Tài liệu Tieu luan cong tac kiem tra, giam sat cua daang

  • Số trang: 25 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 13823 |
  • Lượt tải: 34
aixuanphanthi

Tham gia: 13/07/2016

Mô tả:

I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định: "Với vị trí là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, vai trò của tổ chức cơ sở đảng rất quan trọng. Phải dồn sức xây dựng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, làm cho tổ chức này thực sự trong sạch, vững mạnh". Thời gian qua, bên cạnh những kết quả đạt được, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở còn không ít khuyết điểm, yếu kém. Nhiều cấp ủy chưa thật sự coi trọng vị trí then chốt của công tác xây dựng đảng; chưa dành thời gian, công sức để tập trung chỉ đạo xây dựng, củng cố TCCSĐ. Khả năng nhận thức, vận dụng, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước của nhiều TCCSĐ còn yếu, chưa đủ sức phát hiện, giải quyết những vấn đề phức tạp xảy ra ở cơ sở. Nhiều cấp ủy, đảng bộ, chi bộ thuộc TCCSĐ chưa thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; chưa thực hiện có nền nếp chế độ sinh hoạt đảng, nội dung, hình thức, phương pháp sinh hoạt chi bộ chậm đổi mới, chưa bảo đảm tính lãnh đạo, tính chiến đấu và tính giáo dục. Chưa coi trọng đổi mới phương thức lãnh đạo và phong cách, lề lối làm việc; bệnh thành tích còn nặng và khá phổ biến. Công tác quản lý, giám sát, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên ở không ít TCCSĐ bị buông lỏng. Tình trạng suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên rất đáng lo ngại; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực còn xảy ra ở nhiều nơi, nhưng chậm được phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả... Những khuyết điểm, yếu kém, hạn chế trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực, vi phạm đạo đức, lối sống liên quan cán bộ, đảng viên nhưng cấp ủy, chi bộ không phát hiện được, khi phát hiện thì việc đấu tranh và xử lý ở nhiều nơi không kiên quyết, triệt để. Nghị quyết T.Ư 6 (khóa X) về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên đã đề ra mục tiêu trong năm năm tới phải phấn đấu đạt được là: Tập trung sức để xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ, tạo được sự chuyển biến rõ rệt về chất lượng hoạt động của các loại hình TCCSĐ, làm cho tổ chức đảng ở cơ sở vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và kịp thời giải quyết những vấn đề xảy ra ở cơ sở... Là một cán bộ trẻ được Đảng bộ xã Nhị Mỹ cử tham gia khoá đào tạo nguồn Trung cấp Chính trị - Hành chính, với những lý luận mà bản thân tiếp thu học tập được từ nhà trường kết hợp với tình hình thực tiễn của xã nhà và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế của bản thân, em chỉ mong được đóng góp một phần công sức nhỏ của mình để tham gia xây dựng Đảng bộ xã Nhị Mỹ ngày càng trong sạch vững mạnh, vì vậy em chọn đề tài “ Thực trạng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ xã Nhị Mỹ trong giai đoạn 2005-2010 và giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát trong thời gian tới” làm tiểu luận tốt nghiệp cuối khoá. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2.1. Đối tượng nghiên cứu: Tiểu luận tập trung nghiên cứu về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ cơ sở. 2.2. Phạm vi nghiên cứu: Tiểu Luận chỉ tập nghiên cứu công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ xã Nhị Mỹ, Nhiệm kỳ 2005-2010 và từ đó đề ra những giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát trong thời gian tới ở xã. Những vấn đề nêu trên được giải quyết thông qua quá trình khảo sát trực tiếp thực tế hoạt động của Đảng bộ xã Nhị Mỹ hiện nay. 3. Phương pháp nghiên cứu: - Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát. - Đề tài sử dụng phương pháp kết hợp lôgic với lịch sử, phân tích, so sánh, tổng hợp, điều tra xã hội học...trong quá trình nghiên cứu.
1 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định: "Với vị trí là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, vai trò của tổ chức cơ sở đảng rất quan trọng. Phải dồn sức xây dựng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, làm cho tổ chức này thực sự trong sạch, vững mạnh". Thời gian qua, bên cạnh những kết quả đạt được, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở còn không ít khuyết điểm, yếu kém. Nhiều cấp ủy chưa thật sự coi trọng vị trí then chốt của công tác xây dựng đảng; chưa dành thời gian, công sức để tập trung chỉ đạo xây dựng, củng cố TCCSĐ. Khả năng nhận thức, vận dụng, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước của nhiều TCCSĐ còn yếu, chưa đủ sức phát hiện, giải quyết những vấn đề phức tạp xảy ra ở cơ sở. Nhiều cấp ủy, đảng bộ, chi bộ thuộc TCCSĐ chưa thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; chưa thực hiện có nền nếp chế độ sinh hoạt đảng, nội dung, hình thức, phương pháp sinh hoạt chi bộ chậm đổi mới, chưa bảo đảm tính lãnh đạo, tính chiến đấu và tính giáo dục. Chưa coi trọng đổi mới phương thức lãnh đạo và phong cách, lề lối làm việc; bệnh thành tích còn nặng và khá phổ biến. Công tác quản lý, giám sát, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên ở không ít TCCSĐ bị buông lỏng. Tình trạng suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên rất đáng lo ngại; tệ quan 2 liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực còn xảy ra ở nhiều nơi, nhưng chậm được phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả... Những khuyết điểm, yếu kém, hạn chế trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực, vi phạm đạo đức, lối sống liên quan cán bộ, đảng viên nhưng cấp ủy, chi bộ không phát hiện được, khi phát hiện thì việc đấu tranh và xử lý ở nhiều nơi không kiên quyết, triệt để. Nghị quyết T.Ư 6 (khóa X) về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên đã đề ra mục tiêu trong năm năm tới phải phấn đấu đạt được là: Tập trung sức để xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ, tạo được sự chuyển biến rõ rệt về chất lượng hoạt động của các loại hình TCCSĐ, làm cho tổ chức đảng ở cơ sở vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và kịp thời giải quyết những vấn đề xảy ra ở cơ sở... Là một cán bộ trẻ được Đảng bộ xã Nhị Mỹ cử tham gia khoá đào tạo nguồn Trung cấp Chính trị - Hành chính, với những lý luận mà bản thân tiếp thu học tập được từ nhà trường kết hợp với tình hình thực tiễn của xã nhà và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế của bản thân, em chỉ mong được đóng góp một phần công sức nhỏ của mình để tham gia xây dựng Đảng bộ xã Nhị Mỹ ngày càng trong sạch vững mạnh, vì vậy em chọn đề tài “ Thực trạng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ xã Nhị Mỹ trong giai đoạn 2005-2010 và giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát trong thời gian tới” làm tiểu luận tốt nghiệp cuối khoá. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2.1. Đối tượng nghiên cứu: Tiểu luận tập trung nghiên cứu về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ cơ sở. 2.2. Phạm vi nghiên cứu: 3 Tiểu Luận chỉ tập nghiên cứu công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ xã Nhị Mỹ, Nhiệm kỳ 2005-2010 và từ đó đề ra những giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát trong thời gian tới ở xã. Những vấn đề nêu trên được giải quyết thông qua quá trình khảo sát trực tiếp thực tế hoạt động của Đảng bộ xã Nhị Mỹ hiện nay. 3. Phương pháp nghiên cứu: - Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát. - Đề tài sử dụng phương pháp kết hợp lôgic với lịch sử, phân tích, so sánh, tổng hợp, điều tra xã hội học...trong quá trình nghiên cứu. II. NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận: 1.1. Vị trí, vai trò của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng cộng sản Việt Nam: Công tác kiểm tra của Đảng là hoạt động của Đảng được tiến hành đối với tổ chức Đảng và đảng viên nhằm nắm vững tình hình; nhận xét đánh giá việc chấp hành Điều lệ Đảng, Nghị quyết, chỉ thị, các quy định, quyết định của Đảng; xác định việc đúng đắn hay vi phạm của các hành vi có liên quan đến kỷ cương, kỷ luật của Đảng và đưa ra hình thức xử lý kịp thời, đúng đắn. Công tác giám sát của Đảng là nhiệm vụ của toàn Đảng. Tổ chức Đảng và đảng viên có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ giám sát theo quy định, nhằm theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của tổ chức Đảng và đảng viên chịu sự giám sát trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Nghị quyết, các chỉ thị, các quy định, quyết định của Đảng và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban chấp hành Trung ương. Kiểm tra, giám sát là một yếu tố khách quan, là một biểu hiện nghiêm túc của hoạt động có ý thức của mọi tổ chức và con người trong xã hội. Hoạt động của tổ chức và con người trong xã hội là hoạt động có ý thức. Trước khi hành động, các 4 tổ chức và con người đều phải suy nghĩ, xác định rõ ý định, chủ trương, kế hoạch tiến hành và tổ chức thực hiện thắng lợi ý định, chủ trương , kế hoạch ấy trong thực tiễn. Song, thực tiễn luôn luôn vận động, biến đổi, phát triển không ngừng theo quy luật khách quan, nên ý định, chủ trương, kế hoạch đã xác định dù được nghiên cứu, tính toán, cân nhắc kỹ vẫn có thể có những thiếu sót, sơ hở, thậm chí không có khả năng thực thi hoặc sai lầm nghiêm trọng. Vì vậy muốn đạt được kết quả trong thực tiễn, phải xem xét tình hình thực tế để nhận xét, đánh giá, có nghĩa là phải kiểm tra, giám sát; phải kiểm tra, giám sát toàn bộ từ ý định, chủ trương, kế hoạch đến tổ chức thực hiện và kết quả đạt được để giúp cho tổ chức và con người đánh giá đúng ưu điểm, khuyết điểm của chủ trương, kế hoạch, hành động; kịp thời rút kinh nghiệm bổ sung, sửa đổi những thiếu sót, chưa đồng bộ, chưa phù hợp hoặc sai lầm, lệch lạc; đảm bảo ý định, chủ trương, kế hoạch, hành động được đúng đắn, chuẩn xác hơn, chất lượng, hiệu quả đạt được tốt hơn. Do đó, hoạt động có ý thức là hoạt động có kiểm tra, giám sát; ý thức càng cao, tổ chức càng quan trọng, con người ở cương vị càng cao và cán bộ chủ chốt các cấp, nhiệm vụ càng khó khăn, phức tạp, thì càng đòi hỏi phải coi trọng và tiến hành tốt công tác kiểm tra, giám sát. Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng, là bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng. Kiểm tra, giám sát cần thiết với mọi tổ chức và con người trong xã hội, đặc biệt là đối với chính đảng của giai cấp vô sản và người cộng sản. Sự nghiệp cách mạng lâu dài, gian khổ, quyết liệt, phức tạp đòi hỏi đảng phải có chính sách đường lối đúng, có năng lực tổ chức thực hiện cao, đòi hỏi phải tiến hành kiểm tra, giám sát thường xuyên, kịp thời, có hiệu quả. Chính vì vậy, từ khi mới thành lập và suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng và tiến hành thường xuyên công tác kiểm tra, giám sát. Văn kiện Đại hội VIII của Đảng khẳng định: “Công tác kiểm tra có vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn hoạt động lãnh đạo của Đảng”. Vì lãnh đạo không chỉ là việc xây dựng đường lối, chính sách, Nghị quyết, chỉ thị, việc tổ chức thực hiện và bố trí cán bộ mà lãnh đạo còn là kiểm tra, giám sát; Không những kiểm tra giám sát việc thực hiện đường lối, Cương lĩnh chính trị, 5 chủ trương, chính sách ra ngay bản thân Cương lĩnh chính trị, chủ trương, chính sách đó và kiểm tra, giám sát các tổ chức tiến hành kiểm tra nhằm bảo đảm đường lối, chính sách được xác định đúng, được quán triệt và thực hiện thắng lợi trong thực tiễn. Đó là vấn đề có tính nguyên tắc, vừa là chức năng lãnh đạo vừa là trách nhiệm, nội dung, phương pháp, quy trình lãnh đạo của Đảng. V.I. LêNin đã chỉ rõ: khi đường lối, chính sách đã được xác định, mục tiêu, phương hướng đã được thông qua thì nhiệm vụ tổ chức thực hiện phải đặt lên hàng đầu và sự lãnh đạo phải chuyển trọng tâm từ việc soạn thảo các sắc lệnh và mệnh lệnh… sang việc lựa chọn người và kiểm tra sự thực hiện. V.I.LêNin còn nhấn mạnh: “Kiểm tra nhân viên công tác và kiểm tra việc chấp hành thực tế công tác – mấu chốt của toàn bộ công tác, của toàn bộ chính sách hiện nay là ở đấy, vẫn ở đấy và chỉ ở đấy.” (V.I. LêNin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, M.1978,t.44,t.450,19) Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: “Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi”. “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H.2002, t.5, t.520,521). Nghị quyết Đại Hội Đảng toàn quốc đã khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy; Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Giữ vững bản chất và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta hiện nay. 6 Để làm được điều đó thì ngoài việc phải tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng; nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng. Đảng phải kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Phải tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị; nâng cao chất lượng đảng viên; tập trung củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, trước hết ở các tổ chức cơ sở đảng còn yếu kém. Phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt của các cấp uỷ, tổ chức đảng; đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ công tác cán bộ... thì còn phải đặc biệt chú trọng đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Nâng cao trách nhiệm của các cấp uỷ, tổ chức đảng trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo Điều lệ Đảng. Tập trung kiểm tra, giám sát việc chấp hành chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước, việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ; thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; việc quy hoạch, luân chuyển, đề bạt, sử dụng cán bộ và thực hiện chính sách cán bộ. Chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu tổ chức đảng, nhà nước, mặt trận và các đoàn thể trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các sai phạm; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. 1.2. Các nguyên tắc, nhiệm vụ, hình thức và phương pháp kiểm tra giám sát của Đảng. * Quan điểm chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát của Đảng: Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) về Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng xác định 5 quan điểm rất cơ bản như sau: - Kiểm tra, giám sát là nội dung rất quan trọng trong quá trình lãnh đạo của Đảng, là chức năng lãnh đạo, nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng, trước hết là nhiệm vụ của cấp uỷ và người đứng đầu cấp uỷ, do cấp uỷ trực tiếp tiến hành. Công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành công khai, dân chủ, khách quan, 7 thận trọng và chặt chẽ theo đúng nguyên tắc, phương pháp công tác đảng. Tổ chức đảng và đảng viên phải chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng và chịu sự giám sát của nhân dân. - Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát phải gắn chặt với công tác tư tưởng, công tác tổ chức và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; phải thực hiện toàn diện, đồng bộ, có hiệu lực, hiệu quả, góp phần xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng. - Thực hiện đồng bộ giữa công tác kiểm tra và công tác giám sát; "giám sát phải mở rộng", "kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm" để chủ động phòng ngừa vi phạm, kịp thời phát hiện những nhân tố mới để phát huy, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm ngay từ lúc mới manh nha. - Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng phải kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, lấy xây là chính. Khi các vụ việc vi phạm được phát hiện, phải kiên quyết xử lý nghiêm minh để răn đe và giáo dục. - Đề cao trách nhiệm của tổ chức đảng và đảng viên; phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và của nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát. * Nguyên tắc của công tác kiểm tra, giám sát: - Nguyên tắc tính Đảng và tính khoa học: Công tác kiểm tra, giám sát là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác Đảng. Nó được tiến hành trên cơ sở và trong khuôn khổ cương lĩnh, đường lối chính trị và Điều lệ Đảng. Nó lấy việc phục vụ nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng làm mục tiêu phương hướng, nội dung hoạt động. Vì vậy, khi tiến hành kiểm tra, giám sát phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, xem xét, phân tích sự việc một cách khách quan, thận trọng, có quan điểm lịch sử - cụ thể. Nguyên tắc tính đảng thể hiện ở thái độ kiên quyết, triệt để, không khoan nhượng trước các khuyết điểm, sai lầm của tổ chức Đảng và đảng viên. - Nguyên tắc tính quần chúng: Nguyên tắc này xuất phát từ tính dân chủ rộng rãi của Đảng. Mọi sự việc hiện tượng – dù phức tạp đến đâu- cũng không thể nào che giấu được bản chất 8 trước “tai mắt” của quần chúng. Vì thế, khi tiến hành kiểm tra, giám sát phải dựa vào quần chúng, phát động được quần chúng cùng tham gia thì mới đạt kết quả cao. Nguyên tắc tính quần chúng thể hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mỗi đảng viên tham gia vào các hình hình kiểm tra, giám sát khác nhau của Đảng. - Nguyên tắc công khai: Kiểm tra, giám sát phải công khai cũng bắt nguồn từ tính dân chủ của Đảng. Quá trình kiểm tra, giám sát, đánh giá, kết luận được tiến hành công khai mới tạo bầu không khí thẳng thắn, trung thực, tin tưởng lẫn nhau. Mọi sai lầm, khuyết điểm được đưa ra công khai không chỉ nhằm phê phán, kỷ luật mà điều chủ yếu là để sửa chữa kịp thời. Việc công bố công khai kết quả các cuộc kiểm tra, giám sát có ý nghĩa giáo dục tích cực. - Nguyên tắc hiệu quả: Mỗi cuộc kiểm tra, giám sát đều phải đi đến kết luận cụ thể, chỉ rõ đúng sai, hướng phát huy hoặc sửa chữa, mức độ xử phạt và hiệu quả cuối cùng phải được thể hiện ở sự đoàn kết nhất trí, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên được nâng lên; những gì cần sửa đổi tiếp thu, sửa chữa ngay; người có khuyết, sai lầm nhận rõ lỗi lầm của mình và quyết tâm sửa chữa. * Nhiệm vụ của công tác kiểm tra, giám sát: - Cấp uỷ các cấp tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao chất lượng nghiên cứu các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng để các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên nắm vững và tự giác chấp hành; đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực, suy thoái trong Đảng. Cấp uỷ các cấp, nhất là chi bộ cần tăng cường quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi phạm hoặc không để tái phạm, góp phần chủ động thực hiện có hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. - Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng và trong cả hệ thống chính trị. Chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội ở các cấp trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Tập trung kiểm tra, giám 9 sát việc chấp hành các chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng về các nội dung, lĩnh vực sau : + Lĩnh vực tư tưởng chính trị, quản lý báo chí : Kiểm tra, giám sát việc thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng, việc thi hành Điều lệ Đảng, các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong công tác tư tưởng chính trị nói chung và hoạt động báo chí nói riêng. + Về chấp hành nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng : Kiểm tra, giám sát việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; chấp hành quy chế làm việc, chế độ công tác; thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ; về mối quan hệ giữa tổ chức đảng và đảng viên với quần chúng; việc giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. + Lĩnh vực kinh tế - tài chính : Kiểm tra, giám sát việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong các khâu cấp và sử dụng nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước, vốn ODA, tài trợ của nước ngoài; trong xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị; quản lý và sử dụng đất đai, tài nguyên, công sản; triển khai thực hiện các dự án trọng điểm. + Lĩnh vực hành chính, tư pháp : Kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính liên quan đến giải quyết công việc của các tổ chức và cá nhân, đặc biệt là trong các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, nhất là những vụ án nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận. + Trong công tác tổ chức và cán bộ : Kiểm tra, giám sát về tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bố trí, sử dụng, khen thưởng và thực hiện chính sách cán bộ; về phẩm chất đạo đức, lối sống và thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên; việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; về nội dung và chất lượng sinh hoạt của các cấp uỷ, tổ chức đảng. 10 + Kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo, chỉ đạo và giải quyết khiếu nại, tố cáo của đảng viên và nhân dân; việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. - Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng gắn với vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và của nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X. - Đổi mới phương pháp kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng theo hướng đồng bộ, nghiêm minh, có hiệu lực, hiệu quả; sớm hoàn thiện quy chế giám sát trong Đảng. Kết hợp giám sát trong Đảng với giám sát của Nhà nước và giám sát của nhân dân. - Củng cố, kiện toàn tổ chức, bộ máy, tăng cường cán bộ đủ số lượng, bảo đảm chất lượng; bảo đảm chế độ, chính sách theo quy định; cải thiện điều kiện, phương tiện làm việc của uỷ ban kiểm tra các cấp. * Hình thức và phương pháp kiểm tra giám sát của Đảng: Công tác kiểm tra, giám sát bao gồm có các hình thức và phương pháp chủ yếu đó là: - Kiểm tra giám sát thường xuyên. - Kiểm tra định kỳ. - Giám sát theo chuyên đề. 1.3. Nội dung công tác kiểm tra, giám sát. Điều 30, Điều lệ Đảng hiện hành quy định: Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng. Tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát. Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng; Các cấp ủy đảng lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Đảng uỷ, BTV Đảng uỷ và Chi bộ cơ sở có nhiệm vụ kiểm tra việc thực hiện, bảo đảm các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ 11 Đảng. Còn đối với Chi bộ và đảng uỷ bộ phận nội dung kiểm tra giống như của đảng uỷ cơ sở. Nhưng cần tập trung kiểm tra việc thực hiện nghị quyết của Chi bộ, nhiệm vụ được chi bộ phân công, tiêu chuẩn đảng viên. UBKT Đảng uỷ cơ sở hoạt động theo quy định của Điều lệ Đảng, quy định và hướng dẫn của Trung ương, quy chế làm việc của UBKT cấp mình. UBKT Đảng uỷ cơ sở có trách nhiệm, quyền hạn thực hiện các nhiệm vụ kiểm tra được quy định tại Điều 32 của Điều lệ Đảng, ngoài ra còn có trách nhiệm cùng với các ban của cấp uỷ tham mưu giúp cấp uỷ xây dựng phương hướng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch kiểm tra, tổ chức lực lượng, hướng dẫn nghiệp vụ kiểm tra để cấp uỷ trực tiếp tiến hành kiểm tra theo Điều 30 Điều lệ Đảng. Chủ trì hoặc phối hợp với các ban của cấp uỷ để kiểm tra theo sự phân công của cấp uỷ. Cùng với các ban giúp cấp uỷ kết luận các cuộc kiểm tra; sơ, tổng kết công tác kiểm tra của cấp uỷ. Đảng uỷ, BTV Đảng uỷ và Chi bộ cơ sở có nhiệm vụ lãnh đạo và tổ chức thực hiện công tác giám sát như đối với cấp uỷ các cấp. Nội dung của công tác giám sát là giám sát việc thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước; Việc thực hiện chức trách nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên và về phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Coi trọng giám sát việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật, tự phê bình và phê bình, giữ gìn đoàn kết, thống nhất nội bộ, giáo dục, rèn luyện nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng của đảng viên. Việc chấp hành các quy định của Nhà nước về kê khai và công khai tài sản của cán bộ, đảng viên. Chi bộ trực thuộc đảng bộ giám sát mọi đảng viên sinh hoạt trong chi bộ ( kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý). Nội dung giám sát giống như nội dung giám sát của đảng uỷ cơ sở. Tập trung giám sát việc thực hiện Nghị quyết của chi bộ,thực hiện nhiệm vụ do chi bộ phân công 12 và theo nhiệm vụ, tiêu chuẩn đảng viên; việc giữ gìn phảm chất đạo đức, lối sống và giữ mối liên hệ với tổ chức đảng nơi cư trú. UBKT Đảng uỷ cơ sở hoạt động giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng, quy định và hướng dẫn của Trung ương Đảng, hướng dẫn của UBKT Trung ương, quy chế làm việc của UBKT cấp mình. UBKT Đảng uỷ cơ sở có trách nhiệm, quyền hạn thực hiện các nhiệm vụ giám sát được quy định tại khoản 3, Điều 32 của Điều lệ Đảng, ngoài ra còn có trách nhiệm ngoài ra còn có trách nhiệm cùng với các ban của cấp uỷ tham mưu giúp cấp uỷ xây dựng phương hướng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch kiểm tra, tổ chức lực lượng, hướng dẫn nghiệp vụ giám sát để cấp uỷ trực tiếp tiến hành giám sát theo Điều 30 Điều lệ Đảng. Chủ trì hoặc phối hợp với các ban của cấp uỷ để giám sát theo sự phân công của cấp uỷ. Cùng với các ban giúp cấp uỷ sơ, tổng kết công tác giám sát của cấp uỷ. 2. Cơ sở thực tiễn: 2.1. Đặc điểm tình hình của Đảng bộ xã Nhị Mỹ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp hiện nay: Đảng bộ xã Nhị Mỹ có tổng số 14 Chi bộ trực thuộc, với 184 đảng viên, chiếm 1,83%/dân số; Từ 2006- 2010 Đảng bộ đạt danh hiệu “Trong sạch vững mạnh; BCH Đảng bộ xã Nhiệm kỳ 2010-2015 có 15 đồng chí, trong đó có 05 đồng chí trong Ban thường vụ Đảng uỷ, gồm Bí thư và 02 phó Bí thư; UBKT Đảng uỷ có 05 đồng chí gồm 01 Chủ nhiệm, 01 phó chủ nhiệm và 03 uỷ viên kiêm nhiệm. Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã thường xuyên luân chuyển thay đổi nên trong quá trình điều hành, lãnh chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị địa phương bên cạnh những thành tựu đạt được cũng còn tồn tại nhiều khó khăn hạn chế. Tuy nhiê, với sự đoàn kết thống nhất cao từ ý chí đến hành động, việc chủ động cụ thể hoá các Nghị quyết, chỉ thị, Chương trình hành động và kế hoạch của cấp uỷ cấp trên trực tiếp thành những chủ trương và kế hoạch hoạt động phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, nên tập thể cấp uỷ và nhiều cá nhân cán bộ đảng viên luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ và được cấp trên biểu 13 dương khen ngợi. Đạt được kết quả như trên là nhờ vào sự nổ lực phấn đấu của tập thể đảng uỷ và đội ngũ cán bộ, đảng viên; sự đồng tình ủng hộ của quần chúng nhân dân tích cực hưởng ứng các phong trào do địa phương tổ chức; Đồng thời, đây còn là kết quả của việc cấp uỷ xã luôn quan tâm chú trọng và tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của đảng trong nhiệm kỳ qua. 2.2. Nhận thức của Đảng bộ xã Nhị Mỹ trong trong việc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát: Công tác kiểm tra, giám sát được Đảng uỷ xã Nhị Mỹ xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác xây dựng Đảng. Sau Đại hội Đảng bộ xã Nhiệm kỳ 2005-2010 Đảng uỷ đã lãnh, chỉ đạo UBKT đảng uỷ và các Chi uỷ chi bộ trực thuộc thông qua việc tham mưu xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát toàn khoá, phương hướng nhiệm vụ đến năm 2010 và triển khai quán triệt đến từng chi bộ trực thuộc để tổ chức thực hiện, đồng thời ban hành quy chế làm việc của UBKT Đảng uỷ, quy chế phối hợp giữa UBKT Đảng uỷ với các ngành trong thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong đảng, tổ chức quán triệt các quy định của Điều lệ Đảng, các hướng dẫn, quy định của UBKT cấp trên như triển khai Chương VII và Chương VIII của Điều lệ Đảng khoá X về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng; Hướng dẫn của Trung ương về thực hiện Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng, các Quyết định quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí Thư khoá X, hàng năm kịp thời sơ, tổng kết theo quy định. 2.3. Thực trạng việc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ xã Nhị Mỹ nhiệm kỳ 2005-2010: 2.3.1. Thành tựu – nguyên nhân: Trong nhiệm kỳ 2005-2010, UBKT Đảng uỷ đã kiểm tra 24 đảng viên, 04 tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm; qua kiểm tra kết luận 02 tổ chức đảng, 22 đảng viên có vi phạm, trong đó đến mức phải xử lý kỷ luật 01 tổ chức đảng, 06 đảng viên. Kiểm tra 14 tổ chức đảng về thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, 10 tổ chức đảng về thi hành kỷ luật trong Đảng. Kiểm tra tài chính đảng đối với 05 tổ chức đảng, phát 14 hiện sai phạm trên 07 triệu đồng; kiểm tra việc quản lý, sử dụng đảng phí đối với 22 tổ chức đảng, kiến nghị thu hồi 03 triệu đồng. Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, thực hiện quy định của Điều lệ Đảng, từ năm 2006, UBKT Đảng uỷ xã đã chủ động, tích cực trong công tác giám sát đối với tổ chức Đảng và đảng viên. Mặc dù đây là nhiệm vụ mới, quá trình triển khai còn gặp không ít khó khăn, vướng mắc nhưng với sự nỗ lực của UBKT Đảng uỷ xã, từ năm 2006 - 2010, UBKT Đảng uỷ xã Nhị Mỹ đã tăng cường giám sát thường xuyên, tiến hành giám sát chuyên đề đối với 05 tổ chức đảng và 36 đảng viên. Nội dung giám sát về việc thực hiện các quy định, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chức trách, nhiệm vụ được giao; chấp hành quy chế làm việc; thực hiện thông báo kết luận sau kiểm tra; việc giữ gìn đoàn kết nội bộ, phẩm chất đạo đức cách mạng, phong cách, lối sống của đảng viên; về thực hiện quy định những điều đảng viên không được làm... Đi đôi với việc thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Điều 32, Điều lệ Đảng, UBKT Đảng uỷ xã đã tích cực, chủ động tham mưu giúp cấp ủy trong việc ban hành quy chế làm việc của UBKT; xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát toàn khóa và hằng năm; cùng với các ban xây dựng Đảng, văn phòng cấp ủy tham mưu giúp cấp ủy trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo về công tác kiểm tra, giám sát và triển khai, quán triệt Điều lệ Đảng, chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Đồng thời, UBKT các cấp đã chủ động tham mưu giúp cấp ủy trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo Điều 30 Điều lệ Đảng. Từ kết quả công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, UBKT Đảng uỷ, đã nâng cao ý thức, trách nhiệm của tổ chức đảng và đảng viên trong việc chấp hành các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đưa công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng trong toàn Đảng bộ đi vào nề nếp, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên; xây dựng chính đốn Đảng, củng cố khối đại đoàn kết thống nhất trong Đảng, thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, đem lại 15 lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Với những thành tích trong công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng, UBKT Đảng uỷ xã 04 lượt cán bộ làm công tác kiểm tra đã được Huyện uỷ và UBKT Huyện Uỷ Cao Lãnh khen thưởng. Từ những kết quả đạt được như trên công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng bộ xã có nhiều đổi mới và đạt được những kết quả quan trọng, góp phần tích cực vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng. Nhận thức, hoạt động của cấp uỷ, tổ chức đảng về công tác kiểm tra có chuyển biến tích cực. Uỷ ban kiểm tra xã đã chủ động thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kỷ luật Đảng theo quy định của Điều lệ Đảng và nhiệm vụ do cấp uỷ giao; chủ động tham mưu, giúp cấp uỷ lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra. Công tác kiểm tra đã góp phần tích cực vào việc ngăn ngừa sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, xây dựng Đảng bộ xã Nhị Mỹ trong sạch, vững mạnh nhiều năm liền. 2.3.2. Hạn chế- nguyên nhân: Công tác kiểm tra của Đảng bộ xã vẫn còn yếu, chất lượng, hiệu quả kiểm tra chưa cao; nhiều khuyết điểm, sai phạm của đảng viên và tổ chức đảng chậm được phát hiện và khắc phục; công tác kiểm tra thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng, kiểm tra, phòng ngừa, phát huy nhân tố tích cực chưa được nhiều. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đạt yêu cầu. Kỷ cương, kỷ luật từng lúc từng nơi không nghiêm. Sự đoàn kết, nhất trí trong cấp uỷ chưa tốt. Quan hệ giữa Đảng và nhân dân có lúc, có nơi chưa chặt chẽ. Dân chủ trong Đảng và trong xã hội còn bị vi phạm. Nhiều tổ Chi bộ không đủ năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh. Công tác tư tưởng còn thiếu sức thuyết phục. Công tác tổ chức và cán bộ còn nhiều mặt yếu kém. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, đảng viên còn diễn ra nghiêm trọng. Chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra chưa cao, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của các ngành, các lĩnh 16 vực trong công tác kiểm tra; chưa coi trọng kiểm tra phòng ngừa, phát huy nhân tố tích cực; nhiều khuyết điểm, sai lầm của đảng viên và tổ chức đảng chậm được phát hiện và khắc phục. Công tác kiểm tra của một vài chi bộ còn mang tính hình thức, chất lượng, hiệu quả thấp; kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, nghị quyết, chỉ thị của Đảng chưa được quan tâm đúng mức. Năng lực, trình độ, phong cách công tác của một bộ phận cán bộ kiểm tra chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Nguyên nhân của những yếu kém trên đây là : - Cấp uỷ, tổ chức đảng có lúc chưa quan tâm đúng mức, nhận thức chưa đầy đủ về công tác kiểm tra và thi hành kỷ luật của Đảng. Còn thiếu các quy định của Đảng làm cơ sở cho việc đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; một số chính sách, pháp luật của Nhà nước còn nhiều sơ hở, thiếu đồng bộ, nhiều quy định không còn phù hợp nhưng chậm được bổ sung, sửa đổi, ban hành mới; chưa có cơ chế giám sát trong Đảng và giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và của nhân dân đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên. - Một số nơi còn vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; việc buông lỏng quản lý đảng viên còn khá phổ biến. Tình trạng thiếu tính chiến đấu, hữu khuynh, né tránh, bao che, giấu giếm khuyết điểm trong đấu tranh tự phê bình và phê bình,trong xem xét thi hành kỷ luật đảng còn xảy ra ở nhiều tổ chức đảng. - Đội ngũ cán bộ kiểm tra của Đảng, nhất là cán bộ kiểm tra chuyên trách còn thiếu về số lượng, một bộ phận yếu về chất lượng. Công tác nghiên cứu về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng chưa giải đáp được nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra. 2.4. Đánh giá chung: Trong nhiệm kỳ qua, công tác kiểm tra được Đảng bộ xã Nhị Mỹ quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, có nhiều đổi mới và đạt được những kết quả quan trọng, góp 17 phần tích cực vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, tăng cường kỷ cương, kỷ luật, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ở địa phương. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng đến nay, nhận thức của cấp uỷ, tổ chức đảng và uỷ ban kiểm tra Đảng uỷ xã về công tác kiểm tra và thi hành kỷ luật có chuyển biến tích cực, lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện nhiệm vụ kiểm tra đạt nhiều kết quả. Cấp uỷ xã đã xây dựng kế hoạch kiểm tra hằng năm và chỉ đạo thực hiện có kết quả các cuộc kiểm tra về thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng; thực hiện các chương trình, dự án; quản lý, sử dụng đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản; thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí và công tác cán bộ. Đội ngũ cán bộ kiểm tra có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với sự nghiệp cách mạng, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ khá, ngày càng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong từng thời kỳ. Cấp uỷ xã đã nghiêm túc quán triệt và triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng về công tác kiểm tra, kỷ luật đảng; ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền của cấp mình để lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có kết quả công tác này; xử lý nghiêm minh những khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên; chỉ đạo uỷ ban kiểm tra và các tổ chức có liên quan xử lý kiên quyết, dứt điểm vi phạm của tổ chức và cá nhân, thu hồi tài sản bị chiếm dụng cho Nhà nước. Uỷ ban kiểm tra Đảng uỷ vừa thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, vừa thực hiện tốt vai trò tham mưu, giúp cấp uỷ về công tác kiểm tra, góp phần từng bước nâng cao chất lượng các cuộc kiểm tra của Đảng. Tuy nhiên, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đạt yêu cầu. Kỷ cương, kỷ luật nhiều lĩnh vực không nghiêm. Sự đoàn kết, nhất trí trong nội bộ cấp uỷ từng lúc từng nơi chưa tốt. Quan hệ giữa Đảng và nhân dân có lúc, có nơi chưa chặt chẽ. Dân chủ trong Đảng và trong xã hội còn bị vi phạm. Công tác tư tưởng còn thiếu sức thuyết phục. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, đảng viên còn diễn ra nghiêm trọng. 18 Chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra chưa cao, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của các ngành, các lĩnh vực trong công tác kiểm tra; chưa coi trọng kiểm tra phòng ngừa, phát huy nhân tố tích cực; nhiều khuyết điểm, sai lầm của đảng viên và tổ chức đảng chậm được phát hiện và khắc phục. Công tác kiểm tra của tổ chức đảng, nhất là các chi bộ ấp còn mang tính hình thức, chất lượng, hiệu quả thấp; kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, nghị quyết, chỉ thị của Đảng chưa được quan tâm đúng mức. Chính vì vậy cần phải có những giải pháp đồng bộ để nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ xã Nhị Mỹ trong thời gian tới. 3. Một số phương hướng và giải pháp góp phần nâng cao việc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ xã Nhị Mỹ trong thời gian tới: 3.1. Phương hướng: Từ nay đến năm 2015, Đảng bộ xã Nhị Mỹ cần phải tập trung tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, sự đoàn kết thống nhất và bảo đảm thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng; phòng ngừa, ngăn chặn sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, tránh các nguy cơ sai lầm về đường lối, quan liêu, xa dân của đảng cầm quyền, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI. Tạo sự chuyển biến tích cực về tư tưởng, nhận thức và hành động trong Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, trước hết là trong cấp uỷ, đặc biệt là người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội các cấp. Từng bước hoàn thiện, quan điểm, nội dung, phương pháp, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong tình hình mới. Kịp thời đánh giá đúng ưu điểm của tổ chức đảng và đảng viên để phát huy, phát hiện, làm rõ thiếu sót, khuyết điểm để uốn nắn, khắc phục và xử lý nghiêm minh khi có vi phạm, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phục vụ việc tổng kết thực tiễn, nhân rộng những nhân tố mới, bổ sung, hoàn thiện và phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chống tư tưởng bảo thủ, trì trệ, cục bộ, bản vị, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực. 19 Kiểm tra, giám sát để nắm tình hình, để đôn đốc, thúc đẩy việc thực hiện có kết quả cao các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách của Nhà nước; phát hiện những nhân tố mới, những sáng kiến, cách làm hay để cổ vũ, động viên, nhân rộng; uốn nắn những lệch lạc để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện đường lối, cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước; phòng ngừa, ngăn chặn sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí của cán bộ, đảng viên; bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng; góp phần củng cố, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng... Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, trước yêu cầu mới của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ xã càng đòi hỏi phải tăng cường mạnh mẽ hơn nữa để nâng cao hiệu quả trong công tác kiểm tra, giám sát, góp phần quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, trong thời gian tới UBKT Đảng uỷ xã cần tiếp tục nâng cao chất lượng tham mưu giúp cấp ủy trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 5, khóa X về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; phổ biến, quán triệt sâu sắc và triển khai, thực hiện các quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát. Chủ động thực hiện tốt các nhiệm vụ do Điều lệ Đảng quy định, trong đó chú trọng kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm; tập trung kiểm tra các lĩnh vực dễ phát sinh sai phạm; kết hợp kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên. Tiếp tục kiện toàn UBKT Đảng uỷ, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đảm bảo số lượng, nâng cao chất lượng, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng trong tình hình mới. Phát huy truyền thống "Tuyệt đối trung thành với Đảng, tận tụy với nhiệm vụ, trung thực, liêm khiết, đoàn kết, kỷ luật" của ngành Kiểm tra Đảng. 3.2. Giải pháp: 1- Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của cấp uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra, trước hết là người đứng đầu cấp uỷ về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng 20 Tăng cường công tác phổ biến, quán triệt các quy định của Đảng, trước hết là đối với người đứng đầu về vị trí, vai trò, ý nghĩa, tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng; vai trò, trách nhiệm của các cấp uỷ trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát; trách nhiệm của các tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra, của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng; tạo được sự chuyển biến thực sự về nhận thức và hành động đối với công tác này. 2- Xây dựng, hoàn thiện các quy chế phục vụ công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng - Cấp uỷ Đảng cần sớm sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các quy chế cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Xây dựng quy chế phối hợp giữa các tổ chức đảng với các tổ chức nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. - Thực hiện minh bạch, công khai hoá các chế độ, chính sách để cán bộ, đảng viên và nhân dân giám sát, kiểm tra tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên. 3- Đổi mới, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng của cấp uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra các cấp và chi bộ bảo đảm hiệu lực, hiệu quả - Cấp uỷ xã : Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc chấp hành Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị và các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm phát hiện nhân tố tích cực để nhân rộng, những chủ trương, chính sách chưa phù hợp để điều chỉnh, ngăn ngừa, hạn chế các sai phạm của tổ chức đảng và đảng viên. Chú trọng kiểm tra, giám sát việc cụ thể hoá, thể chế hoá đường lối, quan điểm của Đảng. Tập trung kiểm tra, giám sát những nơi thường dễ xảy ra vi phạm như lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý sử dụng đất đai, tài chính; những nơi có dấu hiệu ban hành chủ trương, chính sách trái với nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước và bao che sai phạm của cấp dưới. Kiểm tra, giám sát người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước ở các cấp về năng lực lãnh đạo, quản lý, về phẩm chất đạo đức, lối sống, về phong cách và tính tiên phong, gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ.
- Xem thêm -