Tài liệu Tư tưởng giáo dục của john dewey trong tác phẩm kinh nghiệm và giáo dục

  • Số trang: 59 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 166 |
  • Lượt tải: 0

Mô tả:

Trình bày điều kiện, tiền đề tư tưởng cho sự ra đời tƣ tƣởng giáo dục của J. Dewey trong tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục”. Phân tích làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng giáo dục của J. Dewey trong tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục”.Đưa ra một số đánh giá về những giá trị và hạn chế trong tư tưởng triết học giáo dục của Dewey và giá trị tham khảo của tƣ tƣởng giáo dục J. Dewey đối với nền giáo dục Việt Nam hiện nay.
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN KHOA TRIẾT HỌC ========== ĐỖ THỊ HÒA TƢ TƢỞNG GIÁO DỤC CỦA J. DEWEY TRONG TÁC PHẨM “KINH NGHIỆM VÀ GIÁO DỤC” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH TRIẾT HỌC Hệ đào tạo: Chính quy Khóa: QH-2015-X Hà Nội – 2019 TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN KHOA TRIẾT HỌC ========== ĐỖ THỊ HÒA TƢ TƢỞNG GIÁO DỤC CỦA J. DEWEY TRONG TÁC PHẨM “KINH NGHIỆM VÀ GIÁO DỤC” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH TRIẾT HỌC Hệ đào tạo: Chính quy Khóa: QH-2015-X Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền Hà Nội - 2019 LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành bài khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn PSG.TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền đã tận tình hƣớng dẫn và chỉ bảo em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận. Em cũng xin đƣợc gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô trong Khoa Triết học đã truyền dạy cho em những kiến thức bổ ích trong suốt 4 năm học, góp phần giúp em thực hiện tốt đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. Xin trân trọng cảm ơn! Sinh viên Đỗ Thị Hòa MỤC LỤC A. MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 2 CHƢƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƢ TƢỞNG GIÁO DỤC CỦA J.DEWEY VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÁC PHẨM “KINH NGHIỆM VÀ GIÁO DỤC” .......................................................................................................... 7 1.1. Điều kiện và tiền đề tƣ tƣởng ra đời tƣ tƣởng giáo dục của J. Dewey ....... 7 1.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa nƣớc Mỹ thế kỷ XX .................. 7 1.1.2. Tiền đề tƣ tƣởng của tƣ tƣởng giáo dục của J.Dewey ........................ 11 1.2. Khái quát về cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục” của J.Dewey ..................................................................................................... 17 1.2.1. Về cuộc đời và sự nghiệp của J. Dewey ............................................. 17 1.2.2. Khái quát chung về tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục”................ 20 Tiểu kết chƣơng 1................................................................................................ 23 CHƢƠNG 2: NỘI DUNG CƠ BẢN TƢ TƢỞNG GIÁO DỤC CỦA JOHN DEWEY TRONG TÁC PHẨM “KINH NGHIỆM VÀ GIÁO DỤC” ............... 24 2.1. Nền giáo dục cổ truyền và nền giáo dục tiến bộ. ...................................... 24 2.2. Kinh nghiệm là nền tảng của nền giáo dục tiến bộ. .................................. 28 2.3. Tổ chức nội dung giáo dục và vai trò của ngƣời thầy .............................. 35 2.4. Đánh giá giá trị, hạn chế và giá trị tham khảo của tƣ tƣởng giáo dục của J.Dewey đối với giáo dục Việt Nam ................................................................ 39 2.4.1. Những giá trị ....................................................................................... 39 2.4.2. Những hạn chế .................................................................................... 42 2.4.3. Những giá trị tham khảo cho nền giáo dục Việt Nam hiện nay.......... 43 C. KẾT LUẬN .................................................................................................... 52 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 54 1 A. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong lịch sử nhân loại, vấn đề về giáo dục là một trong những chủ đề nhận đƣợc sự quan tâm và nghiên cứu nhiều nhất. Điều đó bởi giáo dục phản ánh tầm nhìn cũng nhƣ mục tiêu và chiến lƣợc phát triển của từng quốc gia, từng dân tộc, nó định hƣớng vào việc hình thành và triển khai những tiềm năng thể chất, trí tuệ và tinh thần của xã hội. Đồng thời giáo dục cũng có vai trò quyết định trong việc đào tạo những công dân tƣơng lai của đất nƣớc. Ở mỗi thời đại, giáo dục luôn có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của xã hội. Trong giai đoạn hiện nay hơn bao giờ hết giáo dục và đào tạo càng có ý nghĩa quyết định không chỉ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội mà cả đối với công cuộc bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nƣớc. Mục đích của giáo dục là vì sự phát triển cá nhân, và sự tiến bộ của xã hội, ở đâu có con ngƣời thì ở đó đều cần có sự quản lí, tổ chức, giáo dục con ngƣời. Vấn đề đặt ra ở đây là việc giáo dục con ngƣời không thể hoàn toàn tiến hành theo kinh nghiệm chủ nghĩa hay là những lời kêu gọi chung chung, mà nó vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Do đó việc nghiên cứu vấn đề giáo dục sẽ giúp cho các cấp quản lý từ trung ƣơng đến địa phƣơng có sơ sở để định ra đƣờng lối, chính sách để phát triển giáo dục phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa của quốc gia, dân tộc. Từ trƣớc đến nay, Đảng và Nhà nƣớc ta luôn chú trọng phát triển giáo dục bởi giáo dục đóng vai trò quyết định trong đào tạo nguồn lực con ngƣời cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nƣớc. Thời gian qua, nền giáo dục nƣớc ta đã có những bƣớc phát triển, bƣớc đầu đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lƣợng cao cho công cuộc xây dựng đất nƣớc trong bối cảnh hội nhập quốc tế và kinh tế tri thức. Tuy nhiên có thể nhận thấy rõ, hệ thống giáo dục của nƣớc ta còn nhiều bất cập. Bất cập về chất lƣợng đào tạo, về nội dung, phƣơng pháp giảng dạy, về đào tạo nghề và đào tạo đại học… Đặc biệt, hệ đại học trong những năm gần đây đã có nhiều tiến bộ nhƣng vẫn còn yếu kém so với yêu cầu. Nội dung và phƣơng pháp giảng dạy chậm đƣợc đổi mới. Sinh viên học một cách thụ động, do đó khi ra trƣờng khó kiếm công ăn việc làm, phải dựa vào mối 2 quan hệ thân quen hay vào một khả năng khác để có một việc làm, sau đó từng bƣớc tự đào tạo hay tự thích nghi với yêu cầu của công việc. Đổi mới, phát triển giáo dục, đào tạo phù hợp và đáp ứng nhu cầu của quá trình hội nhập quốc tế là một yêu cầu cấp bách hiện nay. Muốn thực hiện đƣợc điều đó cần có một triết lý giáo dục phù hợp và điều đó đòi hỏi chúng ta cần nghiên cứu, tiếp thu các quan điểm giáo dục tiến bộ trên thế giới. John Dewey là một trong những triết gia hàng đầu ở thế kỷ XX và là nhà tâm lý học, nhà giáo dục có nhiều ảnh hƣởng và tiếng nói đáng tin cậy của nền dân chủ Mỹ. Ông đƣa ra lý thuyết giáo dục hiện đại, phê phán lại nền giáo dục cổ truyền trƣớc đó. Triết lý giáo dục của ông hiện nay vẫn có ảnh hƣởng không nhỏ đến giáo dục ở Mỹ - một trong những nền giáo dục phát triển hàng đầu trên thế giới. Do vậy, việc nghiên cứu, tiếp thu một cách có chọn lọc những triết lý giáo dục của ông là cần thiết cho một nền giáo dục hiện đại ở Việt Nam. Với những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Tư tưởng giáo dục của John Dewey trong tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục” làm đề tài cho khóa luận của mình. 2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Nghiên cứu về tƣ tƣởng triết học giáo dục là chủ đề lôi cuốn sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Ở Việt Nam, theo sự hiểu biết của tôi, đã có các công trình nghiên cứu sau đây về tƣ tƣởng triết học nói chung và tƣ tƣởng giáo dục nói riêng của J. Dewey: Trƣớc hết là cuốn Lịch sử triết học xuất bản năm 1992, do GS.TS Nguyễn Hữu Vui làm chủ biên. Các tác giả đã nghiên cứu có hệ thống về các trào lƣu triết học cũng nhƣ các triết gia lớn của triết học phƣơng Tây. Tuy nhiên, do mục đích của mình, cuốn sách chƣa trình bày cụ thể và chi tiết về từng trào lƣu, mà mới dừng lại ở việc tóm tắt và khái quát về các học thuyết phƣơng Tây hiện đại. Tiếp theo là cuốn Lịch sử triết học phương Tây và Triết học Mỹ do Bùi Đăng Duy và Nguyễn Tiến Dũng đồng tác giả (Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2006) nói đến tƣ tƣởng giáo dục của John Dewey – một phƣơng tiện 3 để hình thành giá trị đạo đức, xây dựng dân chủ trong xã hội nhƣng còn khá chung chung. Trong cuốn Đại cương lịch sử triết học phương Tây hiện đại cuối thế kỷ XIX - nửa đầu thế kỉ XX (Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2008), các tác giả Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh đã giới thiệu khái quát về thực dụng luận và các đại diện tiêu biểu trong hệ thống lịch sử triết học phƣơng Tây hiện đại. Nghiên cứu trực tiếp về tƣ tƣởng giáo dục của J. Dewey có thể kể đến các công trình sau: Luận văn thạc sĩ của Thân Thị Hạnh với tiêu đề: Triết lý giáo dục của John Dewey trong “Dân chủ và giáo dục”, đã trình bày tƣơng đối bao quát và đầy đủ về triết lí giáo dục của John Dewey trong tác phẩm “Dân chủ và giáo dục”. Trong luận văn này tác giả đã phân tích những nhân tố cơ bản ảnh hƣởng đến sự hình thành triết lý giáo dục của Dewey, luận giải những nội dung cơ bản của triết lý giáo dục đó đƣợc thể hiện trong tác phẩm “Dân chủ và giáo dục” và đƣa ra một số giá trị và hạn chế của triết lý giáo dục của Dewey trong bối cảnh cải cách giáo dục Việt Nam hiện nay. Ngoài ra còn có các bài báo nhƣ: “Triết lý giáo dục của John Dewey với giáo dục và dạy học ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ái Học đăng trên Báo Văn hóa Nghệ An (ngày 12 tháng 12 năm 2014), tác giả đã trình bày quan niệm của John Dewey về triết học và về công việc của triết học. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh đến triết lý giáo dục của J.Dewey và việc vận dụng triết lý giáo dục đó vào nền giáo dục Việt Nam. Cũng nghiên cứu về triết lý giáo dục của J.Dewey có bài viết của tác giả Nguyễn Vũ Hảo với tiêu đề “Triết lý giáo dục của John Dewey hướng đến phát triển con người và những điểm gợi mở cho nền giáo dục ở Việt Nam hiện nay” đƣợc in trên Tạp chí Nghiên cứu con ngƣời số 1, từ trang 28 đến trang 38, năm 2015. Trong bài viết tác giả đã phân tích về các quan điểm của mô hình giáo dục truyền thống, sau đó tác giả phân tích rõ những mục tiêu và phƣơng pháp của giáo dục rồi cuối cùng tác giả đƣa ra những điểm gợi mở cho nền giáo dục Việt Nam hiện nay. Bài viết “Giáo dục là cuộc sống – Triết lý 4 giáo dục của John Dewey” của tác giả Nguyễn Thị Lan Hƣơng đã tình bày khái quát ngắn gọn những triết lý giáo dục của J.Dewey. Qua đó tác giả cũng hy vọng rằng Việt Nam sẽ áp dụng đƣợc những điểm tích cực từ tƣ tƣởng triết học của J.Dewey để phát huy hơn nữa tính dân chủ trong trƣờng học ở Việt Nam. Bài viết về “Triết lý giáo dục của John Dewey trong tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục” của Quách Hoàng Công, Hà Lê Dũng đƣợc in trên Tạp chí khoa học và công nghệ, Trƣờng đại học Khoa học Huế, tập 1 số 2 năm 2014. Trong bài viết này tác giả đã tập trung luận giải một số triết lý giáo dục của J.Dewey qua việc khảo sát tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục”. Nhƣ vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về John Dewey và triết lý giáo dục của ông, tuy nhiên nghiên cứu trực tiếp về quan niệm giáo dục của John Dewey trong tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục” thì còn khá khiêm tốn và mới chỉ dừng ở các bài báo. Chính vì vậy việc tiếp tục nghiên cứu tƣ tƣởng giáo dục của J.Dewey trong tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục” sẽ bổ sung thêm một công trình nghiên cứu chuyên sâu về triết lý giáo dục của ông, đồng thời qua đó chúng ta có thể rút ra những giá trị tham khảo đối với phát triển nền giáo dục Việt Nam hiện nay . 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích: Khóa luận phân tích làm rõ những nội dung cơ bản trong tƣ tƣởng giáo dục của J.Dewey qua tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục”, từ đó đƣa ra đánh giá về giá trị, hạn chế và những giá trị tham khảo đối với giáo dục ở Việt Nam hiện nay. Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên, khóa luận có các nhiệm vụ sau: - Trình bày điều kiện, tiền đề tƣ tƣởng cho sự ra đời tƣ tƣởng giáo dục của J. Dewey trong tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục”. - Phân tích làm rõ những nội dung cơ bản của tƣ tƣởng giáo dục của J. Dewey trong tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục”. 5 - Đƣa ra một số đánh giá về những giá trị và hạn chế trong tƣ tƣởng triết học giáo dục của Dewey và giá trị tham khảo của tƣ tƣởng giáo dục J. Dewey đối với nền giáo dục Việt Nam hiện nay. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Bài khóa luận tập trung nghiên cứu tƣ tƣởng giáo dục của John Dewey trong tác phẩm Kinh nghiệm và giáo dục. Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu những nội dung chủ yếu của tƣ tƣởng giáo dục của J.Dewey trong tác phẩm Kinh nghiệm và giáo dục. 5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu 5.1 Cơ sở lí luận Đề tài đƣợc nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đƣờng lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực. Đồng thời kế thừa có chọn lọc những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã đƣợc công bố. 5.2 Phương pháp nghiên cứu Đề tài dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử và sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể sau: phƣơng pháp thống nhất logic và lịch sử, phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, khái quát hóa,… 6. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu Khóa luận góp phần làm rõ một số quan niệm về triết học giáo dục của John Dewey trong tác phẩm Kinh nghiệm và giáo dục. Ngoài ra, kết quả của đề tài có thể đƣợc dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên học tập và những ai quan tâm nghiên cứu về lĩnh vực này. 7. Kết cấu Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận bao gồm 2 chƣơng, 6 tiết. 6 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƢ TƢỞNG GIÁO DỤC CỦA J.DEWEY VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÁC PHẨM “KINH NGHIỆM VÀ GIÁO DỤC” 1.1. Điều kiện và tiền đề tƣ tƣởng ra đời tƣ tƣởng giáo dục của J. Dewey 1.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa nƣớc Mỹ thế kỷ XX Cuối thế kỷ XIX, các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, đặc biệt nƣớc Mỹ đã trải qua những thay đổi to lớn. Lúc này Mỹ đang phát triển và trƣởng thành, những biến đổi về tình hình kinh tế đã kéo theo nhiều sự thay đổi trên các lĩnh vực chính trị,văn hóa, xã hội và khoa học. Sau cuộc nội chiến (1861 – 1865), chủ nghĩa tƣ bản Mỹ phát triển một cách vƣợt bậc. Nƣớc Mỹ do đặc điểm lịch sử nên không gặp phải sự cản trở của thế lực phong kiến đã phát triển khá thuận lợi. Mỹ là nƣớc sớm chú trọng đến sự phát triển khoa học công nghệ nên sớm đầu tƣ cho việc phát minh khoa học công nghệ, điều đó cho phép Mỹ có thể áp dụng kĩ thuật tiến tiến nên năng suất lao động khá cao. Những điều kiện thuận lợi trên đã cho phép nền kinh tế Mỹ phát triển có tính đột phá và đạt những thành tựu to lớn. Thời kỳ này còn đƣợc gọi là thời kỳ tiến bộ trong lịch sử phát triển nƣớc Mỹ. Mỹ trở thành cƣờng quốc công nghiệp hàng đầu thế giới ngay ngƣỡng cửa của thế kỷ XX vì sự bùng nổ của giới doanh nghiệp tƣ nhân tại miền bắc và làn sóng di dân mới đến của hàng triệu công nhân và nông dân từ châu Âu. Ngành công nghiệp trở thành đầu tàu lôi kéo sự đi lên của các ngành khác với quá trình tập trung hóa cao độ và sự hình thành các tập đoàn công nghiệp và các công ty tập trung. Nông nghiệp với sự áp dụng các thành tựu của khoa học công nghệ và đƣợc sự hỗ trợ của chính phủ cho đầu ra các sản phẩm, kết hợp với dự án hợp tác nghiên cứu với các trƣờng đại học, các viện nghiên cứu đã cho ra đời những nông sản phẩm chất lƣợng tốt và có khả năng nuôi trồng cao, khiến nông nghiệp không chỉ phục vụ đƣợc nhu cầu của đại đa số ngƣời dân trong nƣớc mà còn có thể xuất khẩu. Trong bối cảnh vận dụng 7 học thuyết kinh tế tự do của Adams Smith (1730-1790), nhà nƣớc không can thiệp vào các hoạt động kinh tế mà để nền kinh tế tự điều tiết theo quan hệ cung – cầu và “bàn tay vô hình” của thị trƣờng với niềm tin, nếu chính phủ khuyến khích khu vực kinh tế tƣ nhân phát triển, hầu hết các tầng lớp cƣ dân khác sẽ đƣợc hƣởng lợi từ sự phát triển đó. Hàng loại các tập đoàn tài chính, ngân hàng lớn lần lƣợt ra đời. Từ năm 1865 đến năm 1894, Mỹ từ nƣớc đứng thứ tƣ trên thế giới đã vƣơn lên hàng đầu về sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên, đó là mặt hiệu quả của nền kinh tế, song cùng những phát triển là kéo theo những mâu thuẫn trong nội tại của nó nhƣ hiện tƣợng các ngành công nghiệp lần lƣợt rơi vào tay một số nhà tƣ bản kếch sù, liên minh với nhau thành những Tơrớt – một hình thức độc quyền cao và phổ biến ở Mỹ. Sự phát triển của nền kinh tế trong thời kỳ này cũng đã tác động không nhỏ tới đời sống chính trị. Đảng Cộng hòa chiếm đƣợc lòng tin của dân chúng, có đƣợc sự ủng hộ quan trọng về chính trị trong suốt thời gian cầm quyền. Tuy nhiên, ngƣời dân vẫn tiếp tục mong muốn về một chính quyền dân chủ hơn, hạn chế các tập đoàn công nghiệp và kiểm soát tƣ bản độc quyền, giảm tệ nạn ở các thành phố và thừa nhận các tiêu chuẩn đạo đức của tầng lớp trung lƣu. Từ những mong muốn của ngƣời dân, mô hình dân chủ ở các tiểu bang dần chuyển sang hình thức dân chủ trực tiếp. Ngƣời dân trực tiếp bầu thƣợng nghĩ sĩ, thay cho việc thƣợng nghị sĩ đƣợc cơ quan lập pháp bang lựa chọn. Thời kỳ này, cũng là thời kỳ phụ nữ đƣợc trao quyền bầu cử, là kết quả tích cực cho quá trình đấu tranh giải phóng phụ nữ kéo dài hàng thập niên ở Mỹ. Tuy nhiên, nền kinh tế tăng trƣởng một cách mạnh mẽ đã bắt đầu có dấu hiệu sa sút từ những năm 1920. Ngay sau đó, nƣớc Mỹ phồn vinh và thịnh vƣợng trong hơn một thế kỷ từ thời lập quốc đã bị thử thách nghiêm trọng trong cuộc Đại suy thoái kinh tế (Great Depression) từ 1929 – 1933. Cuộc suy thoái gần nhƣ đã phá hoại hoàn toàn nền kinh tế Mỹ non trẻ. Hàng loạt thế lực tài chính hùng mạnh sụp đổ, lạm phát tiền tệ, các ngân hàng vỡ nợ, các tập đoàn công nghiệp liên tục phá sản, nông sản đƣợc sản xuất với số lƣợng lớn nhƣng không tìm kiếm đƣợc đầu ra dần trở nên rẻ mạt, trong khi các hàng hóa khác trở 8 nên khan hiếm và trở nên hết sức đắt đỏ, hàng trăm ngƣời không tìm đƣợc việc làm, đời sống ngƣời dân trở nên hết sức khó khăn…. Sự khủng hoảng của nền kinh tế đã tạo ra thử thách lớn đối với bối cảnh chính trị nƣớc Mỹ lúc này. Khi đó mối quan tâm hàng đầu của nƣớc Mỹ là: làm sao để thoát khỏi khủng hoảng và khôi phục lại nền kinh tế phát triển thịnh vƣợng nhƣ trƣớc đây. Nơi từng đƣợc gọi là mảnh đất của những vận hội và niềm hy vọng giờ đây trở thành miền đất đầy âu lo và tuyệt vọng. Cuộc bầu cử tổng thống năm 1932 với sự thắng lợi của ứng viên Đảng Dân chủ Franklin Roosevelt (1882 – 1945) một lần nữa khẳng định niềm tin của ngƣời dân Mỹ với những tín điều về dân chủ. Quá trình thực hiện kinh tế mới (New Deal) của tổng thống Roosevelt với bản chất từ bỏ chủ nghĩa tƣ bản phi điều tiết, trở lại kiểm soát hệ thống kinh tế của đất nƣớc với việc đƣa ra hàng loạt cải cách luật pháp bang và liên bang, tạo việc làm cho thanh niên qua các dự án công cộng, hỗ trợ các doanh nghiệp, cắt giảm sản lƣợng và trợ cấp cho nông nghiệp….Việc can thiệp vào thị trƣờng của chính phủ Mỹ đã dần đƣa kinh tế Mỹ trở về quỹ đạo vốn có, xây dựng một liên minh chính trị vững chắc và thu hút sự quan tâm của ngƣời dân đối với chính phủ. Kết quả là, cuộc suy thoái chính thức kết thúc năm 1941 khi nƣớc Mỹ có ý định tham chiến vào Thế chiến lần thứ hai. Đây cũng là thời kỳ chứng kiến bƣớc chuyển mình của Mỹ từ một nƣớc với nền cộng hòa non trẻ sang một nƣớc đế quốc với xu hƣớng mở rộng tầm ảnh hƣởng ra khu vực Thái Bình Dƣơng và khu vực Mỹ - La tinh với hàng loạt những quyết sách nhƣ mua lại Alaska từ Nga (1867), kiểm soát Puerto Rico, Guam, Cuba và quần đảo Philippines (sau khi thắng Tây Ban Nha năm 1898), sát nhập quốc đảo Hawaii (1893), xây dựng kênh đào Panama (1914) nhằm đáp ứng những toan tính về vị trí địa lý…. Đồng thời Mỹ cũng dần từ bỏ thế đứng trung lập hay còn gọi là chủ nghĩa biệt lập Mỹ trong ngoại giao thời Chiến tranh thế giới thứ nhất để chính thức bƣớc vào Chiến tranh thế giới thứ hai sau sự kiện Trân Châu Cảng. Đây cũng là giai đoạn chủ nghĩa tƣ bản trên toàn thế giới phát triển nhƣ vũ bão dù chịu sự tác động không nhỏ của suy thoái kinh tế, các thế lực Châu Âu và Nhật Bản cùng cạnh tranh nhằm tranh giành quyền ảnh hƣởng 9 tại Châu Á già cỗi và đầy mệt mỏi trong những ngày tháng cuối cùng của chế độ phong kiến. Điều kiện văn hóa, xã hội nƣớc Mỹ cũng chịu sự tác động không nhỏ do sự biến đổi của nền kinh tế. Trong trật tự công nghiệp mới, ranh giới thành thị và nông thôn càng trở nên sâu sắc. Thành phố trở thành trung tâm đầu não quy tụ tất cả các nguồn lực năng động nhất: doanh nghiệp, tổ chức tài chính, lực lƣợng lao động…. Đại suy thoái cũng khiến tình trạng phân hóa sâu sắc của nhóm ngƣời nghèo và ngƣời giàu nắm giữ phần lớn của cải trong xã hội trở nên nghiêm trọng hơn. Tình trạng bất bình đẳng giới vẫn tiếp diễn khi công nhân nữ chỉ nhận đƣợc số lƣơng bằng ¼ công nhân nam và nạn phân biệt chủng tộc cực đoan đối với ngƣời Mỹ da đen vẫn kéo dài dai dẳng cho tới những thập niên 1950 của thế kỷ XX, thời kỳ nở rộ phong trào đòi quyền công dân cho phụ nữ và ngƣời Mỹ gốc Phi ở các bang miền Nam. Quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Tây với những miền đất của ngƣời da đỏ trong những năm cuối thế kỷ XIX và di chứng của quá trình sử dụng lao động nô lệ da đen ở các bang phía Nam đã gây nên những xung đột không đáng có giữa cƣ dân bản địa và những ngƣời khai hoang. Trong khi đó, tự do tín ngƣỡng và tôn giáo vẫn đƣợc đảm bảo từ thời lập quốc. Giáo dục công những năm cuối thế ký XIX đã đƣợc triển khai rộng khắp và miễn phí. Hệ thống giáo dục đƣợc xây dựng đảm bảo tiêu chí phổ cập, toàn diện, chuyên nghiệp và phi tập trung hóa. Về triết học, chủ nghĩa Hegel mới bùng phát trên đất Mỹ với mục tiêu khôi phục triết học Hegel nhằm giải quyết vấn đề cũng nhƣ thách thức chính trị - xã hội nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Điều này đã có ảnh hƣởng không nhỏ tới nền học thuật nƣớc Mỹ trong những năm 1860. Một thời gian sau, dòng triết học này đã bị triết học thực dụng phê phán và thay thế. J.Dewey bắt đầu là một ngƣời theo triết học Hegel nhƣng đã sớm chuyển sang chủ nghĩa thực dụng. Triết học thực dụng ra đời trong những năm 1871 đến 1874 tại câu lạc bộ Siêu hình, thuộc đại học Havard do Charles Sanders Peirce (1839 – 1914) và một số thành viên khác sáng lập. Sau này đƣợc William James (1842 – 1910) 10 phát triển. John Dewey (1859 – 1952) đƣợc biết đến là ngƣời đã nêu cao ngọn cờ thực dụng trên hầu hết những khía cạnh của cuộc sống. Khoa học kỹ thuật cũng có bƣớc phát triển toàn diện, trong đó có ảnh hƣởng lớn nhất đối với khoa học Mỹ phải kể đến là Thuyết Tiến hóa của Darwin mà chính chủ nghĩa thực dụng đã lấy lý thuyết này làm căn cứ khoa học. Nhƣ vậy, trƣớc sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế và khoa học tự nhiên, cũng đòi hỏi khoa học nhân văn phải thay đổi theo. Chính bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ấy đã ảnh hƣởng không nhỏ tới sự ra đời triết học của J.Dewey nói chung và sự phát triển những suy tƣ về giáo dục của ông nói riêng. 1.1.2. Tiền đề tƣ tƣởng của tƣ tƣởng giáo dục của J.Dewey Ngoài những điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa nƣớc Mỹ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tƣ tƣởng giáo dục của J.Dewey còn ra đời trên cơ sở kế thừa tƣ tƣởng giáo dục của các triết gia trong lịch sử, trong đó trực tiếp là tƣ tƣởng triết học của Wilhelm von Humboldt và hai bậc tiền bối trong chủ nghĩa thực dụng đó là Charles Sander Peirce và William James. Khóa luận sẽ đi sâu trình bày sự ảnh hƣởng của các triết gia trên đối với tƣ tƣởng giáo dục của J. Dewey. * Sự ảnh hưởng của Wilhelm von Humboldt đối với tư tưởng giáo dục của J.Dewey Wilhelm von Humboldt (1767 - 1835) là một trong những đại biểu của thời đại Khai sáng Đức. Là ngƣời sáng lập ra Đại học Humboldt (Berlin, Đức). Wilhelm von Humboldt thƣờng đƣợc biết đến với tƣ cách là một nhà giáo dục, ngƣời khởi xƣớng tƣ tƣởng cải cách giáo dục dƣới thời nƣớc Đức bị quân đội Napoleon chiếm đóng. Hiện nay, những nghiên cứu về Humboldt đều coi ông là ngƣời đặt nền móng cho nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại, chú giải học và triết học ngôn ngữ. Những tác phẩm chính của Humboldt đã đƣợc dịch sang tiếng Anh bao gồm: Học thuyết và giáo dục con ngƣời (Theory of Human Education) (1789), Các bài luận về Mỹ học I (Essays in Aethetiics I: On Goethe‟s Herrmann und Dorothea) (1799), Nhiệm vụ và Phạm vi của Chỉnh thể (The spheres and Duties of Government) (1854)….. 11 Có thể nói, mô hình đại học Humboldt có một ý nghĩa rất quan trọng đến hệ thống giáo dục đại học thế giới ngày nay. Theo mô hình này đại học không chỉ là trung tâm đào tạo nhân tài, mà còn là trung tâm khoa học và văn hóa, với tự do học thuật đƣợc coi là quan trọng nhất. Với Humboldt giáo dục là một tiến trình và kết quả của việc đào luyện cá nhân từ bên trong. Humboldt đã ra sức đề xƣớng sự tự do học thuật và phác thảo một cấu trúc hoàn toàn mới mẻ cho toàn bộ nền giáo dục. Cấu trúc này đã phát huy tác dụng và còn đầy đủ tính thời sự cho đến ngày nay. Đó chính là công lao lịch sử của Humboldt. Cụ thể là việc thiết kế nội dung cho hệ thống giảng dạy: chia làm ba cấp học: tiểu học, trung học và đại học với sự phân biệt rõ rệt ranh giới và tính chất của mỗi cấp. Trong đó đại học có chức năng nghiên cứu và đào tạo trí thức dứt khoát không đƣợc phép là trƣờng phổ thông cấp 4. Ông nhấn mạnh đại học phải chia làm hai bộ phận rõ rệt: nghiên cứu và giảng dạy tri thức trong tính phổ quát của nó và hình thành một cộng đồng khoa học giữa thầy và trò vì tri thức chỉ có thể có đƣợc thông qua tìm tòi, trao đổi, đối thoại. Một điểm khác nữa trong lý tƣởng giáo dục của Humboldt là quan niệm cho rằng còn ngƣời là sinh vật nỗ lực học tập và làm việc suốt đời vì thế việc đào luyện (bildung) con ngƣời là một tiến trình không kết thúc và không thể dừng lại giữa đƣờng. Lý tƣởng giáo dục của Humboldt xoay quanh từ “bildung” – một từ tiếng Đức mang rất nhiều hàm ý, thƣờng đƣợc dịch ra tiếng Anh đơn giản là “education”, trong khi thực tế nó gần gũi hơn với từ “formation” hay “paideia” trong tiếng Hi Lạp có nghĩa là giáo dục con ngƣời, giáo dục nhân tính cho mỗi cá nhân để cá nhân có thể tham gia vào quá trình cùng chung sống với các thành viên khác trong xã hội. Trong lý luận giáo dục của mình, ngƣợc lại với quan điểm của Heghel về nhiệm vụ giáo dục công dân của nhà nƣớc, Humboldt phê phán mọi nỗ lực của nhà nƣớc và xã hội muốn gò ép cá nhân theo những định hƣớng và mục đích của riêng mình. Theo Humboldt, nhiệm vụ chính của nhà nƣớc là đảm bảo an ninh và tích cực hỗ trợ nhƣng không can thiệp quá sâu vào giáo dục. Theo ông, không những phải đảm bảo giáo dục miễn phí cho mọi công 12 dân, nhà nƣớc còn phải bảo vệ quyền lợi đƣợc giáo dục của trẻ em, chống lại những ép buộc vô lý nhằm hạn chế việc học hành của trẻ em từ phụ huynh theo tinh thần khai sáng của triết học giáo dục do Rousseau khởi xƣớng. Trong những nỗ lực cải cách giáo dục của mình, với mong muốn tạo sức mạnh tinh thần cho ngƣời Đức, Humboldt đã đề xuất thành lập và trao quyền tự chủ tài chính cho bộ giáo dục và các trƣờng đại học ở Đức. Tuy nhiên, đề xuất của ông đã không đƣợc thực thi. Cống hiến lớn nhất của ông là thành lập Đại học Berlin sau này mang tên ông. Mô hình trƣờng đại học Humboldt đƣợc xây dựng theo mô hình giảng dạy kết hợp nghiên cứu, trƣờng đại học phải thiết lập chƣơng trình giáo dục tổng quát, trƣờng đại học phải dạy mọi loại khoa học, không đơn thuần tập trung vào dạy nghề. Trƣờng đại học phải hình thành một loại cộng đồng khoa học và các quan hệ giữa thầy và trò, trong đó sinh viên tham gia vào quá trình học tập đồng thời tự nghiên cứu riêng theo hƣớng dẫn và hỗ trợ của giảng viên. Nhƣ vậy, việc chú trọng hƣớng giáo dục đến nghiên cứu khoa học và khẳng định trong giáo dục đại học, giảng viên và sinh viên có quyền tự do nghiên cứu, tự do giảng dạy và tự do học hỏi và tìm hiểu mà không bị kiểm duyệt, đàn áp, hay chi phối bởi các thế lực chính trị và kinh tế. Những lý tƣởng giáo dục của Humboldt đã gợi mở cho J. Dewey xây dựng tƣ tƣởng giáo dục của mình mà vẫn còn giá trị cho đến ngày nay. * Sự ảnh hưởng của Charles Sanders Peirce đối với tư tưởng giáo dục của J. Dewey Charles Sanders Peirce (1839 – 1914) là nhà triết học, toán học và tự nhiên học, ông sinh ra trong một gia đình tri thức. Cha ông là nhà toán học tên tuổi tại đại học Harvard. Trong suốt thời gian hơn năm mƣơi năm tâm huyết với công việc nghiên cứu khoa học và giảng dạy, Peirce đã có nhiều cống hiến quan trọng trên nhiều lĩnh vực không chỉ riêng triết học, logic học mà còn các ngành khoa học tự nhiên nhƣ toán học, vật lý học và lịch sử khoa học. Với lý luận “hoài nghi – niềm tin” đƣợc trình bày trong hai tác phẩm Củng cố niềm tin (The fixation of belief) (1877) và Làm thế nào để tư tưởng trở nên sáng tỏ (How to 13 make our ideas clear) (1878), ông đƣợc coi là ngƣời đặt viên gạch đầu tiên cho chủ nghĩa thực dụng, trong đó bao gồm nội dung nhƣ lý thuyết về mục đích của chủ nghĩa thực dụng, lý thuyết về ký hiệu, lý thuyết về ý nghĩa, và lý thuyết về niềm tin... Chính những lý thuyết ấy ảnh hƣởng mạnh mẽ đến tƣ tƣởng giáo dục của J. Dewey. Do chịu sự tác động của quan niệm tiến hóa của chủ nghĩa Darwin xã hội thịnh hành trong những năm cuối thế kỷ XIX, Peirce đƣa ra lý luận hoài nghi – niềm tin (doubt – belief) nhằm nhấn mạnh tác dụng của hành động đối với sự sinh tồn của con ngƣời. Về bản chất, lý luận này của ông là quá trình phát triển của nhận thức con ngƣời từ trạng thái băn khoăn khi đối mặt với những tình huống mới lạ của cuộc sống đến trạng thái rõ ràng, nhận thức toàn diện bản chất của sự vật. Từ đó, con ngƣời có thể đƣa ra những hành động cụ thể phù hợp với hoàn cảnh đã đƣợc nhận thức. Peirce gọi trạng thái nhận thức rõ ràng đó là “niềm tin”. Theo nghĩa rộng hơn, niềm tin là tri thức cuối cùng mà con ngƣời đạt đƣợc về bản chất sự vật. Từ cách suy nghĩ nhƣ trên, Peirce cho rằng con ngƣời cần có những phƣơng pháp hợp lý để củng cố niềm tin hay đạt tới tri thức đúng đắn. Ông phân loại các phƣơng pháp đó gồm phƣơng pháp quyền uy, phƣơng pháp cƣỡng ép, phƣơng pháp tiên nghiệm và phƣơng pháp khoa học. Trong các phƣơng pháp trên thì theo ông chỉ có phƣơng pháp khoa học là phƣơng pháp tốt nhất để xác định niềm tin vì nó có thể kiểm nghiệm đƣợc trong thực nghiệm và cho rằng, tiêu chuẩn cơ bản để xác định niềm tin chính là lấy hiệu quả thực tế làm cơ sở. Phƣơng pháp khoa học của Peirce gồm 3 bƣớc nhƣ sau: giả thuyết (abduction), suy luận (deduction) và quy nạp (induction). Giả thuyết là bƣớc đầu tiên, đƣợc ông định nghĩa là “quá trình hình thành các giả thuyết giải thích”. Bƣớc giả thuyết chủ yếu dựa trên quan sát các dữ kiện thực tế nhằm xác định những gì chúng ta cho là đúng dựa trên nguyên tắc chung nhất định. Bƣớc thứ hai là suy luận. Ta tiến hành bƣớc này dựa trên những giả thuyết từ bƣớc thứ nhất, từ đó đoán ra các tình huống có thể xảy ra mà bản thân ta phải đối mặt trong tƣơng lai. Bƣớc cuối cùng của quá trình này là quy nạp. Bƣớc này đƣợc sử 14 dụng nhằm đánh giá các dự đoán về độ tin cậy và giá trị của các giả thuyết đƣợc tạo ra qua giả thuyết và suy luận, từ đó tiến hành các thử nghiệm và kiểm chứng cần thiết để đạt tới tri thức khách quan, khoa học. Chính lý thuyết này đã có ảnh hƣởng lớn đến tƣ tƣởng của J. Dewey khi xây dựng lý thuyết về bản chất, phƣơng pháp của giáo dục. Bên cạnh đó, chính lý thuyết chân lý cũng ảnh hƣởng đến J. Dewey trong việc xác định mục tiêu giáo dục. Từ quan điểm của Peirce cho rằng chân lý là quan niệm lấy hiệu quả thực tế để xác định niềm tin của mọi ngƣời, là quan niệm giúp con ngƣời thành công hay nói cách khác là thành công là tiêu chuẩn của chân lý, từ đó J. Dewey đi đến xác định mục tiêu của giáo dục là: tạo điều kiện phát triển cho mọi ngƣời là nhƣ nhau, ai cũng có quyền tự do nhƣ nhau trong việc thực hiện và theo đuổi mục tiêu của mình để đến đƣợc sự thành công. * Sự ảnh hưởng của William James đối với tư tưởng giáo dục của J. Dewey W. James (1842 – 1910) là nhà tâm lý học, triết học tiền bối của chủ nghĩa thực dụng, ngƣời đƣợc coi là đã phát triển và hệ thống hóa chủ nghĩa thực dụng lên một bƣớc mới. James sinh ra trong một gia đình khá giả ở New Yorks. Sự nghiệp của ông bắt đầu ở thời kỳ thứ nhất của thời đại hoàng kim của triết học Mỹ với việc tiếp cận triết học từ tâm lý học. Những tác phẩm của ông có thể kể đến nhƣ Những nguyên tắc của tâm lý học (Principles of Psychology) (1867), Các loại kinh nghiệm tôn giáo (The Varieties of Religious Experience) (1902), Chủ nghĩa thực dụng tên gọi mới của một phương pháp tư duy cũ (Pragmatism: A new name for some Olds Ways of Thingking) (1907)….Trong đó tác phẩm Nguyên tắc tâm lý học gây nhiều ảnh hƣởng tới J. Dewey. Sự ảnh hƣởng lớn nhất trong triết học của James đối với tƣ tƣởng giáo dục của J. Dewey chủ yếu là thuyết tâm lý học, lý luận dòng ý thức và chủ nghĩa thực dụng James. James đã giải thích ý thức tâm lý của con ngƣời là một cơ năng của cơ thể sống thích nghi với môi trƣờng chứ không phải sự thực tâm lý là do tri giác hay quan niệm cô lập hợp thành. 15 Lý luận dòng ý thức là một trong những phƣơng diện trọng tâm trong tâm lý học của James. “Dòng ý thức” (The stream of consciousness) đồng nghĩa với khái niệm “kinh nghiệm thuần túy” và “dòng cuộc sống” (the stream of life). Theo James thì ông gọi dòng cuộc sống là kinh nghiệm thuần túy, chính dòng cuộc sống này là chất liệu, vật chất cung cấp cho chúng ta sau này phạm trù phản tƣ và tính khái niệm của nó. Qua đó, ta có thể nhận thấy, kinh nghiệm, theo James không chỉ là khoa học, là văn hóa hay các đối tƣợng vật lý trong thế giới sự vật khách quan, nó là hoạt động suy nghĩ, tƣ tƣởng, cảm xúc, tâm thức của cá nhân. Do đó ta không thể cắt nghĩa mà chỉ có thể cảm nhận kinh nghiệm. Khi trình bày cách hiểu cụ thể về “dòng ý thức” ông đƣa ra một số đặc trƣng sau: Thứ nhất: Tƣ tƣởng là tƣ tƣởng của cá nhân. Thứ hai: Tƣ tƣởng vĩnh viễn là biến đổi, thay đổi liên tục và không bao giờ tĩnh tại. Thứ ba: Tƣ tƣởng có thể dịch chuyển từ ngƣời này qua ngƣời khác thông qua giao tiếp và truyền đạt. Thứ tƣ: Tƣ tƣởng có tính độc lập tƣơng đối với ý thức nên hai tâm thức có thể trải nghiệm cùng một sự vật. Thứ năm: Tƣ tƣởng có tính lựa chọn, liên quan đến lợi ích và hứng thú của mọi ngƣời. Từ lý luận về tâm lý học, lý luận dòng ý thức và đặc biệt là vấn đề liên quan đến hứng thú của mọi ngƣời của James dƣờng nhƣ đã mở ra một hơi hƣớng mới cho J. Dewey khi trong tƣ tƣởng giáo dục ông đề cao vai trò của kinh nghiệm, đề cao vai trò của ngƣời học, lấy ngƣời học làm trung tâm, và giáo dục chính là cuộc sống hiện tại của mỗi ngƣời. Bên cạnh đó những tƣ tƣởng về phƣơng pháp của chủ nghĩa thực dụng là đề cao vai trò của phƣơng pháp khoa học của James hay tƣ tƣởng về chân lý cũng có những tác động nhất định trong việc hình thành tƣ tƣởng giáo dục của ông. Nhƣ vậy, tƣ tƣởng giáo dục của J.Dewey không chỉ ra đời từ yêu cầu trực tiếp của thực tiễn xã hội Mỹ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, mà còn là sự tiếp 16 tục kế thừa và phát triển tƣ tƣởng giáo dục của các triết gia đi trƣớc. Những tƣ tƣởng giáo dục của J.Dewey còn đƣợc kết tinh từ chính thực tiễn giảng dạy và nghiên cứu về giáo dục của ông tại nhiều quốc gia trên thế giới. 1.2. Khái quát về cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm “Kinh nghiệm và giáo dục” của J.Dewey 1.2.1. Về cuộc đời và sự nghiệp của J. Dewey John Dewey sinh ngày 20/10/1859, mất 1/6/1952 tại Burlington, Vermont. Ông là triết gia, nhà tâm lý học, nhà giáo dục ngƣời Mỹ. John Dewey sinh ra trong một gia đình có 4 ngƣời con, có bố là thợ máy, sau đó tham gia quân đội. Bố ông đƣợc biết là ngƣời chia sẻ niềm đam mê văn học Anh với các con cháu mình. Sau chiến tranh, cha ông trở thành chủ của một cửa hàng thuốc lá có doanh thu tốt, đủ để giúp gia đình ông có một cuộc sống thoải mái và ổn định về mặt tài chính. Thời niên thiếu, John Dewey theo học các trƣờng công ở Burlington và là một học sinh xuất sắc. Mới 15 tuổi, ông đã đăng ký vào Đại học Vermont – nơi mà ông đặc biệt thích học ngành triết học dƣới sự giám hộ của H.A.P. Torrey. Năm 1879, Dewey tốt nghiệp Đại học Vermont với vị trí thứ 2 trong lớp. Mùa thu ngay sau khi tốt nghiệp, ông đƣợc anh họ mời giảng dạy ở một chủng viện thuộc Oil City, Pennsylvania. Hai năm sau, Dewey mất việc khi anh họ ông từ chức hiệu trƣởng của chủng viện này. Dewey trở lại Vermont và bắt đầu giảng dạy cho một trƣờng tƣ thục ở đây. Những lúc rảnh rỗi, ông đọc các luận thuyết triết học và thảo luận về chúng với ngƣời thầy cũ là Torrey. Khi niềm đam mê của ông với triết học tăng lên, ông quyết định nghỉ dạy để học triết học và tâm lý học ở Đại học Johns Hopkins. George Sylvester Morris và G. Stanley Hall là 2 trong số những giáo viên có ảnh hƣởng đến Dewey nhiều nhất. Sau khi nhận bằng tiến sĩ từ Johns Hoplins vào năm 1884, Dewey trở thành trợ lý giáo sƣ ở Đại học Michigan. Ở Michigan, ông gặp và kết hôn với Harriet Alice Chipman. Họ có 7 ngƣời con, trong đó có một ngƣời là con nuôi. 17
- Xem thêm -