Đăng ký Đăng nhập
Trang chủ Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở việt nam trong thời...

Tài liệu Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở việt nam trong thời kỳ đổi mới

.PDF
194
199
80

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HÀ NỘI LƢƠNG THỊ HUYỀN TRANG MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC Hà Nội – 2017 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HÀ NỘI LƢƠNG THỊ HUYỀN TRANG MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS Mã số: 62 22 03 02 LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Đặng Hữu Toàn Hà Nội – 2017 LờI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các vấn đề được nghiên cứu, phân tích, mô tả và tổng kết trong luận án này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả Lƣơng Thị Huyền Trang MỤC LỤC MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1 Chƣơng 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾNĐỀ TÀI LUẬN ÁN ............................................................................... 5 1.1. Các công trình nghiên cứu vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và phát triển văn hóa ................................................................................... 5 1.2. Các công trình nghiên cứu về thực trạng thực hiện mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam ................................................ 15 1.3. Các công trình nghiên cứu về phƣơng hƣớng và giải pháp thực hiện mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và phát triển văn hóa..................................... 20 1.4. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án ....................... 24 Chƣơng 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VÀPHÁT TRIỂN VĂN HÓA - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ............................................ 26 2.1. Khái niệm tăng trƣởng kinh tế, phát triển văn hóa, mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và phát triển văn hóa .................................................................... 26 2.1.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế ........................................................................ 26 2.1.2. Khái niệm phát triển văn hóa .......................................................................... 34 2.1.3. Khái niệm mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ........ 42 2.2. Mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới phát triển kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ......................................................................................................................... 47 2.2.1. Bối cảnh thời kỳ đổi mới và tính tất yếu phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa ở Việt Nam .......................................................................................... 47 2.2.2. Nội dung mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa...... 51 Tiểu kết chƣơng 2 .................................................................................................... 64 Chƣơng 3. MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN VĂNHÓA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI - THỰC TRẠNGVÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA .............................................................. 66 3.1. Thành tựu trong thực hiện mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới .................................................. 66 3.1.1. Tăng trưởng kinh tế tạo nền tảng vật chất, trở thành động lực cho sự phát triển văn hóa trong công cuộc đổi mới ..................................................................... 66 3.1.2. Phát triển văn hóa giữ vai trò nền tảng tinh thần, mục tiêu, động lực, nhân tố điều tiết cho tăng trưởng kinh tế ............................................................................... 79 3.2. Hạn chế trong thực hiện mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới ....................................................................... 86 3.2.1. Mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam chủ yếu theo chiều rộng, chưa bền vững, chưa tương xứng với vai trò là cơ sở vật chất, động lực cho phát triển văn hóa .............. 86 3.2.2. Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, xuống cấp về đạo đức và bất cập trong giáo dục trên lĩnh vực văn hóa kìm hãm tăng trưởng kinh tế ........................ 90 3.3. Nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế và một số vấn đề đặt ra trong việc thực hiện mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới ........................................................................... 100 3.3.1. Nguyên nhân của những thành tựu ............................................................... 100 3.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế .................................................................. 102 3.3.3. Một số vấn đề đặt ra trong việc thực hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới ................................... 108 Tiểu kết chƣơng 3 .................................................................................................. 114 Chƣơng 4. MỐI QUAN HỆ GIỮATĂNG TRƢỞNG KINH TẾVÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI- PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP..................................................................................... 117 4.1. Phƣơng hƣớngthực hiện mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới ................................................ 117 4.1.1. Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng trưởng nhanh kết hợp hài hòa với xây dựng và phát triển nền văn hóa thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học, nhằm mục tiêu phát triển bền vững đất nước ........... 117 4.1.2. Thực hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa có hiệu quả, phát huy đồng thời vai trò của văn hóa và kinh tế trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ...................................................................................................... 119 4.2. Một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế với phát triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới ....... 121 4.2.1. Nâng cao nhận thức, hoàn thiện cách thức tổ chức thực hiện Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ trongthực hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa ..................................................................... 121 4.2.2. Tạo nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ..................... 126 4.2.3. Thực hiện đổi mới đồng bộ trên lĩnh vực tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với xây dựng nền văn hóa thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.............................................................................................................. 134 4.2.4. Phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường tới phát triển văn hóa và xã hội ............................................................. 139 4.2.5. Tăng cường hội nhập quốc tế về kinh tế gắn với phát triển văn hóa và hội nhập văn hóa ........................................................................................................... 143 Tiểu kết chƣơng 4 .................................................................................................. 147 KẾT LUẬN ............................................................................................................ 148 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ............................................................................................................... 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 152 PHỤ LỤC ............................................................................................................... 164 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đời sống con người bao gồm hai phương diện vật chất và tinh thần. Đời sống vất chất và đời sống tinh thần có thể được hiểu là kinh tế và văn hóa, là những hoạt động thực tiễn cơ bản của con người. Phát triển xã hội được đánh giá trên nhiều tiêu chí, trong đó có hai tiêu chí cơ bản là tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa. Chúng cùng tồn tại trong một thể thống nhất, tác động qua lại, cùng quy định lẫn nhau và hướng đến mục đích chung là vì sự phát triển của con người. Sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa cũng là một trong những tiêu chí để đánh giá sự phát triển toàn diện, bền vững của một quốc gia. Về mặt lý luận, đề tài này đã và đang được quan tâm trong thời gian gần đây. Vấn đề tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa là mối quan hệ tương đối phức tạp, có nhiều ý kiến xoay quanh, nhiều vấn đề mới nảy sinh trong điều kiện và tình hình hiện nay. Để thực hiện thành công mục tiêu phát triển bền vững đất nước, việc gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa cần phải được nghiên cứu sâu và luận giải dựa trên những cơ sở khoa học, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và việc thực hiện quan triệt Nghị quyết của Đảng vào thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo. Về mặt thực tiễn, ở Việt Nam, trong thời kỳ đổi mới đã nhiều lần khẳng định tư tưởng về sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa. Thực chất của mối quan hệ này là đảm bảo mục tiêu gắn kết một cách hài hòa, cân đối giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện xã hội. Đây cũng là một trong những tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững của một quốc gia. Nhận thức về vấn đề này, Đại hội XI Đảng ta đã thông qua nhiều văn kiện quan trọng, trong đó có Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) đã chỉ ra một trong tám mối quan hệ lớn cần giải quyết ở Việt Nam “giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội” [35, tr. 73]. Điều này tiếp tục được Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII xác định là một trong chín mối quan hệ lớn cần giải quyết: “Đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh. Phát triển văn hóa, thực hiện dân chủ, tiến bộ, công bằng xã hội, đảm 1 bảo an sinh xã hội, tăng cường phúc lợi xã hội và cải thiện đời sống nhân dân…” [37, tr.271]. Như vậy, có thể nhận thấy, Đảng ta đã chủ trương kết hợp mục tiêu tăng trưởng kinh tế với mục tiêu phát triển văn hóa, vì sự phát triển bền vững của đất nước, hướng tới mục tiêu của phát triển toàn diện, hướng tới con người và vì con người - một mục đích nhân văn cao đẹp. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sau 30 năm tiến hành đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã giành được những thành tựu rất quan trọng: nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, đạt mức tăng trưởng khá cao, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, dân chủ trong xã hội tiếp tục được mở rộng, chính trị xã hội ổn định, quốc phòng an ninh được giữ vững. Nhìn chung, diện mạo đất nước có nhiều thay đổi tạo điều kiện, tiền đề nâng cao thế và lực để nước ta phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ đổi mới. Song, trên thực tế, chúng ta mới chỉ tập trung nhiều cho đổi mới và tăng trưởng kinh tế, chưa quan tâm thực sự và tương xứng việc phát triển văn hóa, xây dựng con người. Đó chính là nguyên nhân sâu xa của tình trạng nảy sinh nhiều vấn đề bức xúc trong xã hội về sự suy thoái tư tưởng, xuống cấp về đạo đức, lối sống, nguy cơ về sự phát triển của chủ nghĩa thực dụng ngày càng lớn. Đó là nghịch lý diễn ra trong quá trình phát triển đất nước, cùng với tăng trưởng kinh tế ngày càng cao là sự xuất hiện những hiện tượng đi xuống của văn hóa, đặc biệt trong lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống và giáo dục. Như vậy, có thể thấy sự thiếu đồng bộ, chưa tương xứng giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa vẫn còn là vấn đề bức xúc, cấp thiết đòi hỏi cần có sự nghiên cứu sâu sắc và toàn diện hơn nữa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kiên định mục tiêu định hướng chủ nghĩa xã hội trong công cuộc đổi mới của nước ta, cần có sự nhận thức khách quan, đầy đủ và toàn diện về mặt lý luận, thực trạng và giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa tại Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Do đó, chúng tôi chọn “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” là đề tài luận án nghiên cứu. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Từ những luận giải lý luận về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, luận án làm rõ thực trạng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp 2 nhằm thực hiện có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Thứ nhất, luận giải một số vấn đề lý luận chung về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa. Thứ hai, phân tích, làm rõ thực trạng (thành tựu và hạn chế), nguyên nhân của thực trạng đó và một số vấn đề đặt ra trong việc thực hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong những năm đổi mới. Thứ ba, đề xuất phương hướng, giải pháp mang tính định hướng nhằm thực hiện có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong những năm đổi mới tiếp theo. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu: mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam hiện nay. 3.2. Phạm vi nghiên cứu: về không gian là ở Việt Nam, về thời gian là trong thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay). Về tăng trưởng kinh tế, luận án khảo sát trên hai tiêu chí tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và thu nhập bình quân trên đầu người (GDP/người). Về phát triển văn hóa, luận án khảo sát trên ba lĩnh vực: tư tưởng, đạo đức, lối sống; môi trường văn hóa và giáo dục. Nội dung mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam, luận án nghiên cứu sự tương tác qua lại giữa hai lĩnh vực tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa và hệ quả của sự tương tác đó. 4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của lý thuyết cổ điển về tăng trưởng kinh tế, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, các công trình khoa học nghiên cứu về mối quan hệ giữa giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. 4.2. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận án, tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và các phương pháp: lịch sử - logic, phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp khái quát hóa, tiếp cận hệ thống, 3 phương pháp tiếp cận tổng hợp và liên ngành để phân tích việc giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa… 5. Đóng góp mới của luận án Thứ nhất, luận án góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận xoay quanh mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam: khái niệm mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, chủ thể và các nhân tố ảnh hưởng tới việc thực hiện mối quan hệ này ở Việt Nam. Thứ hai, luận án phân tích, làm rõ thực trạng (thành tựu và hạn chế), đồng thời chỉ rõ các nguyên nhân của thực trạng thực hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Thứ ba, luận án đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong những năm đổi mới tiếp theo. 6. Ý nghĩa của luận án 6.1. Về lý luận: Luận án góp phần hoàn thiện hơn cách hiểu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa ở Việt Nam hiện nay. 6.2. Về thực tiễn: Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc tư vấn hoạch định các chính sách về kinh tế và văn hóa của Đảng và Nhà nước, phục vụ nghiên cứu và giảng dạy triết học về mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và văn hóa. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bài viết của tác giả và tài liệu tham khảo, luận án được trình bày trong 4 chương 11 tiết. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1. Các công trình nghiên cứu vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và phát triển văn hóa Trên thế giới, vấn đề lý luận về tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa và mối quan hệ giữa chúng đã được nghiên cứu từ nhiều phương diện khác nhau bởi các nhà khoa học, nhà hoạt động văn hóa và các tổ chức quốc tế: Năm 1972, nhà sử học nổi tiếng người Anh Arnold Tonybee với tác phẩm “Nghiên cứu về lịch sử - một cách thức diễn giải” (Nxb Thế giới, Hà Nội,2002), một công trình đồ sộ 12 tập từ năm 1934 – 1972. Đây là một công trình tổng hợp và so sánh các nền văn minh, đồng thời là một tác phẩm trình bày quan điểm hiện đại về lịch sử. Tác giả khảo sát 31 nền văn minh trên thế giới, trong đó có Việt Nam từ thời tiền sử đến nay. Theo quan điểm này, ông cho rằng, văn hóa chính là động lực của sự phát triển. Tác phẩm “Giáo dục - của cải nội sinh” do J. Dolo chủ biên đã khẳng định đi vào thế kỷ XXI, vấn đề giáo dục sẽ nổi lên hàng đầu, nhân cách văn hóa được hình thành trong giáo dục là nội dung cốt lõi được đề cập tới trong thời đại ngày nay. Năm 2003, Hội nghị bàn tròn các Bộ trưởng giáo dục họp ngày 09-10/10/2003 tại trụ sở UNESCO ở Paris đã đưa ra thông cáo “Hướng tới các cộng đồng tri thức”. Thông cáo nhấn mạnh, xã hội tri thức là con đường nhân văn hóa quá trình toàn cầu hóa, bảo đảm quyền con người, nhân phẩm và đoàn kết với nguyên tắc: tự do ngôn luận, mọi người được tiếp cận với thông tin và tri thức, tôn trọng nhân phẩm, đa dạng văn hóa, đa dạng ngôn ngữ, giáo dục có chất lượng cho mọi người, đầu tư vào khoa học và công nghệ, chấp nhận thông hiểu các hệ thống tri thức khác nhau. Nhà tương lai học Alvin Toffler cho rằng lịch sử phát triển của xã hội loài người là sự thay thế các nền văn minh với bộ ba tác phẩm “Thăng trầm quyền lực”, “Cú sốc tương lai” “Làn sóng thứ ba” (Nxb Thanh niên, 2002). Sau khi phân chia tiến trình lịch sử của nhân loại thành các giai đoạn mang những đặc trưng khác nhau dựa vào yếu tố công cụ kỹ thuật trong nền sản xuất với ba làn sóng văn minh: văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh tin học mà sự phát triển của tri 5 thức có vai trò quyết định. Bằng những luận chứng sâu sắc, A. Toffler đã làm rõ về tri thức, quyền lực, chủ thể quyền lực, phẩm chất các loại quyền lực trong truyền thống, từ quyền lực bạo lực đến quyền lực của cải, cho đến quyền lực của tương lai – quyền lực tri thức. Từ đó, tác giả chỉ ra sự trỗi dậy của một quyền lực trên quy mô toàn cầu – quyền lực tri thức - nguồn gốc của mọi phương thức sáng tạo của cải mới làm thay đổi lịch sử nền văn minh vật chất, văn minh tinh thần của nhân loại trong thời đại ngày nay và trong tương lai. Tư tưởng của ông đã tuyệt đối hóa vai trò của tri thức trong sự phát triển xã hội. Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, đã diễn ra nhiều biến cố trong đời sống chính trị quốc tế. Nhà chính trị học người Mỹ Samuel P.Huntington đã viết cuốn sách “Sự va chạm của các nền văn minh” (Nxb Lao động, Hà Nội, 2003), đề cập tới sự đụng độ của các nền văn minh sẽ là diễn biến cuối cùng của xung đột toàn cầu trong thế giới hiện đại. Sau Chiến tranh lạnh, thế giới không phân chia thành Bắc – Nam, Đông – Tây theo hệ tư tưởng mà gắn với các nền văn minh. Sự thống trị của các nước phương Tây trên nhiều lĩnh vực bắt đầu suy giảm, nhường chỗ cho sự phát triển của nhiều nước, đặc biệt là châu Á, trong đó có Việt Nam. Mối liên hệ giữa các quốc gia được hình thành trên một nền tảng mới. Những tranh chấp về sắc tộc, tôn giáo, phong trào tôn giáo cực đoan, chủ nghĩa khủng bố quốc tế, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, phân hóa giàu nghèo… Như vậy, nguồn gốc của các xung đột không còn là kinh tế nữa mà chuyển sang là văn hóa với bản sắc riêng biệt của các quốc gia dân tộc. Theo đó, các quốc gia cần có những chính sách văn hóa phù hợp. Thomas L. Friedman trong tác phẩm “Chiếc Lexus và cây Ôliu” đã đưa ra cái nhìn xuyên suốt về hệ thống quốc tế mới đang làm biến đổi tình hình thế giới hiện nay. Toàn cầu hóa đã thay thế Chiến tranh lạnh, mang lại sự hội nhập về tư bản, công nghệ, thông tin xuyên qua biên giới quốc gia. Qua những câu chuyện và những chuyến đi khắp nơi, ông đã mô tả cặn kẽ sự xung đột giữa chiếc Lexus và cây Ôliu – tượng trưng cho quan hệ căng thẳng giữa hệ thống toàn cầu hóa hiện đại với những sức mạnh văn hóa, địa lý, truyền thống và cộng đồng từ ngàn xưa. Tác giả mô tả cặn kẽ sự chống đối mãnh liệt do toàn cầu hóa gây ra cho những con người bị thua thiệt. Ông cũng nói rõ những gì chúng ta cần làm để cân bằng giữa chiếc Lexus 6 và cây Ôliu – nghĩa là cân bằng giữa toàn cầu hóa với văn hóa truyền thống. Đây đồng thời là vấn đề chung của mọi quốc gia, dân tộc. Bởi lẽ, không một đất nước nào, cộng đồng người nào có thể đứng ngoài vòng xoáy toàn cầu hóa. Công trình “Economics and Culture” (Kinh tế và văn hóa, Cambridge University Press, 2001) David Throsby đã nghiên cứu mối quan hệ của hai lĩnh vực rất khác nhau, kinh tế và văn hóa. Công trình xem xét cả hai khía cạnh kinh tế của hoạt động văn hóa, và bối cảnh văn hóa của kinh tế và hành vi kinh tế. Tác giả bàn về sản phẩm văn hóa có giá trị cả về kinh tế và văn hóa, giới thiệu các khái niệm vốn văn hóa và tính bền vững, thảo luận về sự sáng tạo trong việc sản xuất các sản phẩm văn hóa và dịch vụ, văn hóa trong phát triển kinh tế, các ngành công nghiệp văn hóa và chính sách văn hoá. Từ đó, ông khẳng định văn hóa là nguồn lực trực tiếp hoặc gián tiếp thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội. Cuốn sách “The Economics of Cultural Policy” (Kinh tế học về chính sách văn hóa, Cambridge, Cambridge University Press, 2010) David Throsby cho rằng sự hiểu biết về bản chất của cả kinh tế và giá trị văn hóa được tạo ra bởi khu vực văn hóa là điều cần thiết để làm chính sách hiệu quả. Ông phê phán các chính sách văn hóa truyền thống, nặng về hỗ trợ tài chính cho nghệ thuật, cho di sản văn hóa, thể chế kinh viện như bảo tàng, triển lãm. Chính sách văn hóa đang thay đổi, chú trọng vào những ngành công nghiệp sáng tạo. Muốn xây dựng chính sách tốt cần dựa vào quan điểm giá trị kinh tế và giá trị văn hóa đều được tạo bởi lĩnh vực văn hóa. Cuốn sách là tài liệu tổng quát đầu tiên về ứng dụng của lý thuyết kinh tế và phân tích cho các lĩnh vực rộng lớn của chính sách văn hoá. Ở Việt Nam vấn đề lý luận về tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa và mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa cũng được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt trong những thập kỷ gần đây: Công trình KX.05-01 “Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu và phát triển văn hóa con người và nguồn nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” (2006), Hồ Sỹ Quý làm chủ nhiệm đã chỉ rõ chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam trong nghiên cứu về phát triển văn hóa, con người trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Công trình phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người; mối quan 7 hệ giữa văn hóa với con người của một số nhà tư tưởng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trường Tộ; một số đức tính quý báu của người Việt Nam: cần cù, hiếu học, thông minh, đoàn kết, nghĩa tình…; đồng thời khái quát bộ công cụ đo lường chỉ số phát triển con người của UNDP, chỉ số phát triển của con người Việt Nam; phân tích sự tác động của khoa học và công nghệ tới sự phát triển của văn hóa. Công trình “Các mô hình tăng trưởng kinh tế” (2008) của Trần Thọ Đạt (chủ biên), Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân đã nghiên cứu và khái quát về mặt lý luận các mô hình tăng trưởng kinh tế vĩ mô nổi tiếng nhất trên thế giới, từ truyền thống tới hiện đại. Tác giả nghiên cứu thực nghiệm tăng trưởng kinh tế chủ yếu ở các nước công nghiệp phát triển, nguồn lực tăng trưởng kinh tế của thời kỳ đầu công nghiệp hóa. Đồng thời công trình giải thích một số “thần kỳ” trong tăng trưởng ở Đông Á và đi vào phân tích các nguồn tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn 1986 – 2002. Công trình “Tác động của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố Việt Nam” (2008) của Trần Thọ Đạt, Đỗ Tuyết Nhung, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân nghiên cứu về vai trò và tác động của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu chủ yếu được thể hiện trong cuốn sách đã khẳng định vốn con người là một trong những yếu tố quan trọng nhất của nhân tố đầu vào trong tăng trưởng; định nghĩa về tăng trưởng kinh tế và các nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế, áp dụng hàm sản xuất mở rộng để kiểm chứng vai trò của con người đến tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2000 – 2004 ở Việt Nam. Công trình “Một số vấn đề cần quan tâm trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội” của Đỗ Huy trên Tạp chí Triết học, số 12 năm 2009 đã phân tích sáu vấn đề bức xúc cần chú ý trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta hiện nay. Đó là, phải quan tâm tới thực trạng kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa của đất nước trong mối tương quan với các nước khác; phải chú ý tới các hệ hình tư duy gắn với những lợi ích; vấn đề gia tăng dân số và các hệ lụy của nó; vấn đề giáo dục; vấn đề cơ chế thị trường; vấn đề chống tham nhũng. Theo tác giả, các vấn đề này đặc biệt quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn, gắn liền với thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. 8 Công trình “Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, văn nghệ trong thời kỳ đổi mới” (2010), Đinh Xuân Dũng (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, là một phần kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học “Văn học, nghệ thuật Việt Nam trong quá trình thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” bao gồm tập hợp các bài viết của các nhà khoa học tham gia đề tài, chú trọng tìm hiểu một số mốc quan trọng trong quá trình lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ từ đổi mới đến nay qua các văn kiện, cương lĩnh của Đảng. Các tác giả đã trình bày quan điểm của Đảng về văn hóa, văn nghệ, từ đó, đưa ra quan điểm lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới. Trong đó, chú trọng tập trung mọi nguồn lực xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc phát triển toàn diện, đa dạng; Đảng chủ trương xử lý đúng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội trong từng bước và trong từng chính sách phát triển; Văn hóa Việt Nam góp phần trực tiếp nuôi dưỡng, xây dựng và phát triển nhân cách con người Việt Nam. Công trình “Văn hóa và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế” (2010), Hoàng Chí Bảo, Nxb Chính trị Quốc gia, đã phân tích một cách sâu sắc khái niệm văn hóa, các bộ phận hợp thành văn hóa, bản chất và chức năng của văn hóa, các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình hình thành văn hóa dân tộc, sự phát triển của văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay ở nước ta nói riêng và văn hóa với phát triển và tiến bộ xã hội nhìn từ cục diện văn hóa châu Á – Thái Bình Dương nói chung trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI, qua thực tiễn Đông Á. Nghiên cứu về phát triển văn hóa, tác giả khẳng định sự thống nhất giữa mục tiêu và động lực của văn hóa trong phát triển và tiến bộ xã hội. Từ việc làm rõ những vấn đề lý luận trên, tác giả nghiên cứu văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, nghiên cứu sâu về sự biến đổi cục diện văn hóa khu vực châu Á – Thái Bình Dương qua thực tiễn Á Đông. Công trình “Kinh tế phát triển” (2011), Phạm Ngọc Linh, Nguyễn Thị Kim Dung, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân đã khái quát những vấn đề lý luận về tăng trưởng và phát triển kinh tế, tập trung nghiên cứu bản chất, nội dung của tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế. Phân tích các nguồn lực của tăng trưởng kinh 9 tế, chủ yếu tập trung phân tích sự tác động của các yếu tố đầu vào đến tăng trưởng kinh tế như lao động, tài nguyên thiên nhiên và môi trường, vốn và khoa học công nghệ. Các mô hình tăng trưởng kinh tế, mô hình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, phân tích lý thuyết về tăng trưởng kinh tế hiện đại và vai trò của ngoại thương trong phát triển kinh tế. Công trình “Vai trò động lực tinh thần cho phát triển bền vững của các giá trị văn hoá truyền thống” của Đặng Hữu Toàn đăng tại Tạp chí Triết học số 7 (242)/2011, tr. 3 – 11, khẳng định trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định, văn hóa nói chung các giá trị văn hóa truyền thống nói riêng là nền tảng tinh thần của xã hội, là cái làm nên cốt cách, bản lĩnh Việt Nam. Với tư cách đó, văn hóa Việt Nam nói chung, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam nói riêng đã trở thành mục tiêu phát triển và hơn thế nữa, còn trở thành động lực tinh thần, thành nguồn lực nội sinh không thể thiếu để phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Từ đó, tác giả đã phân tích vai trò động lực cho phát triển bền vững của các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, giao lưu văn hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Công trình “Chăm lo phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội” trên Tạp chí Tuyên giáo số 3 năm 2011, của Nguyễn Ngọc Hòa, đã nhấn mạnh một xã hội phát triển không chỉ có tăng trưởng kinh tế mà sự phát triển phải hướng đích đến các mục tiêu văn hóa, văn hóa phải là thước đo cho tất cả các hoạt động. Văn hóa không đứng ngoài kinh tế và chính trị. Môi trường văn hóa có ý nghĩa hết sức to lớn trong đời sống tinh thần của con người, trong sự phát triển bền vững của từng quốc gia. Mọi sự biến đổi, đảo lộn của môi trường văn hóa đều có thể đi liền với sự biến đổi, biến động chính trị và sau đó là biến đổi về kinh tế. Công trình “Xây dựng và phát triển văn hóa trong cơ chế kinh tế thị trường” của Trần Văn Bính trên Tạp chí Tuyên giáo số 3 năm 2011, đã khẳng định Việt Nam từ bỏ cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường là một hiện tượng hợp quy luật. Nhờ đó, đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, chính trị đạt được một số thành tựu, đặc biệt là trong lĩnh vực tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng kinh tế là sự suy thoái về đời sống tinh thần, đặc biệt trên lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống. Do đó, cần phải có nhận thức đúng về bản chất của kinh tế 10 thị trường và bản chất của văn hóa. Thực tế đặt ra yêu cầu phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa, nhằm thực hiện các mục tiêu văn hóa là con đường tất yếu để đạt tới sự phát triển toàn diện về kinh tế xã hội của đất nước. Công trình “Phát triển kinh tế gắn với phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ tài nguyên môi trường” đăng trên Tạp chí Tôn giáo, số 7 năm 2012 của tác giả Phùng Hữu Phú đã khẳng định: (1) mối quan hệ cơ bản của phát triển bền vững đất nước là phải gắn kết hài hòa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển, thường xuyên chăm lo, bảo vệ tài nguyên môi trường; (2) Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển tri thức, sự kết hợp chặt chẽ kinh tế với văn hóa, văn hóa với kinh tế theo phương châm: kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế trở thành nhu cầu, đòi hỏi khách quan; (3) Phát triển kinh tế là cơ sở, là tiền đề vật chất để thực hiện chính sách xã hội; mục đích phát triển kinh tế thống nhất với mục tiêu phát triển xã hội, đều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người, vì con người. Công trình “Quan điểm nhất quán của Đảng ta về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật” trên Tạp chí Tuyên giáo số 2 năm 2012, của tác giả Hà Đăng, đã khái quát nhận thức chung của Đảng về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa và văn học, nghệ thuật là mối quan hệ mang tính bản chất của một chế độ xã hội nhất định. Mối quan hệ này cũng là một trong những nội dung cơ bản của đường lối đổi mới của những chủ trương, chính sách mà Đảng ta đã thực hiện nhằm thúc đẩy sự phát triển đất nước. Từ cơ sở lý luận đó, tác giả đề cập tới vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa và văn học, nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới của Đảng qua các văn kiện, nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng từ năm 1986 đến nay, việc đưa các quan điểm của Đảng về mối quan này vào cuộc sống qua các lĩnh vực cụ thể. Công trình “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2012), Hội đồng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương, Nxb Chính trị Quốc gia, gồm tập hợp những bài tham luận của các tác giả nghiên cứu quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật, thực 11 trạng của mối quan hệ này và cụ thể ở một số tỉnh thành phố trong cả nước. Từ thực trạng đó, các tham luận đưa ra một số kiến nghị, giải pháp để thực hiện tốt hơn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công trình “Một số luận điểm quan trọng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập” (2012), Đỗ Thị Minh Thúy (chủ biên), Nxb Văn hóa Thông tin và Viện Văn hóa, đã nghiên cứu các quan điểm cơ bản về văn hóa của C. Mác, Ph. Ăngghen, Hồ Chí Minh về văn hóa và sự vận động của văn hóa; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò, vị trí của văn hóa trong thời kỳ đổi mới. Tác giả khái quát quan điểm về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh hội nhập; xây dựng văn hóa là sự nghiệp cách mạng lâu dài trong bối cảnh hội nhập. Tác giả làm rõ một số vấn đề đặt ra trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa trong bối cảnh hội nhập. Công trình “Vấn đề phát triển văn hóa qua văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng” (2013), Đỗ Ngọc Anh, Đỗ Thị Minh Thúy đã làm rõ Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, trên lĩnh vực nhận thức mới về văn hóa, định hướng phát triển các lĩnh vực văn hóa. Công trình đề cập tới một số vấn đề lý luận về phát triển văn hóa như: vấn đề xây dựng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh hiện nay; vấn đề phát triển văn hóa trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh của phát triển đất nước; vấn đề phát triển văn hóa toàn diện thống nhất trong đa dạng, quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa. Công trình “Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế ở Trung Quốc” (2013), Hội đồng lý luận Trung ương, Nxb Chính trị Quốc gia là công trình tổng hợp những bài tham luận của các nhà nghiên cứu lý luận, các chuyên gia về kinh tế của hai nước Việt Nam và Trung Quốc tại Hội thảo lần thứ tám giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nội dung của cuốn sách đề cập tới một số vấn đề lý luận về tăng trưởng kinh tế, mô hình tăng trưởng kinh tế, cơ sở lý luận của yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế ở hai nước, những đặc điểm cơ bản của quá trình này, cũng như trao đổi kinh nghiệm của mỗi nước trong quá trình phát triển. 12 Công trình “Một cách nhìn toàn cầu hóa cho sự phát triển văn hóa” trên Tạp chí Triết học số 3 năm 2013, của Nguyễn Tài Đông, cho rằng việc phát triển văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng cần có cách nhìn dân tộc và toàn cầu. Với cách tiếp cận toàn cầu hóa, văn hóa dân tộc có khả năng bộc lộ rõ hơn đặc trưng văn hóa của mình thông qua quá trình mở rộng, hội nhập. Đặc trưng của văn hóa được thể hiện qua nhiều hình thức, trong đó có tính sáng tạo và tính nhân văn. Bước vào hội nhập quốc tế, văn hóa Việt Nam khi đối thoại với các nền văn hóa khác cần phải giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc bên cạnh việc giao lưu và học hỏi nền văn hóa các nước trên thế giới. Công trình “30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam” (2016) của Đinh Thế Huynh, Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Viết Thông (đồng chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia đã khái quái quát bối cảnh quốc tế, trong nước và đường lối đổi mới của Đảng trong 30 năm (1986- 2016). Các tác giả phân tích và đánh giá công cuộc đổi mới trên một số lĩnh vực chủ yếu trong đó có phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam. Các vấn đề trên được các tác giả nghiên cứu riêng biệt kháo sát từ lý luận đến thực tiễn và đưa ra thành tựu, hạn chế, nguyên nhân chủ quan và khách quan của kết quả đạt được. Từ đó, công trình đưa ra phương hướng và giải pháp thực hiện công cuộc đổi mới, trong đó đặc biệt nhấn mạnh giải pháp về hoàn thiện xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Qua khảo sát tình hình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy các công trình trên nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa và mối quan hệ giữa chúng từ nhiều phương diện khác nhau. Có những công trình nghiên cứu dưới góc độ kinh tế hay văn hóa, hoặc triết học… Điều đó có thể khẳng định có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong việc nghiên cứu lý luận về vấn đề này. Có những tư tưởng chỉ đề cao phương diện tăng trưởng kinh tế mà không coi trọng chỉ tiêu phát triển văn hóa; cũng có những tư tưởng thiên về phát triển những giá trị của đời sống tinh thần của con người không đề cập nhiều tới đời sống vất chất; đồng thời tồn tại cả những tư tưởng nghiên cứu sự cân bằng, hài hòa giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người. Đặc biệt, trong những thập kỷ gần đây, khi nhân loại cùng hướng tới mục tiêu phát triển bền vững các quốc gia thì việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng 13 trưởng kinh tế và phát triển văn hóa trở thành một hướng nghiên cứu thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà tư tưởng, các nhà nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Trên thế giới vấn đề mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa đã được đề cập từ khá sớm, đặc biệt từ những năm 80 của thế kỷ thứ XX đến nay. Còn ở Việt Nam, mối quan hệ này đặc biệt được chú trọng trong những thập niên gần đây. Điều này ảnh hưởng từ quan niệm chung của cộng đồng thế giới, đặc biệt là của tổ chức Ủy ban quốc gia về thế giới phát triển văn hóa về vị trí, vai trò của văn hóa trong phát triển bền vững các quốc gia. Về mặt lý luận, có thể khái quát lại, các công trình trên đã đưa ra cách hiểu về tăng trưởng kinh tế, các yếu tố ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế; phát triển văn hóa và nội dung của phát triển văn hóa. Đặc biệt trong khái niệm văn hóa và phát triển văn hóa có nhiều cách tiếp cận khác nhau: có tác giả tiếp cận văn hóa truyền thống (tức là văn hóa theo nghĩa gắn với xã hội tiền công nghiệp), cũng có cách hiểu văn hóa hiện đại (văn hóa thời đại công nghiệp hóa có cả yếu tố văn hóa truyền thống và văn minh). Do đó, phát triển văn hóa cũng được hiểu theo các cách khác nhau. Trong luận án này, NCS lựa chọn khái niệm văn hóa theo cách hiểu truyền thống, nghĩa là các giá trị tạo nên đời sống tinh thần của con người, bao gồm tư tưởng, đạo đức, lối sống và giáo dục. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa chưa thấy có công trình nào đề cập tới khái niệm mà chỉ khẳng định vai trò của tăng trưởng kinh tế tới phát triển văn hóa, đồng thời chiều tác động ngược lại của phát triển văn hóa ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế. Các công trình đều cho thấy đây là mối quan hệ biện chứng, có sự tác động qua lại giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa. Đã có những cách nhìn mới khi đánh giá văn hóa trở thành nguồn lực trực tiếp của tăng trưởng kinh tế thể hiện ở nguồn vốn con người, ở khoa học kỹ thuật… Tuy nhiên, khi nghiên cứu vấn đề này tại Việt Nam, chưa có tác giả nào chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa; cũng như chưa đề cập tới chủ thể của việc giải quyết mối quan hệ này. Từ những nhận định trên đây, có thể thấy mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa là một vấn đề phức tạp và có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Những công trình khoa học về vấn đề này là những cơ sở lý luận để NCS có thể kế thừa và phát triển trong luận án ở những chương tiếp theo. 14
- Xem thêm -

Tài liệu liên quan