Tài liệu Đảng lãnh đạo liên minh chiến đấu Việt Nam với Lào chống đế quốc Mĩ xâm lược từ năm 1954 đến năm 1965

  • Số trang: 137 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 1046 |
  • Lượt tải: 2
sakura

Tham gia: 10/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------------------------------------- NGUYỄN THỊ HẠNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM VỚI LÀO CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƢỢC TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1965 LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Hà Nội-2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------------------------------------- NGUYỄN THỊ HẠNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM VỚI LÀO CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƢỢC TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1965 Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Mã số: 60 22 03 15 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS.Nguyễn Thị Mai Hoa Hà Nội-2013 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chƣơng 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI 6 LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM – LÀO ĐẤU TRANH THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ, CỦNG CỐ, PHÁT TRIỂN LỰC LƢỢNG CÁCH MẠNG (1954-1960) 1.1. Khái quát về liên minh chiến đấu Việt – Lào thời kỳ chống thực dân Pháp 6 xâm lược (1945-1954) 1.1.1. Yêu cầu khách quan hình thành liên minh chiến đấu Việt – Lào 6 1.1.2. Quá trình hình thành, phát triển liên minh chiến đấu Việt – Lào 10 1.2. Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương đối với liên minh chiến đấu Việt – 16 Lào của Đảng 1.2.1. Hoàn cảnh lịch sử 16 1.2.2. Chủ trương đối với liên minh chiến đấu Việt - Lào 19 1.3. Chỉ đạo củng cố, xây dựng và hoạt động của liên minh chiến đấu Việt 25 – Lào 1.3.1. Củng cố liên minh chiến đấu Việt – Lào, đoàn kết đấu tranh thực hiện 25 Hiệp định Giơnevơ 1.3.2. Củng cố liên minh chiến đấu, giúp đỡ Lào phát triển lực lượng, căn cứ 31 địa và cùng xây dựng tuyến vận tải chiến lược đường Trường Sơn Chƣơng 2: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI LIÊN MINH 51 CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM – LÀO GIAI ĐOẠN CHỐNG CHIẾN LƢỢC CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (19611965) 2.1. Tình hình Đông Dương và chủ trương của Đảng đối với liên minh 51 chiến đấu Việt – Lào 2.1.1. Tình hình Việt Nam và Lào 51 2.1.2. Chủ trương của Đảng đối với liên minh chiến đấu Việt – Lào 55 2.2. Chỉ đạo phát triển và hoạt động của liên minh chiến đấu Việt – Lào 60 2.2.1. Phát triển liên minh chiến đấu Lào – Việt, bảo vệ, mở rộng vùng 60 giải phóng 2.2.2. Phát triển liên minh chiến đấu Lào – Việt, đảm bảo tuyến vận tải chiến 72 lược, phối hợp giữa chiến trường hai nước Chƣơng 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 82 3.1. Nhận xét 82 3.1.1. Về ưu điểm 82 3.1.2. Một số hạn chế 91 3.2. Kinh nghiệm 95 KẾT LUẬN 103 TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC 118 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ĐCSĐD Đảng Cộng sản Đông Dương ĐND Đảng Nhân dân ĐNDCM Đảng Nhân dân cách mạng VNDCCH Việt Nam Dân chủ Cộng hòa XHCN Xã hội chủ nghĩa QĐND Quân đội nhân dân ĐLĐVN Đảng Lao động Việt Nam CMDTDCND Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Có chung đường biên giới, có vị trị địa lý kề cận, cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn, lại có những nét lịch sử - văn hóa tương đồng, Việt Nam, Lào đã có mối quan hệ mật thiết gắn bó máu thịt. Tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào không chỉ có từ rất sớm, mà còn rất bền chặt. Quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt – Lào luôn được Đảng Lao động Việt Nam coi trọng, coi đó là quan hệ chiến lược, có ý nghĩa sống còn với cách mạng mỗi nước. Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc hình thành trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp tiếp tục được bồi đắp, củng cố và phát triển. Trước những âm mưu và hành động xâm lược của đế quốc Mỹ, nhân dân Việt – Lào cùng nhau đoàn kết chiến đấu giành và giữ vững nền độc lập dân tộc. Trong quan hệ đoàn kết chiến đấu keo sơn đó, Việt Nam luôn tỏ rõ trách nhiệm của mình, luôn nêu cao tinh thần đoàn kết trong sáng, thủy chung, làm hết sức mình để củng cố, xây dựng liên minh chiến đấu giữa hai dân tộc; ngược lại, cách mạng Việt Nam cũng nhận được sự giúp đỡ to lớn của Đảng và nhân dân Lào, nhân dân Lào sẵn sàng nhường cơm sẻ áo giúp đỡ quân và dân Việt Nam. Liên minh chiến đấu Việt – Lào đã mang sức mạnh to lớn cho mỗi dân tộc để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giành thắng lợi hoàn toàn. Như vậy, quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa ba nước Đông Dương là một trong những yếu tố quan trọng làm nên thắng lợi sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của hai dân tộc và hiện nay là một trong những trục quan hệ quan trọng trong hệ thống quan hệ quốc tế của Việt Nam – một mối quan hệ đặc biệt mà ở giai đoạn hiện tại tiếp tục cần được củng cố, phát triển mạnh mẽ. Trên những ý nghĩa ấy, việc nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình củng cố, xây dựng, phát triển liên minh chiến đấu Việt – Lào những năm 1954-1965, nhận thức khách quan, khoa học về thành tựu, hạn chế, nguyên nhân, lấy đó làm cơ sở đúc rút một số kinh nghiệm quan trọng phục vụ hiện tại là hết sức cần thiết, vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn. Với cách tiếp cận đó, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Đảng lãnh đạo liên 1 minh chiến đấu Việt Nam với Lào chống đế quốc Mỹ xâm lược từ năm 1954 đến năm 1965” làm đề tài luận văn Thạc sỹ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. 2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Qua khảo cứu, sưu tầm tài liệu, có thể nhận thấy có khá nhiều công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp, hoặc về vấn đề nghiên cứu. Có thể liệt kê một số công trình tiêu biểu sau: Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 2, 1954-1975, , Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994. Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, 1954-1975, từ tập 1 đến tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996-2000. Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào, 1954-1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999. Ba công trình trên chủ yếu đề cập đến liên minh Việt – Lào trên lĩnh vực quân sự. Đồng thời, các cuốn sách đó trình bày những vấn đề về những hoạt động chủ yếu của quân tình nguyện và các đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế trên chiến trường Lào, xây dựng, phát triển lực lượng quân sự, chính trị, xây dựng căn cứ kháng chiến; phối hợp với chiến trường Lào chiến đấu giành thắng lợi từng bước, tiến tới đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ. Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước – thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995. Lịch sử Đảng nhân dân cách mạng Lào, Ban chỉ đạo Nghiên cứu lý luận và thực tiễn Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào (bản Tiếng Việt), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995. Các tác phẩm trên đề cập chủ yếu đến những bài học lớn về liên minh chiến đấu Lào – Campuchia, những sự kiện lớn về Đảng nhân dân cách mạng Lào. Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam 1930-2007, Biên soạn Trịnh Nhu, Trần Trọng Thức, Trần Văn Thức, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011. Cuốn sách được chia làm bốn phần: Phần thứ nhất: Dưới sự lãnh đạo của ĐCSĐD, 2 nhân dân hai nước Việt Nam và Lào phát huy truyền thống đoàn kết đặc biệt, đấu tranh giành độc lập tự do (1930-1945); Phần thứ hai: Liên minh Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam chiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975); Phần thứ ba: Quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam từ năm 1976 đến năm 2007; Phần thứ tư: Thành quả, bài học và triển vọng. Với những nội dung trên công trình có giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc, góp phần giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết hữu nghị đặc biệt giữa hai nước. Liên minh chiến đấu Việt – Lào trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) – Lịch sử và kinh nghiệm, đề tài cấp Bộ do Viện Lịch sử Đảng, Học viện chính trị Quốc gia chủ trì. Đề tài chủ yếu trình bày các sự kiện lịch sử về liên minh Việt Nam và Lào trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tổng kết những bài học kinh nghiệm về mối quan hệ này trong giai đoạn mới. Ngoài ra, những tư liệu về liên minh Việt Nam – Lào cũng được đề cập trong những bài viết trên các tạp chí chuyên ngành như: tạp chí Lịch sử Đảng, tạp chí Cộng sản, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, tạp chí Lịch sử quân sự,…theo nhiều hướng đề cập khác nhau. Tuy nhiên, đề cập đến liên minh chiến đấu Việt – Lào dưới góc độ Lịch sử Đảng thì chưa có một công trình nào được công bố. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu * Mục đích nghiên cứu - Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong lãnh đạo phát triển liên minh chiến đấu Việt – Lào từ năm 1954 đến năm 1965. - Trên cơ sở đó, nêu lên những thành tựu, hạn chế và đúc rút ra một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho giai đoạn hiện tại. * Nhiệm vụ nghiên cứu - Phân tích quan điểm, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong lãnh đạo xây dựng, phát triển liên minh chiến đấu Việt - Lào qua hai giai đoạn: 1954-1960 và 1961-1965. - Chỉ ra thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng, phát triển liên minh chiến đấu Việt – Lào những năm 1954-1965. 3 - Đúc rút một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo từ quá trình Đảng lãnh đạo liên minh chiến đấu Việt – Lào từ năm 1954 đến năm 1965. 4. Đối tƣợng, phạm vi, phƣơng pháp nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo xây dựng, củng cố và phát triển liên minh chiến đấu Việt – Lào. * Phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu các chủ trương, biện pháp cơ bản, quan trọng của Đảng trong lãnh đạo liên minh chiến đấu Việt – Lào; những sự kiện chính, quan trọng, những mốc lớn trong quá trình phát triển của liên minh chiến đấu Việt - Lào từ năm 1954 (khi cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam, Lào bắt đầu) đến 1965 (dấu mốc đánh bại một bước chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ) với phạm vi không gian là một số địa bàn chiến lược quan trọng thuộc lãnh thổ Việt Nam và Lào. * Phương pháp nghiên cứu - Cơ sở lý luận chung của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - Phương pháp lịch sử và phương pháp logic. - Phương pháp phân tích, tổng hợp. - Phương pháp so sánh, hệ thống hoá. - Phương pháp đối chiếu, thống kê… 5. Đóng góp của luận văn - Làm rõ quá trình Đảng lãnh đạo liên minh Việt - Lào những năm 19541965 với những thành công, tồn tại. - Đúc rút một số kinh nghiệm có cơ sở khoa học và thực tiễn. - Luận văn có thể sử dụng trong giảng dạy môn học lịch sử, lịch sử Đảng, một số môn học có liên quan, hoặc làm tài liệu tham khảo nghiên cứu quan hệ Việt – Lào. 6. Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 3 chương và 6 tiết: 4 Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với liên minh chiến đấu Việt – Lào đấu tranh thực hiện Hiệp định Giơnevơ, củng cố, phát triển lực lượng cách mạng (1954-1960) Khái quát tình hình cách mạng Lào và Việt Nam sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, sự lãnh đạo của Đảng trong củng cố, xây dựng liên minh chiến đấu Việt – Lào giai đoạn đấu tranh thi hành Hiệp định Giơnevơ, củng cố và phát triển lực lượng cách mạng của hai nước. Chương 2: Sự lãnh đạo của Đảng đối với liên minh chiến đấu Việt Nam – Lào giai đoạn chống chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ (1961-1965) Phân tích những chủ trương, biện pháp của Đảng trong việc củng cố liên minh chiến đấu Việt – Lào giai đoạn đấu tranh chống chiến tranh đặc biệt của Mỹ, phát triển lực lượng, bảo vệ và mở rộng vùng giải phóng. Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm Trên cơ sở những nhận xét, đánh giá về thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng đối với củng cố, xây dựng, phát triển liên minh chiến đấu Việt – Lào, đúc rút một số kinh nghiệm quan trọng có cơ sở lý luận và thực tiễn. 5 NỘI DUNG Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU VIỆT NAM – LÀO TRONG ĐẤU TRANH THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ, CỦNG CỐ, PHÁT TRIỂN LỰC LƢỢNG CÁCH MẠNG (1954-1960) 1.1. Khái quát về liên minh chiến đấu Việt – Lào thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lƣợc (1945-1954) 1.1.1. Yêu cầu khách quan hình thành liên minh chiến đấu Việt – Lào Việt Nam và Lào là hai quốc gia láng giềng cùng nằm trên bán đảo Đông Dương. Gần một thế kỷ dưới ách thống trị của thực dân Pháp, hai dân tộc đã gắn bó với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung. Đặc biệt từ khi có sự lãnh đạo của ĐCSĐD (tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam) và ĐNDCM Lào, hai dân tộc đã đắp xây nên tình đoàn kết chiến đấu và mối quan hệ hữu nghị đặc biệt, một truyền thống quý báu tạo nên sức mạnh vô địch đánh thắng kẻ thù xâm lược. Từ nửa cuối thế kỷ XIX, để tiến hành xâm lược bán đảo Đông Dương, Pháp đã tiến đánh Việt Nam, sau đó chiếm toàn bộ Campuchia vào năm 1863, đánh chiếm Lào năm 1867. Đến năm 1893, Pháp thành lập Đông Dương thuộc Pháp và chia thành năm xứ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào và Campuchia), thực hiện chính sách “chia để trị”. Do cùng chung một kẻ thù và chung cảnh ngộ bị xâm lược, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào đã tự nguyện liên kết nổi dậy đấu tranh chống thực dân Pháp với những hình thức khác nhau1. Đứng trước một kẻ thù có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn mạnh như Pháp, muốn giành được thắng lợi, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào cần phải phối hợp, phát huy sức mạnh nội lực, kết hợp với sức mạnh ngoại lực, gắn cuộc đấu 1 Ở Việt Nam, có phong trào Cần Vương (1885-1895) – phong trào xây dựng nhiều căn cứ ở vùng núi giáp biên giới Việt – Lào. Ở Lào, có phong trào chống Pháp ở Áttapư do ông Khi Volảlạt lãnh đạo (1900-1901) hòa chung với phong trào Phùmibun ở Trung Lào của Phò Càđuột (1901-1902) và cuộc khởi nghĩa ở Hạ Lào do ông Kẹo, ông Cômmađăm lãnh đạo (1901-1937). Các cuộc khởi nghĩa đã có sự liên kết với các cuộc nổi dậy chống Pháp của bộ tộc Xơ đăng ở Kon Tum năm 1918, của người Mông ở Tây Bắc Việt Nam do Chậu Phạpắtchây lãnh đạo, lan rộng ra ở nhiều tỉnh Bắc Lào và Tây Bắc Việt Nam. Mặc dù phát triển khá mạnh mẽ, nhưng cuối cùng những cuộc khởi nghĩa này vẫn thất bại. 6 tranh giải phóng dân tộc mỗi nước với sự nghiệp chung của các dân tộc trên bán đảo Đông Dương. Ngay từ rất sớm, trong những bài báo đầu tiên viết về Đông Dương vào năm 1921, Nguyễn Ái Quốc đã đặt niềm tin vào sức mạnh quật khởi của quần chúng nhân dân1, nhận thấy rằng một trong những nguyên nhân gây ra sự suy yếu của các dân tộc Đông Dương chính là sự biệt lập, dẫn đến sự thiếu tin cậy lẫn nhau trong việc phối hợp hành động đấu tranh chống kẻ thù chung. Từ đó, Hồ Chí Minh dành mối quan tâm đặc biệt đến Lào – người láng giềng thân thiết của Việt Nam, xác lập nguyên tắc căn bản và nhất quán trong phương pháp xử lý mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào cũng như quan hệ giữa cách mạng ba nước Đông Dương. Theo Hồ Chí Minh, do có mối quan hệ khăng khít về địa lý, hai dân tộc Miên, Lào hoàn toàn giải phóng thì cuộc giải phóng của nhân dân Việt Nam mới chắc chắn hoàn toàn; nhiệm vụ của Việt Nam là phải ra sức giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào một cách tích cực, thiết thực hơn vì giúp nhân dân nước bạn tức là tự giúp mình. Nghị quyết Hội nghị tháng 10/1930 xác định đường lối cách mạng của ba nước Đông Dương là: ba nước đều là thuộc địa của Pháp cho nên cần đoàn kết chống ách thống trị của thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc. Nhiệm vụ của Đảng là phải khuếch trương phong trào đấu tranh cho đều khắp các xứ Đông Dương. Hội nghị cũng quyết nghị đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành ĐCSĐD, mở rộng phạm vi lãnh đạo của Đảng ra toàn cõi Đông Dương. Theo Điều lệ Đảng, Đảng sẽ xây dựng tổ chức đều khắp ở Đông Dương. Nhận thức sâu sắc vấn đề đó, nhiều chi bộ cộng sản đã được xây dựng ở Lào và Campuchia2. Những sự kiện trên đã đánh dấu mốc lịch sử đấu tranh trong liên minh giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng Lào, mở ra thời kỳ phát triển về chất trong mối quan hệ đoàn kết đấu tranh dưới sự lãnh đạo của một chính đảng. 1 Hồ Chí Minh cho rằng, đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đó đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến... Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi. 2 Ở Lào, những năm 1930-1933 đã xây dựng được các chi bộ ở Viêng Chăn, Thà Khẹc, Xa vẳn na khệt, Pắc Xế. Tháng 9/1934, xứ ủy Ai Lao được thành lập chịu trách nhiệm lãnh đạo phong trào cách mạng Lào. 7 Trong những năm 1939-1945, nhân dân Đông Dương bị cả thực dân Pháp và phát xít Nhật thống trị. Lúc này vấn đề đấu tranh không phải là giải phóng riêng rẽ từng xứ, mà các dân tộc Đông Dương phải thành lập các đoàn thể phản đế để đi đến thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương. Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5/1941) khẳng định: “cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện nay là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”; quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt minh) đồng thời chủ trương hết sức giúp đỡ các dân tộc Campuchia và Lào tổ chức Cao Miên độc lập đồng minh, Ai Lao độc lập đồng minh. Tháng 3/1945, khi Nhật đảo chính Pháp, ĐCSĐD ra Chỉ thị “Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, chủ trương phát động cao trào kháng Nhật cứu nước làm tiền đề cho Tổng khởi nghĩa. Cao trào kháng Nhật cứu nước ở Việt Nam đã tác động và cổ vũ mạnh mẽ các lực lượng yêu nước Lào đấu tranh giành độc lập. Dưới sự lãnh đạo của ĐCSĐD, tháng 8/1945, Việt Nam Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tuyên bố trước thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cùng thời gian đó, nhân dân Lào có sự tham gia của Việt kiều tại Lào dưới sự lãnh đạo của ĐCSĐD, đã tiến hành khởi nghĩa cướp chính quyền ở một số thành phố, thị xã: Viêng Chăn, Thà Khẹc, Xa vẳn na khệt, Sầm Nưa, Luông Pha băng. Sau đó, tháng 9/1945, tổ chức Lào Ítxalạ và Việt kiều yêu nước đã nhất trí thành lập Liên quân Lào – Việt đặt dưới sự chỉ huy của một bộ tham mưu chung do Quản Xỉng và Vũ Hữu Bỉnh đứng đầu, các Ủy ban phòng thủ Lào – Việt cũng được tổ chức ở các địa phương. Ngày 10/10/1945, Chính phủ Lào Ítxalạ được thành lập do Hoàng thân Phết xa rạt đứng đầu, ông Khăm Mạo Vilay làm Thủ tướng, đến ngày 12/10/1945 Đại hội dân chúng Lào bầu ra Chính phủ Lào độc lập, thông quan Hiến pháp, tuyên bố nền độc lập của Lào. Sau khi nước VNDCCH ra đời (2/9/1945) không bao lâu, ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Tiếp đó, chúng tiến sang đánh chiếm Phnôm pênh đưa Xihanúc lên cầm quyền, đồng thời xúc tiến việc xâm lược Lào, mở 8 rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương. Một lần nữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào dưới sự lãnh đạo của ĐCSĐD lại phải tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trong điều kiện quốc tế và tình hình hai nước có nhiều biến động với những thuận lợi và khó khăn. Năm 1945, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nhân loại bước vào thời kỳ mới: sự hình thành hai hệ thống xã hội (chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản đối lập nhau), tương quan lực lượng thế giới thay đổi có lợi cho xu hướng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Sự lớn mạnh của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ảnh hưởng đến chiều hướng phát triển của các trào lưu cách mạng, những phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới. Tuy nhiên, tình hình quốc tế cũng có những phức tạp mà biểu hiện ra là đối đầu giữa hai khối: các nước tư bản chủ nghĩa đứng đầu là Mỹ - đế quốc ngày càng lớn mạnh sau chiến tranh thế giới thứ hai, chi phối các nước tư bản chủ nghĩa khác và ráo riết theo đuổi chiến lược toàn cầu phản cách mạng với hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu là hệ thống tiêu biểu cho những xu hướng dân chủ, cho lợi ích của các tầng lớp cần lao, cho ý chí của các dân tộc bị áp bức, của số đông loài người. Dù là đối đầu nhưng cả hai phe Liên Xô và Mỹ vẫn tìm cách để nhân nhượng nhau. Trong Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc (25/11/1945), Trung ương ĐCSĐD cho rằng: quan hệ giữa Liên Xô với Mỹ, Anh khá căng thẳng: Liên Xô tập trung xây dựng đất nước, cải thiện đời sống nhân dân; còn Mỹ, Anh và Canađa định lập khối Anglo-Saxon để chống lại Liên Xô, nhưng thái độ bình tĩnh của Liên Xô lại làm Anh, Mỹ phải dè chừng. Trước năm 1945, Mỹ luôn tìm cách gạt Pháp ra khỏi Đông Dương. Sau khi Tổng thống Ru- dơ-ven qua đời (4/1945), quan điểm của Mỹ về Đông Dương có sự thay đổi, mặc dù Mỹ giữ thái độ trung lập nhưng vẫn ngầm tạo cơ hội cho Pháp quay trở lại xâm lược Đông Dương. Sự ra đời của nước VNDCCH và nước Lào tuyên bố độc lập đã khiến cho kẻ thù của ba nước Đông Dương, của nhân dân tiến bộ trên thế giới phải câu kết lại với nhau, nhằm thực hiện âm mưu xóa bỏ thành quả cách mạng của nhân dân Việt Nam, 9 Lào; ngăn chặn ảnh hưởng của cách mạng Việt Nam và Lào trong khu vực cũng như trên trường quốc tế, khôi phục ách thống trị của chủ nghĩa thực dân đế quốc. Cuối tháng 8/1945, gần 20 vạn quân Trung Hoa dân quốc chia thành nhiều hướng khác nhau tiến vào bắc vĩ tuyến 16 của Việt Nam, Lào với sự hậu thuẫn của Mỹ. Sau khi đưa quân chiếm đóng các thành phố, thị xã và các địa bàn trọng yếu, những kẻ cầm đầu quân Trung Hoa dân quốc tuyên bố thời gian có mặt của chúng tại Bắc vĩ tuyến 16 là không hạn định và thực hiện âm mưu tiêu diệt ĐCSĐD, giúp bọn tay sai chống phá cách mạng Việt Nam và Lào. Theo quyết định của Hội nghị Pốtxđam, Pháp bị gạt ra ngoài lề vấn đề Đông Dương, nhưng trên thực tế việc để quân Anh vào giải giáp quân Nhật ở nam vĩ tuyến 16, vô hình chung đã tạo điều kiện cho Pháp trở lại xâm lược bán đảo này. Mặt khác, lợi dụng tình thế lúc bấy giờ, số quân Pháp dạt khỏi Đông Dương trong cuộc đảo chính của quân Nhật cũng đang tìm cách trở lại bắc vĩ tuyến 16 Việt Nam và Lào. Đêm 22 rạng ngày 23/9/1945, quân Pháp nổ súng đánh chiếm một số công sở ở thành phố Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương lần thứ hai; đồng thời, mở rộng chiến tranh ra toàn bộ Nam Bộ và Nam Trung Bộ, sang Campuchia. Đầu tháng 9/1945, Pháp đưa quân vào nam vĩ tuyến 16 của Lào, thành lập Bộ Tổng tham mưu của Pháp tại Lào. Trong khi đó, Sư đoàn 23 thuộc Quân đoàn 60 quân Trung Hoa dân quốc tiến vào phía Bắc vĩ tuyến 16 của Lào chiếm đóng các thị xã, thị trấn dọc sông Mê Kông, từ Phong Xa Lỳ đến Xa vẳn na khệt. Như vậy, trước âm mưu từng bước mở rộng chiến tranh dùng lãnh thổ nước này để xâm chiếm nước kia, biến Đông Dương thành thuộc địa của Pháp đã đặt ra yêu cầu cho ba nước Việt Nam, Lào phải đoàn kết liên minh, tạo sức mạnh tổng hợp đánh bại âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc. 1.1.2. Quá trình hình thành, phát triển liên minh chiến đấu Việt – Lào Sự trở lại xâm lược và thống trị của Pháp ở Đông Dương đã đưa hai dân tộc Việt Nam và Lào cùng sát cánh bên nhau chống kẻ thù chung là thực dân Pháp. Nhu cầu hợp tác, giúp đỡ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của hai 10 nước xuất phát từ hai phía: Lào cần có sự giúp đỡ, hỗ trợ của Việt Nam và ngược lại Việt Nam cũng vậy. Cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập của nhân dân mỗi nước cũng chính là cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung vì mục tiêu chung của toàn bán đảo trên cơ sở đôi bên cùng có lợi, đưa sự nghiệp cách mạng vững chắc tiến lên. Trên thực tế, cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược đã bắt đầu ngay trong quá trình tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Lào. Bước vào cuộc chiến đấu mới, nhân dân Lào cũng như nhân dân các nước Đông Dương có những điều kiện thuận lợi: ĐCSĐD vẫn là người chỉ huy chung cách mạng ba nước Đông Dương; sự ra đời của nước VNDCCH; sự ra đời của Chính phủ lâm thời Lào Ítxalạ; sự ủng hộ của nhân dân Campuchia. Khi thực dân Pháp triển khai kế hoạch xâm chiếm toàn Đông Dương vào tháng 9/1945, cuộc chiến đấu chống Pháp của nhân dân Lào, nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia đã hợp thành một chiến trường Đông Dương thống nhất. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công song Việt Nam đang phải đối diện với nhiều khó khăn thử thách. Để bảo vệ chế độ dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh và Nhà nước Việt Nam đã có đường lối ngoại giao phù hợp với từng đối tượng kẻ thù và với hai nước láng giềng. Thông cáo về chính sách ngoại giao của Chính phủ lâm thời nước VNDCCH, xác định với Lào và Campuchia thì phải lấy dân tộc tự quyết làm nền tảng, giúp đỡ lẫn nhau và sánh vai ngang hàng mà tiến hóa. Sau khi Chính phủ lâm thời Ítxalạ được thành lập, tuyên bố Lào độc lập do Hoàng thân Phết Xa Rạt làm Quốc trưởng, ngày 14/10/1945, VNDCCH chính thức công nhận Chính phủ độc lập Lào, thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà nước Lào. Tiếp đó, ngày 16/10/1945, hai nước đã ký kết Hiệp ước tương trợ Việt Nam – Lào, đến ngày 30/10/1945, Chính phủ VNDCCH và Chính phủ Lào ký Hiệp định thành lập Liên quân Lào – Việt Nam do Hoàng thân Xuphanuvông làm Tổng chỉ huy. Việc ký kết các Hiệp định giữa hai Chính phủ đã tạo cơ sở pháp lý để hai nước hợp tác, liên minh chiến đấu chống quân xâm lược. Trong tháng 10/1945, Hoàng thân Xuphanuvông đã tuyên bố Lào và Việt Nam cùng chung một nguyện vọng duy nhất 11 là có nền độc lập và quyền dân chủ thực sự dưới sự lãnh đạo duy nhất của ĐCSĐD. Tuy nhiên, điểm yếu của cách mạng Lào trong giai đoạn này là thiếu cơ sở ở vùng nông thôn và vùng rừng núi - là những địa bàn chiến lược quan trọng. Sau những cuộc chiến đấu oanh liệt của liên quân Lào – Việt diễn ra trong đô thị và vùng phụ cận, Ban Thường vụ Trung ương ĐCSĐD chỉ thị cho xứ ủy Lào: “Phải tăng gia công việc võ trang tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân ở thôn quê làm cho Mặt trận thống nhất kháng Pháp của Lào – Việt lan rộng và chiến tranh du kích nảy nở ở thôn quê đặng bao vây lại quân Pháp ở những nơi sào huyệt của chúng và quét sạch chúng khỏi đất Lào” [45, tr.32]. Tiếp đó, Chỉ thị tháng 3/1948 về phương châm, phương hướng hoạt động trên các mặt trận Lào, Miên của Bộ Tổng chỉ huy cũng nhấn mạnh công tác trước mắt là giúp các lực lượng kháng chiến của hai nước xây dựng cơ sở chính trị; coi trọng việc bảo tồn lực lượng; cử cán bộ chính trị, vũ trang tuyên truyền hoạt động sâu trong vùng địch tạm chiếm, nếu có điều kiện thì thành lập căn cứ địa và khu giải phóng. Theo yêu cầu của cuộc kháng chiến ở Lào, để đối phó với các kế hoạch đánh chiếm các cứ điểm trên các trục đường chính, các thị xã như Xa ra van, Pạc Xế, các tỉnh Trung và Thượng Lào... của Pháp, Liên quân Lào – Việt đã được tổ chức ở nhiều nơi. Các đơn vị bộ đội địa phương (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị) được điều động lên hoạt động tại vùng giáp biên giới Việt – Lào; xây dựng lực lượng ở các thành phố, thị xã ở Lào. Tại Viêng Chăn, tập hợp được hơn 600 người tổ chức thành 4 đại đội chiến đấu gồm 3 đại đội Việt kiều và một đại đội Lào Ítxalạ. Xa vẳn na khệt tập hợp được hơn 200 quân tổ chức thành hai đại đội chiến đấu của Lào Ítxalạ và Việt kiều giải phóng quân. Thà Khẹc tập hợp được hơn 800 quân tổ chức thành 4 đại đội chiến đấu gồm 2 đại đội Lào Ítxalạ và 2 đại đội Việt kiều giải phóng quân. Với sự giúp đỡ của Liên quân Lào – Việt, quân dân Lào đã chiến đấu và bảo vệ các thành phố, thị trấn: Viêng Chăn, Khăm Cợt, Na Pê, đường 9, Bản Cơn, làm thất bại một bước kế hoạch tấn công lấn chiếm của địch, buộc chúng phải co về phòng thủ, giữ các địa bàn đang chiếm đóng. Ngoài ra, Ban Chỉ huy liên quân Lào – Việt còn mở các lớp huấn luyện quân sự cho dân quân tự vệ, các lớp bồi 12 dưỡng ngắn ngày cho cán bộ trung đội, tiểu đội. Mặc dù Chính phủ VNDCCH chưa có điều kiện để đặt quan hệ với Chính phủ Hoàng gia Lào và Chính phủ Hoàng gia Campuchia nhưng lại có điều kiện thắt chặt mối quan hệ hữu nghị với nhân dân hai nước. Đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng Lào, đầu năm 1947, nhiều tỉnh thuộc chiến khu IV Việt Nam đã tổ chức Ban Biên chính để liên hệ, phối hợp và giúp đỡ các địa phương Lào kề cận đẩy mạnh đấu tranh. Các lực lượng vũ trang tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị phối hợp chặt chẽ với bộ đội Lào, tăng cường hoạt động gây cơ sở trong vùng đồng bào dân tộc ít người ở biên giới tạo chỗ đứng chân để tuyên truyền, vận động nhân dân các bộ tộc Lào tham gia kháng chiến. Đến năm 1948, phong trào kháng chiến ở Lào đã bám rễ ở nhiều vùng nông thôn rộng lớn, các khối đoàn kết nhân dân được củng cố, nhiều căn cứ địa kháng chiến được thành lập1. Đầu năm 1948, Trung ương Đảng đã phân công Tổng tư lệnh quân đội Võ Nguyên Giáp chỉ đạo công tác giúp cách mạng Lào và theo dõi giúp cách mạng Campuchia. Trung ương Đảng chỉ rõ một trong những yêu cầu quan trọng để phát triển phong trào cách mạng ở Lào và Campuchia lúc này là phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong điều kiện ĐCSĐD đang phải hoạt động bí mật, chưa có điều kiện thành lập ở mỗi nước một chính đảng riêng. ĐCSĐD có trách nhiệm lãnh đạo phối hợp cuộc kháng kháng chiến của ba dân tộc. Tháng 3/1948, Bộ Tổng tư lệnh QĐND Việt Nam đã ra Chỉ thị số 1LV/TCU về Phương châm – phương hướng hoạt động cho các cấp chỉ huy và bộ đội hoạt động trên mặt trận Lào – Miên. Chỉ thị đã đánh giá tầm quan trọng chiến lược của Mặt trận Lào – Miên đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, phải “ngăn cản không cho phép quân Pháp trút hết lực lượng để tiến công ta” [14, tr.193] và “sẽ có tác dụng rất lớn trong giai đoạn tổng phản công sau này” [14, tr.194]. Vì vậy, trong điều kiện lịch sử mới, ĐCSĐD phải đề ra chủ trương phù hợp để lãnh đạo liên minh Việt – Lào phối hợp chiến đấu giữa chiến trường hai nước. 1 Như ở Sầm Nưa, Viêng Chăn, phía Bắc, Tây bắc vùng Mường Phương, Nậm Tồn, Bản Hẹ, Na phô, Noọng Sua, Xay Nha Bu Li…Phía Đông Lào giáp với biên giới Việt Nam cũng hình thành những căn cứ kháng chiến bám trụ trên đất Lào như khu đường 9, đường 8, đường 7; phía Nam Lào, phía Tây Bắc Lào (Nam Huội Sài)... 13 Trước những chuyển biến mới của cách mạng hai nước, ngày 30/10/1949, Ban Thường vụ Trung ương ĐCSĐD quyết định các lực lượng quân sự của Việt Nam được cử sang chiến đấu giúp Lào tổ chức thành hệ thống riêng lấy danh nghĩa là Quân tình nguyện. Đây là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước phát triển và trưởng thành của các lực lượng quân sự Việt Nam giúp Lào trên chiến trường Lào. Từ sau khi chiến dịch Việt Bắc giành thắng lợi năm 1947 đến đầu năm 1949, tương quan so sánh lực lượng đã cho phép cách mạng Việt Nam chuyển sang thế tổng phản công trên toàn chiến trường. Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương ĐCSĐD họp từ ngày 21/1 đến 3/2/1950 nhận định: “Đông Dương là một chiến trường duy nhất, chiến lược tổng phản công bao trùm cả Việt Nam, Ai Lao và Cao Miên”... Hội nghị cũng chỉ rõ vị trí của mặt trận Lào và Campuchia là hai “mặt trận sơ hở của địch”, có tác dụng “kiềm chế quân địch và phối hợp với mặt trận chính trị ở Việt Nam”. Hội nghị đã đề ra phương châm xây dựng và phát triển Đảng bộ Miên, Lào: Lấy việc kết nạp đảng viên người Miên, Lào làm cốt yếu. Từ ngày 13-15/8/1950, Đại hội quốc dân Lào (Mặt trận Lào kháng chiến) được tổ chức tại Tuyên Quang – Việt Nam. Đại hội quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất tức Neo Lào Ítxalạ và Chính phủ kháng chiến Lào. Đại hội quốc dân Lào đã đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình phát triển của cách mạng Lào, đồng thời mở ra một giai đoạn mới của quan hệ đoàn kết chiến lược Việt Lào. Trên cơ sở những thắng lợi quân sự đã đạt được trong những năm 19451950, tháng 2/1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II ĐCSĐD tổ chức tại Tuyên Quang - Việt Nam. Đại hội chỉ rõ phải “tích cực giúp đỡ các dân tộc Miên, Lào đẩy mạnh kháng chiến, đặng phối hợp chặt chẽ với cuộc kháng chiến của Việt Nam. Giúp đỡ cách mạng Miên và Lào về vật chất và tinh thần, đặc biệt giúp đỡ đào tạo cán bộ và kinh nghiệm tổ chức và đấu tranh” [12, tr 148]. Để sự lãnh đạo cách mạng dân tộc giải phóng của Lào và Campuchia thích hợp với tình hình hai nước và tình hình thế giới hiện tại, Đại hội đã quyết nghị giúp đỡ những người cách mạng tiên tiến Lào, Campuchia thành lập ở mỗi nước một chính Đảng nhân dân cách mạng. 14
- Xem thêm -