Tài liệu đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa thời kỳ đổi mới

  • Số trang: 11 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 409 |
  • Lượt tải: 0

Mô tả:

TIỂU LUẬN ĐƯỜNG LỚI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Đề tài Đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa thời kỳ đổi mới Những thành tựu và hạn chế trong việc phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay
TIỂU LUẬN ĐƯỜNG LỚI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Đề tài số 27 Đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa thời kỳ đổi mới Những thành tựu và hạn chế trong việc phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay Trong thời đại ngày nay đang cần tiến cùng thế giới chúng ta phải cùng lúc vừa đẩy mạnh hội nhập kinh tế vừa phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước do cộng đồng của dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn hóa thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc. Văn hóa đó trở thành nền tảng quan trọng tạo nên nguồn sức mạnh to lớn giúp dân tộc Việt Nam chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, khắc phục mọi khó khăn, thử thách tong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước. Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiện trong quá trình lịch sử của mình, biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định. Văn hóa bao gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần: - Văn hóa vật chất, là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất. - Văn hóa tinh thần là tổng thể các tư tưởng, lý luận và giá trị được sáng tạo trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người. - Nói tới văn hòa là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực thuộc bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người. Do đó, văn hóa có mặt trong mọi hoạt động của con người, trên mọi lĩnh vực hoạt động thực tiện và sinh hoạt tinh thần của xã hội. - Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của con người và xã hội loài người. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, định hướng cho sự phát triển bền vững của xã hội. Văn hóa thấm sâu vào lĩnh vực của đời sống xã hội và mỗi hành vi của con người, điều chỉnh suy nghĩ và hành vi của con người. Trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có 54 dân tộc anh em sinh sống, mỗi dân tộc có một nét đẹp văn hóa riêng mang đặc trưng văn hóa của từng vùng miền khác nhau, các giá trị và đặc trưng văn hóa đó bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển, đã tạo nên sự phong phú đa dạng cho nền văn hóa nước nhà. Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, cùng với quá trình đặt trọng tâm vào đổi mới kinh tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xác định đường lối xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bẳn sắc dân tộc. I. Đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa thời kỳ đổi mới 1. Quá trình đổi mới tư duy về xây dựng và phát triển nền văn hóa. * Trong những năm 1986- 1995 Đại hội VI (1986) xác định khoa họa- kỹ thuật là một động lực to lớn thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội; có vị trí then chốt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội VII (1991) xác định + Một trong sáu đặc trưng của nền văn hóa việt nam là: tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là một nhiệm vụ trọng yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. + Đại hội khái quát, nâng cao và đưa văn hóa, tư tưởng Hồ CHí Minh trở thành một trong những yếu tố cốt lõi của nền văn hóa đất nước trong thời kỳ đổi mới. * Trong những năm 1996 đến nay Cả đại hội VII và Đại hội VIII của Đảng đều khẳng định: Khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt, là quốc sách hàng đầu trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, là động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu và theo kịp trình độ trên thế giới. Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX (01/2004) xác định phát triển văn hóa đồng bộ với phát triển kinh tế. Nghị quyết Trung ương 10 khóa IX (7/2004) bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm; xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với nhiệm vụ không ngừng nâng cao văn hóa. Đại hội X, XI tiếp tục khẳng định tăng trưởng kinh tế phải phát triển hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chât lượng cuộc sống của nhân dân. 2. Quan điểm chỉ đạo về xây dựng và phát triển nền văn hóa. a) Một là, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội. * Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội: Theo ý kiến của tổng giám đốc UNESCO đã cho rằng, “văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dữa trên đó trừng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình. Nền văn hóa dân tộc có chứa đựng hệ các giá trị, giá trị truyền thống và lối sống, lối nghĩ của cả một dân tộc. Các giá trị ấy chính là nền tảng tinh thần cho dân tộc cùng với tinh hoa văn hóa nhân loại tạo nên sức mạnh cho cả dân tộc trong suốt lịch sử hình thành và phát triển của mình. Vì vậy, chúng ta chủ trương làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để các giá trị văn hóa trở thành nền tảng tinh thần bền vũng của xã hội, trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội. Đó cũng là con đường xây dựng con người mới, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh đủ sức đề kháng và đẩy lùi tiêu cực xã hội; đẩy lùi sự xâm nhập của tư tưởng, văn hóa tiến bộ. Biện pháp tích cực là đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa; đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa, phường xã văn hóa, cơ quan, đơn vị văn hóa; nêu gương người tốt, việc tốt. * Văn hóa là mực tiêu của sự phát triển: Mục tiêu xây dựng một xã hội Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” chính là mục tiêu văn hóa Sự phát triển kinh tế không thể đem lại sự tiến bộ xã hội, hạnh phúc và sự phát triển con người một cách toàn diện. Đó chính là những nhu cầu và giá trị về mặt tinh thần, văn hòa xã hội của con người. Hay chính là mục tiêu văn hóa đối với sự phát triển kinh tế, xã hội Trong chiến lược phát triển kinh tê – xã hội 1991 – 2000, Đảng ta xac định “Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là con người do con người”. Đồng thời nêu rõ yêu cầu tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường. Phát triển hướng tới mục tiêu văn hóa – xã hội mới đảm bảo phát triển bền vững, trường tồn. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang đem đến những nguy cơ khôn lường: sự suy thoái, cạn kiệt tài nguyên ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và làm suy đồi, băng hoại những giá trị về mặt tinh thần, văn hóa, đạo đức của con người. Bởi vậy, sự phát triển kinh tế không chỉ quan tâm đến tốc độ, mà điều quan trọng là lấy đạo lý nhân văn làm nền tảng, làm phương hướng và mục tiêu cho sự phát triển. Để làm cho văn hóa trở thành động lực và mục tiêu của sự phát triển, chúng ta chủ trương phát triển văn hóa phải gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội. * Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển: Nguồn lực nội sinh của sự phát triển của một dân tộc thâm sâu trong văn hóa. Sự phát triển của một dân tộc phải vươn tới cái mới, tiếp nhận cái mới, tạo ra cái mới nhưng không thể tách khỏi cội nguồn. Phát triển phải dựa trên cội nguồn, bằng cách phát huy cội nguồn. Cội nguồn của mỗi quốc gia, dân tộc chính là văn hóa. Động lực của sự phát triển kinh tế một phàn quan trọng nằm trong các giá trị văn hóa đang được phát huy, xuất phát từ sự đổi mới tư duy, giải phóng về tư tưởng sự phát triển về năng lực, trình độ và phát triển toàn diện của con người. Trong lịch sử dân tộc, việc khai thác và phát huy các giá trị truyền thống phục vụ cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước đã được tiến hành rất có hiệu quả. Trong nền kinh tế thị trường, một mặt văn hóa dữa vào tiêu chuẩn của cái đúng, cái tốt, cái đẹp để hướng dẫn và thúc đẩy người lao động không ngừng phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nâng cao tay nghề, sản xuất ra hàng hóa với số lượng và chất lượng ngày càng cao đáp ứng nhu cầu của xã hội. Mặt khác, văn hóa sử dụng sức mạnh của các giá trị truyền thống, của đạo lý dân tộc để hạn chế xu hướng sung bái lợi ích vật chất, sung bái tiền tệ, nghĩa là hạn chế xu hướng hàng hóa và đồng tiền dẫn tới suy thoái xã hội. Trong vấn đề bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững, văn hóa giúp hạn chế lối sống chạy theo ham muốn quá mức của xã hội tiêu thụ, dẫn đến chỗ làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiệm môi trường sinh thái. Văn hóa, nhất là văn hóa phương đông, cổ vũ và hướng dẫn cho một lối sống có chừng mực, hài hòa với sức của hành tinh chúng ta. Nó đưa ra mô hình ứng xử thân thiện giữa con người với thiên nhiên, vì sự phát triển bền vững cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. * Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người và xây dựng xã hội mới. Việc phát triển kinh tế - xã hội cần đến nhiều nguồn lực khác nhau: tài nguyên thiên nhiên, vốn,… tuy nhiên, những nguồn lực này đều có hạn và có thể bị khai thác cạn kiệt. Chỉ có trí thức con người mới là nguồn lực vô hạn, có khả năng tái sinh và tự sinh không bao giờ cạn kiệt. Các nguồn lực khác sẽ không được sử dụng có hiệu quả nếu không có những con người đủ trí tuệ và năng lực khác khai thác chúng. Năm 1990, UNDP (chương trình phát triển củ Liên hợp quốc) đưa ra những tiêu chí mới để đánh giá mức độ phát triển của các quốc gia, đó là chỉ số phát triển con người. Một trong ba chỉ tiêu của cách tính toán mới này là thành tựu giáo dục (hai chỉ tiêu kia là tuổi thọ bình quân và mức thu nhập). Chỉ tiêu giáo dục lại được tổng hợp từ hai tiêu chí khác là trình trạng học vấn của nhân dân và số năm được giáo dục tính bình quân cho mỗi người. Theo đó, quốc gia nào đạt thành tựu giáo dục cao, tức là có vốn trí tuệ toàn dân nhiều hơn thì chứng tỏ xã hội đó phát triển hơn, có khả năng tăng trưởng dồi dào. Như vậy, văn hóa trực tiếp tạo dựng và nâng cao vốn tài nguyên côn người. Mác quan niệm việc đảm bảo cho con người được phát triển toàn diện là điều kiện để phát huy tính tích cực sáng tạo của con người, trong đó hoạt động thực tiễn và giáo dục là những yếu tố có vai trò rất quan trọng. Đó cũng chính là chức năng của văn hóa trong việc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người. Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao vai trò của giáo dục trong sự nghiệp xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa và cần quan tâm đến đời sống mọi mặt của nhân dân, cả về vật chất và tinh thần. Đó chính là nhiệm vụ của cuộc cách mạng văn hóa tư tưởng trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Đảng và Nhà nước ta đã kế thừa quan niệm của chủ nghĩa Mác và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người vào việc xây dựng con người mới hiện nay ở nước ta. b) Hai là, nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nền văn hóa tiên tiến là yêu nước và tiến bộ xã hội với nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người. Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung. Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị văn hóa truyền thống bền vững của cộng đồng của dân tộc việt nam được vun đắp qua lịch sử àng năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân-gia đình-làng xã-tổ quốc; đó là lòng nhân ái, khoan dung, trọng tình nghĩa, đạo lý, là đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… Bản sắc dân tộc thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: cách tư duy, cách sống, cách dựng nước, giữ nước, cách sáng tạo trong văn hóa, khoa học, nghệ thuật… nhưng được thể hiện sâu sắc nhất trong hệ giá trị của dân tộc. Bản sắc dân tộc phát triển theo sự phát triển của thể chế kinh tế, thể chế xã hội và thể chế chính trị của các quốc gia. Nó cũng phát triển theo quá trình hội nhập kinh tế thế giới, quá trình giao lưu và tiếp nhận tích cực văn hóa, văn minh nhân loại. Bản sắc dân tộc và tính chất tiên tiến của nền văn hóa phải được thấm đượm trong mọi hoạt động xây dựng, sáng tạo vật chất, ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ, giáo dục và đào tạo,… sao cho trong mọi lĩnh vực hoạt động chúng ta có cách tư duy độc lập, vừa hiện đại vừa mang sắc thái Việt Nam. Đồng thời chủ trương vừa bảo vệ vừa mở rộng giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để bắt kịp sự phát triển của thời đại. Giữ gìn bản sắc dân tộc phải đi liền với loại bỏ những cái lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán và lề thói cũ. Xây dựng Việt Nam thành một địa chỉ giao lưu văn hóa khu vực và quốc tế. c) Ba là, nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhát mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tính thống nhất của nền văn hóa Việt Nam thể hiện ở sự thống nhất về truyền thống yêu nước và tinh thần đại đoàn kết của các dân tộc anh em trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc; thống nhất ở việc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước đối với việc xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa; thống nhất ở ý chí và nguyện vọng chung của cộng đồng các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới hiện nay. Tính thống nhất là điều kiện để đảm bảo sự phát triển đa dạng của văn hóa các dân tộc trên lãnh thổ Việc Nam. Việc Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc anh em có những giá trị và sắc thái văn hóa riêng về ngôn ngữ, tiếng nói, văn học, nghệ thuật, phong tục tập quán… mà chúng ta cần tôn trọng. Đó là sự thống nhất bao hàm cá tính đa dạng, không có sự đồng hóa hay thôn tính, kỳ thị bản sắc văn hóa của các dân tộc. Ngược lại, các giá trị ấy luôn bổ sung cho nhau, làm phong phú hơn tính đa dạng của nền văn hóa dân tộc. d) Bốn là, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãn đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng Mọi người Việt Nam phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh đều tham gia xây dựng và phát triển văn hóa nước nhà. Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân. Giai cấp công nhân, nông dân, tri thức là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân, cũng là nền tảng của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Đội ngũ trí thức gắn bó với nhân dân giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa. Đội ngũ trí thức là trụ cột để xây dựng và triển văn hóa, là lực lượng then chốt trong cách mạng khoa học kỹ thuật và văn hóa. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 khóa X ban hành Nghị quyết số 27 ngày 06/8/2009 đã nhấn mạnh: Trí thức Việt Nam là lực lượng sáng tạo đặc biệt quan trọng trong triến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc xây dựng đội ngũ tri thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Đầu tư xậy dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững. e) Năm là, văn hóa là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng. Do tác động hết sức phức tạp của cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng hiện nay, Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ tăng cường đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, lệch lạc trên lĩnh vực văn hoa, văn nghệ, kiên cường chiến đấu và tỉnh táo trước âm mưu, thủ đoạn duễn biến hòa bình, xâm lăng văn hóa của các thế lực thù địch trên lĩnh vực rất nhạy cảm này, đồng thời kiên trì bài trừ các hủ tục, các thói hư , tật xấu, sự thoái hóa, biền chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân. f) Sáu là, giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ được coi là quốc sách hàng đầu Đảng ta khẳng định: giáo dục – đào tạo cùng với khoa học và công nghệ, được coi la quốc sách hàng đầu. Khoa học và công nghệ là nội dung then chốt trong mọi hoạt động của tất cả các nghành, các cấp, là nền tảng và là động lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Phát triển giáo dục – đào tạo, khoa học, công nghệ, là sự nghiệp cách mạng của toàn dân. 3. Chủ trương xây dựng và phát triển nền văn hóa. - Phát triển văn hóa gắn kết chặc chẽ và đồng bộ với phát triển kinh tế - xã hội. - Làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. - Bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, mở rộng giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. - Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. - Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ. - Xây dựng và hoàn thiện các giá trị mới và nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. 4. Kết quả, ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân * Kết quả Cơ sở vật chất, kỹ thuật của văn hóa mới bước đầu được tạo dựng; quá trình đổi mới tư duy về văn hóa, về xây dựng con người và nguồn nhân lực có bước phát triển rõ rệt; môi trường văn hóa có những chuyển biến theo hướng tích cực; hợp tác quốc tế về văn hóa được mở rộng. - Giáo dục và đào tạo có bước phát triển mới. Quy mô giáo dục và đào tạo tăng ở các bậc học. Chất lượng đội ngũ giáo viên phổ thông có chuyển biến, cơ sở vật chất kỹ thuật cho trường học trên cả nước được tăng cường đáng kể. Dân trí triếp tục được nâng cao. - Khoa học và công nghệ có bước phát triển, phục vụ thiết thực hơn nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. - Văn hóa phát triển, việc xây dựng đời sống văn hóa và nếp sống văn minh có tiến bộ ở tất cả các tỉnh thành trong cả nước. * Ý nghĩa Những thành tựu trong xây dựng văn hóa chứng tỏ đường lối, chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước đã và đang phát huy tác dụng tích cực, định hướng đúng đắn cho sự phát triển đời sống văn hóa. Những thành tựu trên còn là kết quả của sự tham gia tích cực của nhân dân và những nỗ lực rất lớn của các lực lượng hoạt động trên lĩnh vực văn hóa. II. Những thành tựu và hạn chế trong việc phát triển nền văn hóa Việt Nam hiện nay. 1. Những thành tựu Trong điều kiện như hiện nay đất nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội, trải qua 10 năm đổi mới cùng những thay đổi tích cực của nền văn hóa xã hội, nền văn hóa nước ta đạt được những thành tựu đáng kể: Trước hết, phải xét đến lĩnh vực tư tưởng, đạo đức và lối sống là những lĩnh vực then chốt của văn hóa. Trong lĩnh vực, chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh được vận dụng và phát triển sáng tạo, ngày càng tỏ rõ giá trị vững bền làm nền tảng tư tưởng. Đây chính là con đường đúng đắn mà từ đây để vận dụng và phát triển sáng tạo cho nền văn hóa dân tộc. Nhờ đó mà ý thức rèn luyện phấn đấu cho lý tưởng của Đảng được nâng cao lên. Nhiều nhân tố mới về giá trị văn hóa và chuẩn mực đạo đức được hình thành, không khí dân chủ gia tăng nhiều việc làm hướng về cội nguồn trở thành việc làm của quần chúng. Sự nghiệp giáo dục khoa, kỹ thuật, văn hóa nghệ thuật thu được rất nhiều thành quả. Trình độ dân chúng nâng cao, học vấn của thế hệ trẻ mở rộng, các hành động sáng tạo có bước phát triển mới. Nhiều bộ môn nghệ thuật truyền thống được giữ gìn như: Hội họa, sơn mài, tuồng, cải lương…ngoài ra còn có thêm nhiều tác phẩm về đề tài cách mạng kháng chiến hay công cuộc đổi mới. Số lượng và chất lượng văn nghệ sĩ ngày một nâng cao và có những sáng tác phục vụ cho đông đảo quần chúng nhân dân, văn học nghệ thuật cho dân tộc thiểu số cũng được quan tâm. Đời sống văn hóa cơ sở đã có bước phát triển: phong trào sinh hoạt văn hóa, văn nghệ như văn nghệ quần chúng, thể dục thể thao… rộng khắp, sôi nổi cùng với xây dựng các thiết chế văn hóa như nhà văn hóa xã, tụ điểm sinh hoạt văn hóa gia đình, phương tiện thông tin đại chúng phát triển… đã làm cho đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân thêm đa dạng, phong phú. Các hoạt động lễ hội như: Hội lin ( bắc ninh) , giỗ tổ Hùng Vương (Phú Thọ) thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” trở thành bản sắc văn hóa, đạo lý, truyền thống của người Việt Nam, thể hiện lòng biết ơn ân đức của tổ tiên trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, các lễ hội tôn giáo, lễ kỷ niệm các sự kiện của quốc gia được nhà nước, các cơ sở tổ chức trang nghiêm, trọng thể và tiết kiệm, được đông đảo các tầng lớp nhân dân tự nguyện tham gia. Nhận thức về giá trị di sản và truyền thống văn hóa ngày càng được nâng cao, tạo được sự đồng thuân và nguồn lực xã hội trong việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa, giữ gìn bản sắc dân tộc, nhận thức về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cuả lãnh đạo các cấp, của nhân dân có sự chuyển biến tích cực. Nhiều công trình văn hóa, khu di tích được đầu tư, tôn tạo. Hoạt động phi vật thể được đầu tư, nghiên cứu ở các lĩnh vực như ẩm thực, lễ hội, các hình thức diễn xướng dân gian… Hệ thống bia tượng đài được quan tâm xây dựng để ghi công và giáo dục truyền thống cho thế hệ. Giao lưu văn hóa nước ngoài từng bước được mở rộng. Chúng ta có dịp tiếp xúc rộng rãi với những thành tựu văn hóa nhân loại. Quan hệ hợp tác quốc tế được chú trọng, thông tin đại chúng phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, điều này khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, nền văn hóa trong nước càng có điều kiện tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới, đồng thời cũng có thể giới thiệu với bạn bè các nước trên trường quốc tế những giá trị tốt đẹp, độc đáo về nền văn hóa của dân tộc ta. Văn hóa góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, tham gia tích cực vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tính chủ động, sáng tạo, tính tích cực xã hội của nhân dân bước đầu được phát huy, dân chủ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội được mở rộng. Đã phát huy được tính tích cực tự giác của nhân dân than gia vào các hoạt động văn hóa, đặc biệt là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” để tạo nên sự chuyển biến bước đầu và là tiền đề quan trọng để văn hóa Việt Nam tiếp tục phát triển đúng hướng và vững chắc. Di sản văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy nhằm phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân. Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được Unesco công nhận. Nhiều giá trị văn hóa và sản phẩm văn hóa mới được hình thành, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Hoạt động văn học, nghệ thuật, thông tin, báo chí được mở rộng, có nhiều thành tựu đóng góp tích cực cho sự nghiệp đổi mới. Đời sống văn hóa của nhân dân ở vùng dân tộc thiểu số, ở vùng gặp khó khăn như miền núi, hải đảo, biên giới được cải thiện. Giao lưu quốc tế về văn hóa được mở rộng, việc quảng bá hình ảnh dân tộc và văn hóa Việt Nam ra nước ngoài được chú ý. 2. Những hạn chế. Bên cạnh những thành tựu, những chuyển biến tích cực nền văn hóa nước ta còn vấp phải một số hạn chế sau: - Trước hết là sự sa sút về đạo đức, lối sống của một bộ phận xã hội ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tinh thần, môi trường văn hóa lành mạnh. Một số nơi trình trạng mê tín dị đoan, các hủ tục lạc hậu có biểu hiện hồi phục, việc cưới, lễ tang, lễ hội… có chiều hướng phô trương hình thức, lãng phí. - Chưa khai thác, phát huy đầy đủ di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Di sản văn hóa đang đứng trước nhiều thách thức, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, việc bảo tồn di sản văn hóa chưa được triển khai theo một quy hoạch, kế hoạch lâu dài nên thường bị động, chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa quy hoạch bảo tồn di tích với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. - Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, văn học nghệ thuật xuất hiện nhiều tiêu cực, suy thoái đạo lý quan hệ thầy trò, bạn bè, lối sống thiếu lý tưởng, thiếu hoài bão, xa rời giá trị truyền thống chạy theo lối sống thực dụng, ích kỷ thiếu trách nhiệm với cộng đồng, với gia đình và ngay với cả bản thân mình, ứng xử kém văn hóa, thiếu bản lĩnh chính trị, không chịu khó rèn luyện, vấn đề thanh niên bị phạm pháp luật, sa vào các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, văn hóa tham gia giao thông đang là một vấn đề nhức nhối của xã hội hiện nay. Ở một số học sinh, sinh viên, coi nhẹ một số môn thẩm mỹ và chính trị. - Về lĩnh vực giao lưu và thông tin với nước ngoài gia tăng quá nhanh khiến cho việc kiểm soát hết sức khó khăn, nhiều thông tin mang nội dung tiêu cực có kích động đã xâm nhập nhằm làm bại nền văn hóa nước ta… Những thành tựu và tiến bộ đạt được trên lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng và vững chắc, chưa đủ để tác động có hiệu quả đối với lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống. - Suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống tiếp tục diện ra phức tạp, có một số mặt nghiêm trọng hơn, tồn tại không nhỏ đến uy tín của Đảng và nhà nước, niền tin của nhân dân. - Môi trường văn hóa còn bị ô nhiệm bới các tệ nạn xã hội như: ma túy, mại dâm, cờ bạc… gia tăng, sự lan tràn của các sản phẩm và dịch vụ văn hóa mê tín, dị đoan, độc hại, thấp kém. - Thiếu những tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao. Xu hướng chạy theo thị hiếu thấp kém của một bộ phận báo chí, văn học, nghệ thuật chưa được ngăn chặn một cách có hiệu quả. - Việc xây dựng thể chế văn hóa, các văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách trên lĩnh vực văn hóa còn chậm. - Đời sống văn hóa còn nghèo nàn, lạc hậu, thiếu thốn ở nhiều vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bằng các dân tộc thiểu số chưa được khắc phục có hiệu quả. - Lực lượng hoạt động văn hóa – văn nghệ trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay không nhỏ, đã có những công trình nghiên cứu, tác phẩm văn học, nghệ thuật tốt hướng về tổ quốc. Song chúng ta còn thiếu những biện pháp tích cực giúp đồng bào ta tìm hiểu sâu văn hóa dâ tộc, liên hệ mật thiết với quê nhà, góp phần đấu tranh với những hoạt động chống phá với tổ quốc. - Khoảng cách chênh lệch về hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền, khu vực, tầng lớp xã hội tiếp tục gia tăng. 3. Những nguyên nhân dẫn tới thành tựu và hạn chế - Nguyên nhân thành tựu: Những thành tựu trong sự nghiệp xây dựng văn hóa một mặt chứng tỏ đường lối và các chính sách của Đảng và Nhà nước ta đã và đang phat huy tác dụng tích cực, định hướng đúng đắn cho sự nghiệp phát triển đời sống văn hóa, xã hội, mặt khác đó là kết quả của sự tham gia tích cực của nhân dân và những nỗ lực của các lực lượng hoạt động trên lĩnh vực văn hóa. - Nguyên nhân của những hạn chế: + Về khách quan Sự tác động mạnh mẽ của những mặt trái do quá trình toàn cầu hóa kinh tế và sự xâm nhập tràn lan những sản phẩm văn hóa dẫn đến những tư tưởng phức tạp trong đời sống văn hóa, xã hội. Những tiền đề vật chất để xây dựng nền văn hóa còn yếu kém, mức sống của nhân dân còn thấp so với các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế. Cơ chế thị trường và sự hội nhập quốc tế, bên cạnh những tác động tích cực to lớn, cũng đã bộc lộ mặt trái của nó, ảnh hưởng tiêu cực đến ý thức tư tưởng, đạo đức, lối sống của nhân dân ta. Do nước ta còn nghèo, nhu cầu về văn hóa lớn nhưng chưa đáp ứng đủ vì thiếu thốn về vật chất. + Về chủ quan Nhận thức trong Đảng từ trung ương đến cấp ủy đảng các cấp về vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa chưa thực đầy đủ. Các quan điểm chỉ đạo, phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa chưa quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc. Việc tổ chức thực hiện thiếu tập trung, chưa đồng bộ, không kiên quyết. Do tập trung vào phát triển kinh tế nên chưa nhận thức rõ vai trò và nhiệm vụ xây dựng văn hóa, có nơi còn xem nhẹ, không ít cán bộ, đảng viên chưa nêu được tấm gương văn hóa cho quần chúng. Chưa xây dựng được cơ chế, chính sách và giải pháp phù hợp để phát triển văn hóa trong cơ chế thị trường định hướng xã hộ chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Một bộ phận tri thức, văn nghệ sĩ, những người hoạt động trên lĩnh vự văn hóa, thông tin, báo chí có những biểu hiện xa rời đời sống, lúng túng trong định hướng sáng tạo và hoạt động nghiệp vụ, chạy theo chủ nghĩa thực dụng, tạo ra một số sản phẩm văn hóa chất lượng thấp, thậm chí sai trái.
- Xem thêm -