàn Mặc Tử như một sức sống chân thật và mãnh liệt của cuộc đời” [7]. Ta có thể nhìn lại bức tranh toàn cảnh về các công trình nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử theo những khuynh hướng sau: Thứ nhất là nhóm các bài viết theo lối phê bình khách quan: Những công trình nghiên cứu theo hướng này chủ yếu thiên về đời tư với căn bệnh hoạn của Hàn Mặc Tử và những mối tình chớm nở của thi sĩ mà rất ít nói đến sự nghiệp văn chương tiêu biểu là những công trình nghiên cứu của Hoàng Trọng Miên Những ngày sống chung với Hàn Mặc Tử ở Sài Gòn, Ngọc Sương với Tưởng niệm Hàn Mặc Tử Phan Công Thiện với Một định mệnh đeo riết bên mình Hàn Mặc Tử và Xin chút long để lại lối xưa của Đào Trường Phúc… Thứ hai là nhóm các bài viết về Hàn Mặc Tử trong mối quan hệ với một số tôn giáo như Thiên Chúa giáo, đạo Phật, đạo giáo. Về phương diện này đã gây ra nhiều tranh cãi xung quanh vấn đề “chất Đạo” và “chất Đời” trong thơ Hàn Mặc Tử. Những công trình nghiên cứu vẫn chỉ dừng lại ở mức đặt ra vấn đề đức tin trong thơ Hàn Mặc Tử mà chưa thể lí giải được vì sao lại có sự hài hòa giữa một bên là yêu cầu đức tin tuyệt đối và một bên là sự phóng túng của tâm hồn thi sĩ khát khao giao cảm với cuộc đời. Với công trình Đức tin trong hồn thơ Hàn Mặc Tử Đặng Tiến đã có phần hơi cực đoan khi nhận định: Toàn bộ thi phẩm của Hàn Mặc Tử là tiếng vọng của thánh tự, Hàn Mặc Tử đã phải sống cuộc đời đau thương của một người tín đồ để được tồn sinh sau khi cái chết được phục sinh trong thế giới khải huyền. Theo cách hiểu quan điểm tôn giáo thần bí siêu hình Dũng Lạc Trần Cao Tường đã chọn hướng tiếp cận hiện tượng Hàn Mặc Tử để nhận ra cái huyền bí ở bên kia cõi chết. Tuy chưa có sức thuyết phục về mặt khoa học nhưng cũng là một hướng nghiên cứu mới Bước sang thập kỉ 80, không khí của thời kì đổi mới như đem một luồng sinh khí mới mạnh mẽ và khoáng đạt hơn so với thời kì trước. 4 Lê Đình Kị cho rằng trong Thơ Điên có nỗi đau của riêng Hàn Mặc Tử hòa vào nỗi đau chung của đất nước. Đây thực sự là một cái nhìn hết sức mới mẻ về Hàn Mặc Tử và Thơ Điên. Khuynh hướng nghiên cứu theo kiểu sưu tầm tư liệu về cuộc đời cũng như thơ ca Hàn Mặc Tử là khuynh hướng tiêu biểu. Với công trình nghiên cứu của Phạm Xuân Tuyển Đi tìm chân dung Hàn Mặc Tử (1997). Sau bao tháng ngày tìm về với lối xưa, chốn cũ đi theo những dấu chân, những con đường mà nhà thơ đã đi qua tác giả Phạm Xuân Tuyển đã thu nhặt tập hợp những thi liệu quý giá ấy để làm nên công trình tương đối trọn vẹn về bức chân dung cuộc đời Hàn Mặc Tử. Có thể nói đây là một tài liệu rất quý phục vụ cho việc nghiên cứu và tìm hiểu về tác giả Hàn Mặc Tử. Ngoài ra, còn một số bài viết rất có ý nghĩa cần nói tới như: Hàn Mặc Tử, hương thơm và mật đắng của Trần Thị Huyền Trang (1991), Hàn Mặc Tử, thi sĩ đồng trinh của Nguyễn Thụy Kha (1993)… 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tƣợng nghiên cứu Trong đề tài này tôi sẽ tập trung khảo sát những biểu tượng Trăng, Hồn và Máu trong thơ Hàn Mặc Tử (biểu hiện thông qua những hình tượng thơ, cảm hứng nghệ thuật, hình thức nghệ thuật mà tác giả sử dụng trong thơ...), từ đó để làm rõ: Biểu tượng Trăng, Hồn và Máu trong thơ Hàn Mặc Tử. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Dựa trên sự khảo sát một số tác phẩm của nhà thơ tập: Thơ Điên, Lệ Thanh thi tập, Gái quê, Đau thương, Xuân Như Ý, Thượng Thanh Khí, Cẩm châu duyên, Duyên kì ngộ... cùng một số đoạn văn, thư từ do Hàn Mặc Tử viết và được sưu tầm lại. 4. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 4.1. Mục đích Mục đích của đề tài là trên cơ sở nguồn ngữ liệu thơ Hàn Mặc Tử tìm hiểu thêm để làm rõ thêm ý nghĩa các biểu tượng Trăng, Hồn và Máu trong thơ Hàn Mặc Tử. 5 4.2. Nhiệm vụ Căn cứ vào mục đích nghiên cứu của đề tài, nhiệm vụ đề tài hướng tới các nội dung sau: - Nghiên cứu lí thuyết về biểu tượng Trăng, Hồn, Máu. - Thấy được một cách tổng quan về hệ thống biểu tượng Trăng, Hồn, Máu trong thơ Hàn Mặc Tử. 5. Ý nghĩa của đề tài 5.1. Ý nghĩa lí luận Nghiên cứu đề tài “Biểu tượng Trăng, Hồn, Máu trong thơ Hàn Mặc Tử”, tôi chọn cách tiếp cận với thế giới biểu tượng nghệ thuật mới mẻ trong dòng văn học đương đại, khai thác những đặc sắc và những đặc trưng thẩm mỹ của một phong cách thơ độc đáo. Với hi vọng rằng sau khi nghiên cứu thành công đề tài này sẽ góp phần nhận diện thơ Hàn Mặc Tử sâu hơn, rộng hơn và đưa ra được cái nhìn đầy đủ có hệ thống về tác giả 5.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Tôi hi vọng với đề tài này có thể sử dụng làm một trong những tư liệu tham khảo cho những ai yêu thơ Hàn Mặc Tử, những ai quan tâm tới tác giả văn học này một lần nữa được sống trong thế giới thơ ông và chiêm nghiệm về nó trong kiếp nhân sinh của cuộc đời. Có thể sẽ làm tư liệu phục vụ cho việc giảng dạy ở trường phổ thông sau này của tôi cũng như độc giả đón đọc nó. 6. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu Đi sâu nghiên cứu vấn đề Biểu tượng Trăng, Hồn, Máu trong thơ Hàn Mặc Tử là một vấn đề không hề đơn giản. Để tiếp cận và nghiên cứu tìm ra nét mới và để tránh sự trùng lặp trong đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp cơ bản sau: 6.1. Phƣơng pháp phân tích Đây là phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu trong khóa luận này. Từ những tài liệu nhận xét, đánh giá của các nhà phê bình nghiên cứu cùng sự tìm tòi sáng tạo của bản thân, tôi vận dụng đưa vào đề tài. Qua đây chúng ta sẽ thấy 6 rõ hơn những nét đặc sắc trong biểu tượng Trăng, Hồn, Máu trong thơ Hàn Mặc Tử, thấy được những khám phá sáng tạo phi thường của nhà thơ. 6.2. Phƣơng pháp so sánh Trong quá trình phân tích Biểu tượng Trăng, Hồn và Máu trong thơ Hàn Mặc Tử, tôi tiến hành liên hệ, so sánh điểm khác biệt của ông với các nhà thơ khác. Như vậy sẽ giúp cho đề tài thêm sức thuyết phục và góp phần khẳng định tài năng cùng những đóng góp của Hàn Mặc Tử cho nền văn học nước nhà. 6.3. Phƣơng pháp hệ thống Người viết nhận thấy rằng sáng tác thơ của Hàn Mặc Tử là một chỉnh thể nghệ thuật trọn vẹn và mang tính hệ thống. Vì thế, khi nghiên cứu người viết đặt nó trong một hệ thống chung theo một trật tự nhất định. 6.4. Phƣơng pháp thống kê – phân loại Phương pháp này sẽ giúp cho việc phân tích những nhận xét về thơ Hàn Mặc Tử có chứng cứ cụ thể. Một mặt nào đó giúp cho việc so sánh đối chiếu có thêm sức thuyết phục. 7. Cấu trúc của đề tài Trong đề tài này ngoài phần mở đầu, kết luận, phần mục lục và thư mục tham khảo còn có 2 chương, cụ thể: Chương 1: Những vấn đề chung Chương 2: Biểu tượng Trăng, Hồn, Máu trong thơ Hàn Mặc Tử 7 Chƣơng 1: NHƢ̃ NG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Vài nét về Hàn Mặc Tử Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ở làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình; lớn lên ở Quy Nhơn, tỉnh Bình Định trong một gia đình theo đạo Công giáo. Hàn Mặc Tử có duyên với 4 chữ Bình: sinh tại Quảng Bình, làm báo Tân Bình, có người yêu ở Bình Thuận và mất tại Bình Định. Tổ tiên Hàn Mặc Tử gốc họ Phạm ở Thanh Hóa. Ông cố là Phạm Chương vì liên quan đến quốc sự, gia đình bị truy nã, nên người con trai là Phạm Bồi phải di chuyển vào Thừa Thiên Huế đổi họ Nguyễn theo mẫu tánh. Sinh ra ông Nguyễn Văn Toản lấy vợ là Nguyễn Thị Duy (con cụ Nguyễn Long, ngự y có danh thời vua Tự Đức), sinh hạ được 8 người con: 1- Nguyễn Bá Nhân (tức nhà thơ Mộng Châu) cũng là người dìu dắt Hàn Mặc Tử trên con đường thơ văn. 2- Nguyễn Thị Như Lễ. 3- Nguyễn Thị Như Nghĩa. 4- Nguyễn Trọng Trí (tức nhà thơ Hàn Mặc Tử). 5- Nguyễn Bá Tín (người dời mộ Hàn Mặc Tử từ Quy Hòa về Ghềnh Ráng vào ngày 13-02-1959). 6- Nguyễn Bá Hiếu. 7- Nguyễn Văn Hiền. 8- Nguyễn Văn Thảo. Hàn Mặc Tử mang vóc mình ốm yếu, tính tình hiền từ, giản dị, hiếu học và thích giao du bè bạn trong lĩnh vực văn thơ. Do thân phụ là ông Nguyễn Văn Toản làm thông ngôn, ký lục thường di chuyển nhiều nơi, nên Hàn Mặc Tử cũng đã theo học ở nhiều trường khác nhau như Sa Kỳ (1920), Qui Nhơn, Bồng Sơn (1921-1923), Pellerin Huế (1926). Hàn Mạc Tử, Lệ Thanh, Phong Trần là các bút danh khác của ông. Ông có tài năng làm thơ từ rất sớm khi mới 16 tuổi. Ông cũng đã từng gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của chí sỹ này. Ông được Phan Bội Châu giới 8 thiệu bài thơ Thức khuya của mình lên một tờ báo. Việc xướng họa thơ văn với nhà yêu nước Phan Bội Châu đã làm cho Hàn Mặc Tử, khi đó lấy bút hiệu Phong Trần, nổi tiếng ngay lập tức. Làng văn xôn xao trước sự xuất hiện đầy ấn tượng của một thi sĩ mới. Đặc biệt hơn nữa, tác giả còn được Phan Bội Châu tôn xưng là tiên sinh. Tiếp sau đó, Hàn Mặc Tử ra Huế để tìm thăm Phan Bội Châu. Đây là một việc làm hết sức nguy hiểm, vì thực dân Pháp sẽ chú ý đến tất cả những ai có mối quan hệ mật thiết với nhà yêu nước này. Sau cuộc gặp gỡ, Hàn Mặc Tử thường xuyên liên hệ thư từ với Phan Bội Châu, chàng còn gửi thơ của những người bạn khác ra cho ông. Mật thám Pháp sau một thời gian theo dõi, cuối cùng đã quyết định gạt tên chàng ra khỏi danh sách những người được bảo trợ sang Pháp du học. Tiếp đó, Sogny, Chánh sở mật thám Huế gửi công văn vào Quy Nhơn yêu cầu điều tra về chàng. Chánh sở mật thám Quy Nhơn là Véran gọi chàng lên tra hỏi nhiều lần làm cho gia đình hết sức lo lắng. Người anh đầu của chàng phải gửi thư ra Huế nhờ Thượng thư Nguyễn Hữu Bài, một người quen thân với gia đình chàng xưa nay, can thiệp. Từ đó chính quyền mới để ông được yên. Không được đi du học, cuộc đời Hàn Mặc Tử rẽ sang một ngả khác. Từ đây, chàng bắt đầu bước chân vào con đường viết báo. Thời gian này, tình hình kinh tế nói chung rất khó khăn. Nạn thất nghiệp tràn lan. Chàng làm thêm công việc biên chép các tờ trích lục cũ cho Sở Đạc điền Quy Nhơn. Nhưng công việc này chỉ đem đến cho chàng một khoản tiền đủ để mua báo, giấy viết và tem thư gửi bài. Rồi xảy ra cơn bão lớn năm 1934 làm sập căn nhà của chàng đang ở. Nợ nần ập đến. Hàn Mặc Tử quyết định rời Quy Nhơn, vào Sài Gòn lập nghiệp, năm đó ông 21 tuổi. Đến Sài Gòn, ông làm phóng viên phụ trách trang thơ cho tờ báo Công luận. Khi ấy, Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm thơ và hay gửi lên báo. Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với nhau, và ông quyết định ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Một tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người. Theo gia đình Hàn Mặc Tử, thì vào khoảng đầu năm 1935, họ đã phát hiện những dấu hiệu của bệnh phong trên cơ thể ông. Tuy nhiên, ông cũng không 9 quan tâm vì cho rằng nó là một chứng phong ngứa gì đó không đáng kể. Cho đến năm 1936, khi ông được xuất bản tập Gái quê, rồi đi Huế, Sài Gòn, Quảng Ngãi, vào Sài Gòn lần thứ hai, được bà Bút Trà cho biết đã lo xong giấy phép cho tờ Phụ nữ tân văn, quyết định mời Hàn Mặc Tử làm chủ bút, bấy giờ ông mới nghĩ đến bệnh tật của mình. Nhưng ý ông là muốn chữa cho dứt hẳn một loại bệnh thuộc loại “phong ngứa” gì đấy, để yên tâm vào Sài Gòn làm báo chứ không ngờ đến một căn bệnh nan y. Năm 1938 - 1939, Hàn Mặc Tử đau đớn dữ dội. Tuy nhiên, ở bên ngoài thì không ai nghe ông rên rỉ than khóc. Ông chỉ gào thét ở trong thơ mà thôi. Trước ngày Hàn Mặc Tử vào trại phong Quy Hòa, Nguyễn Bá Tín, em ruột của nhà thơ cho biết tình trạng bệnh tật của anh mình như sau: “Da anh đã khô cứng, nhưng hơi nhăn ở bàn tay, vì phải vận dụng sức khỏe để kéo các ngón khi cầm muỗng ăn cơm. Bởi vậy, trông như mang chiếc “găng” tay bằng da thô. Toàn thân khô cứng” [12]. Ông Nguyễn Bá Tín, trong một chuyến thăm Bệnh viện Quy Hòa, có đến thăm bác sĩ Gour Vile. Bác sĩ nói rằng: Bệnh cùi rất khó phân biệt. Giới y học (thời đó) chưa biết rõ lắm. Tuy triệu chứng giống nhau, nhưng lại có nhiều thứ. Ông bác sĩ quả quyết bệnh cùi không thể lây dễ dàng được. Nhiều thông tin cho rằng, một hôm Hàn Mặc Tử đi dạo với bà Mộng Cầm ở lầu Ông Hoàng (Phan Thiết), qua một cái nghĩa địa có một ngôi mộ mới an táng thì gặp mưa. Bỗng ông phát hiện ra từng đốm đỏ bay lên từ ngôi mộ. Sau đó ông về nhà nghỉ, để rồi sớm mai ông phát hiện ra mình như vậy. Đó là căn bệnh do trực khuẩn Hansen gây nên. Trước đây vì thành kiến sai lầm rằng đây là căn bệnh truyền nhiễm nên bao nhiêu bệnh nhân đã bị hắt hủi, cách ly, xa lánh thậm chí bị ngược đãi, thì Hàn Mặc Tử cũng không là ngoại lệ. Lúc này, gia đình ông phải đối phó với chính quyền địa phương vì họ đã hay tin ông mắc căn bệnh truyền nhiễm, đòi đưa ông cách ly với mọi người. Sau đó gia đình phải đưa ông trốn tránh nhiều nơi, xét về mặt hiệu quả chữa trị thì đúng là phản khoa học vì lẽ ra cần phải sớm đưa ông vào nơi có đầy đủ điều kiện chữa trị nhất lúc bấy giờ là Bệnh viện phong Quy Hòa. Trong câu chuyện với người em của thi sĩ Hàn Mặc 10 Tử, bác sĩ Gour Vile cũng nói rằng kinh nghiệm từ các trại cùi, không có bệnh nhân nào chỉ đau có từng ấy năm mà chết được. Ông trách gia đình Hàn Mặc Tử không đưa nhà thơ đi trại phong sớm. Và bác sĩ cho rằng, Hàn Mặc Tử chết là do nội tạng hư hỏng quá nhanh do uống quá nhiều thuốc tạp nham của lang băm trước khi nhập viện phong Quy Hòa. Hàn Mặc Tử bỏ tất cả quay về Quy Nhơn vào nhà thương Quy Hòa (20 tháng 9 năm 1940) mang số bệnh nhân 1.134 và từ trần vào lúc 5 giờ 45 phút rạng sáng 11 tháng 11 năm 1940 tại nhà thương này vì chứng bệnh kiết lỵ, khi mới bước sang tuổi 28. Cuộc đời của ông được biết đến với nhiều mối tình, với nhiều người phụ nữ khác nhau, đã để lại nhiều dấu ấn trong văn thơ của ông - có những người ông đã gặp, có những người ông chỉ giao tiếp qua thư từ, và có người ông chỉ biết tên như Hoàng Cúc, Mai Đình, Mộng Cầm, Thương Thương, Ngọc Sương, Thanh Huy, Mỹ Thiên. Hàn Mặc Tử để lại cho đời một số lượng thơ và kịch thơ khá lớn với nhiều tập thơ nổi tiếng Thơ điên, Lệ Thanh thi tập, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên. Thơ anh trước không ai có, sau không ai có. Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình (Phan Cự Đệ). Với lối thơ kinh dị lạ thường, đặc biệt trong tất cả các tập thơ của Hàn Mặc Tử đều chủ yếu nói về Trăng. Trăng như một người bạn có linh hồn biết cười, biết khóc, biết gào thét, đôi khi lại như là người tình trong mộng. 2. Khái niệm biểu tƣợng và biểu tƣợng Trăng, Hồn, Máu 2.1. Khái niệm biểu tƣợng Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán (chủ biên), biểu tượng là khái niệm dùng để chỉ một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác và cho con người hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu, sau khi tác động của sự vật vào giác quan đã chấm dứt. Trong nghĩa hẹp, biểu tượng là “một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lý sâu xa với con người 11 và cuộc đời” [6; 24]. Trong nghĩa rộng, biểu tượng là “đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng văn học nghệ thuật” [6; 24]. Biểu tượng còn được hiểu là cổ mẫu (mẫu gốc, siêu mẫu, siêu tượng…). Còn trong Từ điển biểu tượng thế giới thì diễn giải “các mẫu gốc hiển hiện ra như những cấu trúc tâm thần gần như phổ biến, bẩm sinh hay được thừa kế, một thứ ý thức tập thể; chúng thể hiện qua các biểu tượng đặc biệt chứa đầy một công suất năng lượng lớn. Chúng đóng một vai trò động lực và thống nhất đáng kể trong sự phát triển nhân cách” [2]. Theo các tài liệu chúng tôi có được, khái niệm cổ mẫu (archetype) này được nhà phân tâm học người Thuỵ Sĩ Carl Gustav Jung (1875 - 1961) nghiên cứu và đề xuất. Jung đã phát triển thuyết vô thức của Sigmund Freud (1856 - 1939, người Áo) và đưa ra một cái nhìn mới về hệ tâm thức con người. Trong đó vô thức tập thể - ngôi nhà xuyên thời đại của cổ mẫu là khái niệm cốt lõi [3]. Như vậy cổ mẫu là cấu trúc tinh thần bẩm sinh, cấu trúc tâm thần gần như phổ biến hoặc thừa kế; và nếu biểu tượng bắt nguồn từ văn hóa, tôn giáo, lịch sử – những lĩnh vực thuộc về ý thức – của các cộng đồng thì cổ mẫu hình thành từ nguồn cội xa xưa, quan trọng sinh tạo trong vô thức tập thể . Và đọc cổ mẫu là cách nhìn tác phẩm văn chương từ bên ngoài. Nhưng cách nhìn từ bên ngoài này không quy chiếu những chuẩn mực và tiêu chí có trước vào tác phẩm, để mà giải thích nó. Đọc cổ mẫu là đi tìm, chăm chú ghi nhận các hiện tượng cùng những cuộc gặp gỡ thường rất bất ngờ của chúng trong tác phẩm, xuyên qua thời gian và không gian, tra vấn và thử trả lời. 2.2. Biểu tƣợng Trăng Từ lâu Trăng đã là một biểu tượng văn hóa lớn. Theo quan niệm Á Đông Trăng là biểu tượng của điềm lành, hạnh phúc. Đạo giáo cho rằng, mặt trăng là nơi cư trú của chú thỏ ngọc, đang nghiền thuốc trường sinh ở gốc đa. Trong cách hiểu như vậy, trăng là nơi chứa đựng nguồn sống bất tử. Trăng đã trở thành chủ đề chính trong nhiều tác phẩm văn học và nghệ thuật và cảm hứng cho vô số những thứ khác. Nó là môtip trong nghệ thuật thị giác, nghệ thuật trình diễn, thơ, văn xuôi và âm nhạc. Trong nhiều nền văn hóa tiền sử và cổ đại, Trăng được nhân cách hóa thành Thần Mặt Trăng hay những hiện tượng siêu 12 nhiên khác. Mặt Trăng từ lâu đã được một số người gắn với bệnh điên và sự phi lý; các từ lunacy (điên rồ) và loony (người điên) có nguồn gốc từ tiếng Latin cho tên gọi của Mặt Trăng, Luna. Trong văn học, không biết tự bao giờ, Trăng đã là nguồn cảm hứng bất tận muôn đời của các thi sĩ văn nhân. Trong cảm quan của người nghệ sĩ, Trăng không đơn thuần là nguồn sáng trong đêm mà đã trở thành một biểu tượng độc đáo. Ở đó, nó đã trở thành một âm hưởng đa thanh xoáy sâu vào tâm hồn có sức ám ảnh, khơi gợi cho người đọc nhiều xúc cảm về chiến tranh và hòa bình, hạnh phúc và khổ đau, quê hương và gia đình, tình yêu và thân phận con người… Trong văn học Trung đại Trăng đã được các nhà thơ vận dụng trong trường liên tưởng một cách tinh tế, sáng tạo. Có thể đấy là tuổi xuân, hạnh phúc, là vẻ đẹp, niềm vui, là nỗi buồn cô đơn tuyệt vọng, đôi khi là một người bạn, người tình yêu dấu... Đến văn học hiên đại Trăng không còn được miêu tả theo lối ước lệ tượng trưng như thời kì trước mà đã được các tác giả thổi hồn vào làm cho nó thực sự trở thành một chủ thể mang một sức sống mới, một màu sắc cá thể hóa rõ rệt, cao độ. Trăng cũng như người, biết chờ đợi, hẹn hò, có tâm trạng vui, buồn, cô đơn khi xa cách… Trăng ở đây đã là em, là nàng, là biểu tượng của cái đẹp, là nguồn cảm hứng khơi gợi sáng tạo bất tận của các thi nhân. Đọc thơ Hàn Mặc Tử, quả đúng như nhận xét: “Trăng, toàn trăng, một ánh trăng gắt gao… linh động lòng người. Trăng ở đây cũng ghen, cũng giận, cũng cay nghiệt, cũng trơ tráo và cũng nao nức dục tình…” [11]. Trong thơ Hàn Mặc Tử, Trăng không những được thi vị hóa, nhân cách hóa như nhiều nhà thơ khác mà còn được hiện thực hóa ngay trong cái không khí thi vị ấy. Trăng giăng mắc khắp cả không gian, thời gian của sự sống. Có thể nói Trăng trong thơ Hàn Mặc Tử đâu còn là một khách thể mà đã trở thành một bản ngã ở trong thơ. Nó đã hòa quyện vào từng tế bào nơi cơ thể và độ sâu thẳm của tâm linh. Nó có khả năng vỗ về, yêu đương, đối thoại như một hiện hữu người. Đúng như ai đó đã nói, Trăng trong thơ Hàn Mặc Tử được kết tinh như hạt muối, vừa có vị mặn của muối, vừa có vị mặn của đời. 2.3. Biểu tƣợng Hồn 13 Tùy quan niệm mỗi bộ tộc, mỗi vùng mà Hồn được biểu trưng qua những hình ảnh khác nhau, có thể dẫn ra một số ví dụ tiêu biểu sau. Thời Ai Cập cổ đại, con chim đầu người biểu trưng cho linh hồn của từng cá thể. Hay theo truyền thống của của người Maya, người chết phải đặt “nằm ngửa duỗi thẳng chân tay để linh hồn có thể tự do thoát ra khỏi thân xác qua miệng” [2; 451]. Trong Kinh Thánh, hồn chính là Thần Khí mà Thượng Đế thổi hơi vào con người (làm bằng đất sét) để trao ban sự sống. Còn hầu hết người Á Đông thì quan niệm “vạn vật hữu linh” tức mọi thứ đều có linh hồn. Nó (linh hồn) có thể nằm trong con người, con vật, cây cối và thậm chí là những đồ vật vô tri vô giác như nhà cửa, ấm chén… Từ thuyết trên có thể hiểu một cách đơn giản về linh hồn con người trong quan niệm của người Á Đông như sau: Con người có hai phần linh hồn và thể xác. Trong đó, hồn quyết định sự sống của con người. Khi con người chết đi thì linh hồn rời khỏi xác và trở thành ma (theo văn hóa người Việt) hay Phỉ (theo quan niệm của Lào, Thái Lan). Trong văn hóa của người Việt, quan niệm về linh hồn đã có từ rất lâu và được chia làm hai bậc: Hồn và vía. Vía được hiểu như là những bộ phận gắn trên cơ thể của con người, nó có chức năng làm công cụ hoạt động của cơ thể sống. Ngoài ra chúng còn là những bộ phận làm phương tiện thể hiện, bộc lộ cái bên trong của con người khi giao tiếp với thế giới bên ngoài. Cho nên dân gian có câu nói đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn, là vậy. Còn từ góc độ phân tâm học, cụ thể theo Jung, Hồn là “một trạng thái tâm lý cần phải được dành cho một sự độc lập nhất định trong khuôn khổ ý thức…” [2; 452]. Theo quan niệm dân tộc học và sử học về tâm hồn, “nó ban đầu là một nội hàm thuộc về cá nhân, nhưng nó cũng thuộc về thế giới của cái linh thiêng, nó là vô thức. Tâm hồn vì thế luôn luôn tự thân là một cái gì đó vừa trần thế vừa siêu nhiên” [2; 452]. Nhưng chủ yếu, Hồn là biểu tượng của tâm linh, là hơi thở, là sinh khí của một con người. Nói một cách chung nhất, Hồn là nguyên khí của một sinh thể. Cùng một dòng chảy bất tận ấy, Hồn trong thơ Hàn Mặc Tử đã kế thừa và phát triển thành những cái rất riêng, rất lạ. Đọc thơ Hàn Mặc Tử, người ta không chỉ chơi vơi trong ánh sáng lung linh kì ảo của 14 ánh trăng huyền bí, mà còn rùng mình ớn lạnh bởi họ đang chìm ngập trong vũng cô liêu của một tâm hồn sâu thẳm. 2.4. Biểu tƣợng Máu Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, thì Máu “tượng trưng cho tất cả những giá trị liên đới với lửa, với sức nóng và sự sống, gắn với mặt trời”. [2; 566] Ngoài ra Máu được coi là phương tiện truyền dẫn sự sống, là bản nguyên của sự sinh thành. Máu hòa với nước là hình ảnh chảy ra từ vết thương nơi cạnh sườn Đức Giêsu Kitô, cùng trong ý nghĩa đó, máu là trường hợp siêu chuyển thánh thể thành bánh. Máu còn ứng với nhiệt, nhiệt của sự sống và nhiệt của thân thể. Và cùng với một quan điểm trên “Máu là bản nguyên của thân xác và là phương tiện truyền dẫn những đam mê” [2; 566]. Với một số dân tộc khác thì máu là vật dẫn linh hồn. Ngoài ra còn những ý kiến khác nhau về hình ảnh máu. Nhưng về cơ bản, Máu biểu trưng cho sự sống nhưng cũng hàm ý về cái chết. Như vậy biểu tượng Máu có hai hàm ý đối lập nhau, sống - chết. Nói đến máu người ta vừa hi vọng nhưng cũng vừa sợ hãi. Bởi ở đâu có máu, ở đó có sự sống nhưng ở đâu có đổ máu là nơi đó có hận thù, chết chóc, thương vong….Trong văn hóa và văn học Việt Nam, Máu còn biểu trưng cho tình ruột thit. Cho nên mới có câu Một giọt máu đào hơn ao nước lã. Máu như thế biểu hiện cho sự sống, nhiệt huyết và tình yêu. Ở các tập thơ đầu, hình ảnh máu rất ít, hầu như không được Hàn Mặc Tử thể hiện trong thơ của mình. Nó bắt đầu xuất hiện và xuất hiện ngày càng nhiều. Tập thơ Điên Đau thương, đã có 12 bài viết về máu trên tổng số 53 bài thơ. Nói như Hoài Thanh, Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam thì “Hàn Mặc Tử đi trong trăng, há miệng cho máu tung ra biển cả, cho hồn văng ra và rú lên những tiếng ghê người”[2; 205]. Đọc thơ Điên của ông, ta bắt gặp những câu thơ đầy máu. Máu trong thơ Hàn Mặc Tử là biểu tượng của sự sống, niềm đam mê và gắn với mặt trời. Tiểu kết 15
- Xem thêm -