Tài liệu Tiểu luận làng nghề và phát triển du lịch

  • Số trang: 21 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 125 |
  • Lượt tải: 0
tranphuong

Đã đăng 59174 tài liệu

Mô tả:

BÀI THAM LUẬN: “LÀNG NGHỀ VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH” ----------------------------------------LÀNG NGHỀ GỐM SỨ BÌNH DƯƠNG VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở ĐỊA PHƯƠNG Văn Thị Thùy Trang Phan Anh Tú Abstract: Binh Duong province is one of the provinces located at the East of Southern Vietnam where the traditional handicraft villages have existed and developed, reflected cultural features very famous in both Vietnam and outside. The pottery in Binh Duong is one of so long traditional handicrafts which has played a crucial part in life of Binh Duong communities after 300 years in forming and flouring. The Binh Duong Ceramics not only contributes in economic development but also presents the characters of culture and history of Binh Duong land. 1. Dẫn nhập Bình Dương là một tỉnh ở khu vực miền Đông Nam Bộ, vùng đất xưa - nay tồn tại và phát triển mang đậm nét văn hoá làng nghề thủ công truyền thống, vang danh cả trong nước và ngoài nước. Nghề gốm sứ ở Bình Dương là một những nghề thủ công truyền thống lâu đời, có vị trí quan trọng trong cuộc sống cộng đồng cư dân Bình Dương sau hơn 310 năm hình thành và phát triển. Nghề gốm không những đóng góp vào giá trị sự tăng trưởng 1 kinh tế, mà còn sự thể hiện nét văn hóa, lịch sử truyền thống của vùng đất Bình Dương. 2. Khái lược về dòng gốm Bình Dương Ra đời vào khoảng giữa thế kỷ XIX, gốm sứ Bình Dương là sự kết nối từ trong quá khứ của gốm tiền – sơ sử Nam Trung bộ cùng với sự phát triển gốm thủ công truyền thống của cư dân Việt – Hoa định cư trên vùng đất Thủ Dầu Một – Bình Dương. Được thiên nhiên ưu đãi, với nguồn nguyên liệu phong phú tại chỗ, gốm sứ Bình Dương cùng với gốm Sài Gòn, Biên Hòa hình thành nên một tam giác gốm sứ không chỉ nổi tiếng trong khu vực Đông Nam Bộ mà còn ở các khu vực miền Tây, miền Trung và cả Campuchia với các loại sản phẩm như lu, khạp, hũ, vại, đặc biệt là các loại lu. Các loại sản phẩm là gốm mỹ nghệ như chậu cảnh, đôn voi, tượng... thị trường tiêu thụ chủ yếu là các trung tâm tỉnh lỵ, trung tâm huyện và các thành phố. Trong những thập niên cuối thế kỷ XX và đầu của thể kỷ XXI, gốm sứ Bình Dương bước vào thời kỳ mới: gốm sứ công nghiệp hiện đại, đổi mới về công nghệ, kết hợp các nguyên liệu, quy trình kỹ thuật sản xuất, mẫu mã đa dạng hơn, men màu, trang trí mỹ thuật,.. đại điện là dòng sản phẩm gốm sứ mỹ nghệ cao cấp Minh Long I. Sản phẩm của Minh Long I có chất lượng cao, trên 15.000 mẫu mã, chủng loại, vừa mang phong cách hiện đại, vừa mang đậm nét truyền thống văn hóa dân tộc từ lũy tre làng, câu bé chăn trâu,... những giá trị đạo đức, đến các di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh Việt Nam được người tiêu dùng trong và ngoài nước tin tưởng và đón nhận. Với công nghệ và kỹ thuật tiên tiến đã được áp dụng nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, đa dạng về mẫu mã. Nghề gốm sứ hôm nay không những đạt về kỹ thuật trong sáng tạo đồ gốm sứ mà còn dùng kỹ thuật, mỹ thuật biến những vật dụng hằng ngày thành những hiện vật có tính chất nghệ thuật mang đậm màu sắc văn hoá Việt Nam. Hiện nay ở Bình Dương có ba trung tâm sản xuất gốm ở Chánh Nghĩa, Tân Phước Khánh và Lái Thiêu. Theo dòng sản phẩm gốm truyền thống Bình Dương tạo nên các trường phái chính: Quảng Đông, Phúc Kiến và Triều Châu. 2 - Trường phái Quảng Đông (lò Quảng): sử dụng men nhiều màu, hoa văn cách điệu, trang nhã… chuyên sản xuất tượng thờ và trang trí, các loại chậu, các đôn voi, siêu, nồi, hũ, thạp, đèn, nghiêm mài mực, bình xách nước, gốm xây dựng… - Trường phái Triều Châu (lò Tiều): sử dụng men xanh trắng, nét vẽ đa dạng phong phú có tính nghệ thuật gợi cảm, chuyên sản xuất đồ gốm gia dụng: chén, đĩa, tô,… và các loại bình, gối, chậu kiểng… - Trường phái Phúc Kiến (lò Phúc Kiến): sử dụng men màu đen, men da lươn, hoa văn trang trí sinh động và tạo dáng đẹp, chuyên sản xuất các loại như: chóe, lu, vại, hũ, vịm, kiệu, khạp, tỉn, cối đâm tiêu,… Ở mỗi dòng gốm về cấu tạo hình dạng, kích thước, hoa văn trang trí, men màu,... được thể hiện trên sản phẩm gốm đều mang một nét đặc trưng riêng, làm nên bản sắc chung của gốm sứ Bình Dương và tạo nên nét đặc thù riêng cho gốm Bình Dương so với gốm Biên Hòa, gốm Sài Gòn,... trong khu vực và cả nước. Đặc biệt, gốm men của Bình Dương đã tạo nên dòng gốm men nhiều màu bình dị, dân dã, sản phẩm đa dạng, phong phú, giản dị nhưng cũng trao chuốt, sinh động, thể hiện nét phóng khoáng của người Nam Bộ. 3. Đặc điểm văn hóa của dòng gốm Bình Dương Có rất nhiều ấn phẩm khác nhau viết về các loại hình sản phẩm gốm Lái Thiêu như trong Gốm Việt Nam từ đất nung đến sứ của Trần Khánh Chương mô tả về phong cách gốm Lái Thiêu (Bình Dương) mặc dù nó sản xuất ở Thủ Dầu Một hay Tân Phước Khánh, với các sản phẩm dân dụng trang trí hoa lam, trang trí vẽ trên men (nung qua lửa hai lần ở nhiệt độ thấp) với các hoa văn trang trí theo lối “tả thực” vẽ hoa, lá, hoa điểu, hoa điệp, liên - áp phong cảnh sơn thủy với ba màu chính: đỏ - tím (màu mã não), lam, lục, (xanh lá cây)… Tiêu biểu nhất là loại sản phẩm gốm hoa văn con gà, cây chuối nổi tiếng. Bên cạnh các loại gốm trên, các lọ hoa chỉ dùng màu men phủ lên các sản phẩm: xanh lam, xanh lá cây, men nâu, men “lốm đốm”, tạo dáng giản dị, màu men tinh tế, không sử dụng hoa văn… của gốm Lái Thiêu. Kỹ thuật gốm này được Trường Mỹ Thuật Biên Hòa và lò Thành Lễ của vùng Lái Thiêu tìm tòi từ năm 1960, về sau rất ưa dùng như các loại men giả cổ bóng mịn với các 3 màu lục, nâu nhạt, xám, vàng cam, ngọc bích, huyết dụ hay loại men thạch dụng với các màu xanh rêu, xanh, xanh chói bạc, nâu sản phẩm lò Thành Lễ trước năm 1975. 1 Một tác phẩm khác viết về “Gốm Lái Thiêu tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh”, dựa vào loại hình, chức năng và đề tài trang trí của các sản phẩm đã chia các sản phẩm gốm Lái Thiêu (Bình Dương) trưng bày tại bảo tàng thành ba nhóm: đồ gia dụng (bát, đĩa, vịm, chân đèn, bình, chậu, chén, khay trà, ống cắm, bình trà, thố, lọ hoa…); nhóm đồ dùng trong thờ cúng (tượng thờ, bát nhang,…); và nhóm đồ trang trí (tượng người, tượng động vật, đôn, chân đèn cách điệu,…). Quyển sách cũng đưa ra nhận xét gốm Lái Thiêu đa dạng về sản phẩm, đặc sắc về đề tài trang trí thể hiện ý nghĩa phong phú như Long Vân, Long hàm Thọ, Phụng hàm Thư, Lưỡng Long tranh châu, Ngư Long hý thủy… Bên cạnh đó, biểu tượng mang ý nghĩa tốt lành và sức mạnh như: Ngư, Phúc, Hạc, Hổ cũng khá phổ biến. Hoa văn trang trí trên gốm Lái Thiêu mang đậm yếu tố “tả thực” như hoa lá, hoa điểu, hoa điệp, liên áp, phong cảnh sơn thủy, cụm hoa lá, cây chuối, con gà… mang hơi thở của thiên nhiên Nam Bộ…2 Từ các nguồn tài liệu khảo sát về văn hóa dân gian, tín ngưỡng và lễ hội chùa Bà Bình Dương (Thủ Dầu Một), miếu Phước An (khu 7, phường Chánh Nghĩa), chùa Ông Bổn (Thị trấn Lái Thiêu), đình Bà Lụa (Thủ Dầu Một), miếu Quan Công (Tân Phước Khánh)… trên địa bàn tỉnh đều có ghi nhận sự tương quan mật thiết giữa nghề gốm, cộng đồng người Hoa và các tín ngưỡng thờ cúng tại những nơi này. Đồng thời tại đây, còn lưu giữ hoặc mang dấu ấn, đường nét kiến trúc của những cổ vật gốm Bình Dương như tượng thờ, lư hương, bình chậu hoa, tượng trang trí, hoặc chí ít cũng có những chén bát dĩa gốm Bình Dương đã và đang được dùng tại đây. Hiện nay, nghề gốm Bình Dương trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Trên địa bàn tỉnh Bình Dương có trên 284 lò gốm sứ, công nghệ hiện đại nung ga, nung điện được sử dụng, các cơ sở sản xuất chuyển đổi công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và thẩm mỹ sản phẩm đáp ứng cho thị trường xuất khẩu. Bình Dương tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa các ngành nghề, trong đó đặt biệt là các lò gốm. Từ đó sản phẩm gốm sứ Bình Dương đã đảm bảo thỏa mãn nhu cầu sử dụng trong nước từ hàng 1 Trần Khánh Chương (2001, tr. 185-195). 2 Khánh Hồng, 2007, tr.73-75 4 gia dụng bình dân cho đến hàng sứ men cao cấp. Hệ thống các chợ, siêu thị, đại lý phân phối gốm sứ Bình Dương đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của người dân trong cả nước. Thương hiệu gốm Bình Dương/gốm Lái Thiêu có mặt hầu hết ở các tỉnh thành. Một số thương hiệu lớn như Minh Long I, Cường Phát với sản phẩm đồ ăn, tách trà, đồ mỹ nghệ… dùng trong gia đình, nhà hàng, hay gốm bán sứ mỹ nghệ trang trí sân vườn như Phước Dũ Long, Kiến Hồng, Kiến Xương… nổi tiếng cả trong và ngoài nước. Riêng gốm sứ xây dựng Việt Nam, theo số liệu gần đây, hàng năm trên 80% sản phẩm gạch ốp lát và sứ vệ sinh được tiêu thụ ở thị trường nội địa và đã đem đến sự hài lòng cho nhu cầu lựa chọn của người tiêu dùng, bởi vì chất lượng và mẫu mã đã khá cạnh tranh với sản phẩm nhập ngoại cùng loại 3. 4. Giải pháp bảo tồn và phát huy di sản gốm sứ Bình Dương Hiện nay, toàn tỉnh Bình Dương có 284 lò/doanh nghiệp cở sở sản xuất gốm sứ tập trung ở Thuận An, Tân Uyên và Thủ Dầu Một. Đây cũng là ba cái nôi ra đời của ngành gốm sứ Bình Dương (gồm Chánh Nghĩa, Tân Phước Khánh và Lái Thiêu). Đó cũng chính là lý do đưa đến việc tỉnh Bình Dương chiếm trên 70% trong tổng kim ngạch xuất khẩu gốm sứ trong cả nước 4. Ngành gốm sứ sử dụng nguồn lao động đáng kể, hiện có 11.000 lao động hoạt động trong lĩnh vực này. Các thành phần kinh tế chính bao gồm: kinh doanh chiếm 95%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 5%. Sản phẩm gốm sứ xuất khẩu chiếm 80% ở các thị trường xuất khẩu chính là Úc, New Zealand, Hoa kỳ và Mexico; 20% tiêu thụ ở thị trường nội địa5. Bảo tồn phát huy ngành gốm sứ Bình Dương cần được xúc tiến kèm theo các chính sách phù hợp của tỉnh, cụ thể như sau: - Thành lập Trung tâm đào tạo nghiên cứu và ứng dụng phục vụ ngành gốm sứ tỉnh Bình Dương. Do tỉnh Bình Dương có nguồn lực nghệ nhân dồi dào, đa dạng, UBND tỉnh cần quy hoạch các nghệ nhân lão thành trong nghề, có kinh nghiệm nhằm đạo tạo công nhân có tay 3 Gốm sứ xây dựng Việt Nam phát triển và hội nhập. http://www.langnghevietjsc.com/index/gom%20su/tin%20tuc/thamluan4.html 4 Trích phỏng vấn ông Lý Ngọc Minh, ngày 16.11.2010. 5 Trích tài liệu gỡ băng Hội thảo Festival gốm sứ Bình Dương. 5 nghề cung cấp cho các cơ sở trong tỉnh. Bên cạnh đó, Trường này có bộ phận nghiên cứu bảo tồn, sáng tạo các mẫu mã gốm sứ mang đặc trưng riêng. Chiêu mộ bộ phận kỹ sư chuyên nghiên cứu về men màu và các kỹ thuật ứng dụng trong nghề gốm. Trường đào tạo này góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm gốm sứ trong tỉnh. Các chủ cơ sở/Doanh nghiệp có môi trường, cơ hội học tập, nâng cao chất lượng sản phẩm. Nòng cốt của Trường này là các nghệ nhân lão thành, các kỹ sư hóa chất, men màu… nhằm bảo tồn và phát triển bền vững ngành gốm sứ. - Bảo tồn các lò gốm cổ: Trên địa bàn tỉnh, theo kết quả nghiên cứu cho thấy Chánh Nghĩa là nơi có nghề gốm xưa nhất so với các nơi khác trong tỉnh. Hầu hết những lò gốm xưa ở Bình Dương hiện nay đều sản xuất những sản phẩm bình dân như lu, vại, chén đá hoặc chén ông tiên… Về mặt thu nhập kinh tế sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ do cơ chế tiêu dùng của thị trường. Tuy nhiên, việc bảo tồn và duy trì loại hình gốm dân dụng (bình dân) cũng cần được sản xuất và bảo lưu. Do đó, tỉnh cần có những quyết sách hợp lý để dòng gốm bình dân của Bình Dương vẫn được sản xuất. Đề nghị UBND tỉnh quy hoạch bảo tồn ba lò gốm kiểu lò ống có tuổi thọ xưa trên ở ba trung tâm sản xuất gốm của Bình Dương có kết cấu nguyên vẹn nhất (Tân Phước Khánh, Chánh Nghĩa, Lái Thiêu). Các cơ quan hữu quan cần tạo điều kiện cho ba cơ sở này tiếp tục sản xuất kết hợp làm điểm tham quan du lịch làng nghề. Đồng thời, UBND tỉnh cần có những chính sách hỗ trợ về vốn và hoạch định chiến lược sản xuất cho các lò gốm. Cụ thể chọn lò nào thì cần có sự phối hợp thẩm định của các chuyên gia nghiên cứu lò nung, gốm sứ các ban ngành như: Sở Công Thương, sở Văn hóa, thể thao và Du lịch, Hiệp hội gốm sứ của tỉnh, Ban quản lý di tích, Bảo tàng tỉnh,.. để đưa ra sự chọn lựa tối ưu nhất. Ngoài ra, dọc theo hạ lưu sông Đồng Nai còn lưu giữ về nghề gốm tiền sử qua các di chỉ khảo cổ học như di tích Cù Lao Rùa, Dốc Chùa đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia. Và những lò gốm đầu tiên hình thành vào những năm 80 của thế kỷ XIX bên bờ sông và kinh rạch Lái Thiêu (rạch Tân Thới), rạch Bà Lụa và rạch Ông Tía (Thủ Dầu Một)… các sản phẩm gốm còn lưu lại trên các công trình văn hóa, kiến trúc nghệ thuật như đình, chùa, miếu, nhà cổ. Ban quản lý Di tích và Danh thắng Bình Dương có nhiệm vụ tiến hành khảo sát, lập hồ sơ khoa học trình xếp hạng di tích cấp Quốc gia và cấp Tỉnh. 6 - Quy hoạch làng nghề sản xuất gốm sứ Bình Dương có vị trí thuận lợi về tự nhiên, khí hậu và sông nước, các vườn cây ăn trái thuộc khu vực đồng bằng ven sông Sài Gòn, sông Đồng Nai đến các dãy núi như Núi Cậu, núi Châu Thới… đây sẽ là tiền đề quan trong cho việc phát triển các loại hình du lịch tham quan, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch thể thao…có hệ thống di tích lịch sử, văn hóa tương đối đa dạng từ các di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ, danh lam thắng cảnh, đây là điều kiện thuận lợi trong việc khai thác các loại hình du lịch văn hóa. Trước tình hình di dời và ổn định sản xuất tại các khu vực như hiện nay tạo ra nhiều thay đổi đáng kể trong bức tranh làng nghề gốm đã được định hình từ xưa đến nay. Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu và các nhà quản lý và các doanh nghiệp, mong muốn xúc tiến quy hoạch khu vực bảo tồn ngành gốm sứ của tỉnh. Hưng Định được xem là khu vực còn số lượng cơ sở sản xuất lâu đời và mang tính tập trung, do đó nhà nước cần có chính sách kịp thời cần khoanh vùng bảo tồn đối với ngành gốm của tỉnh. Theo nhận định của giới chuyên môn, theo tốc độ sản xuất hiện nay, khoảng 10 năm nữa Bình Dương dễ bị mai một ngành nghề thủ công gốm sứ6. Do vậy việc quy hoạch làng nghề gốm sứ của tỉnh là rất cần thiết và cấp bách. Du lịch làng nghề gốm: Bình Dương được xem là một trong những trung tâm phát triển nghề gốm nổi tiếng khu vực Đông Nam Bộ, với các thương hiệu gốm nổi tiếng trong và ngoài nước như: Minh Long, Cường Phát, Nam Việt, Đại Hồng Phát…Từ những thương hiệu đó, Bình Dương đang khai thác làng nghề gốm để phục vụ khách đến tham quan tìm hiểu về gốm sứ với các điểm tham quan như: Trung tâm thương mại Minh Sáng Plaza, Lò lu Đại Hưng – một di tích cấp tỉnh, làng gốm Tân Phước Khánh… Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Dương còn 284 lò/cơ sở kinh doanh và sản xuất đồ gốm sứ. ngoài ra dọc theo Đại lộ Bình Dương (quốc lộ 13 đi ngang tỉnh), có hàng chục cửa hàng, công ty, shwroom trưng bày và bán sản phẩm gốm sứ đa dang chuẩn loại, phong phú màu sắc… các thương hiệu như gốm sứ cao cấp Minh Long I, Cường Phát, Minh Long II, 6 Theo ông Lý Ngọc Minh, trích phỏng vấn ngày 16.11.2010. 7 Kim Phát, Minh Phương, Thuận Phát, Minh Cường, Gốm 1/5…đã mang sản phẩm gốm sứ Bình Dương tiếp cận thị trường trong nước và trên thế giới. - Thành lập Bảo tàng gốm sứ Bình Dương: Song song với quy hoạch làng nghề, việc thành lập bảo tàng gốm sứ tại Bình Dương cũng cần được triển khai, nhằm sưu tầm, trưng bày, giới thiệu những sản phẩm tiêu biểu của các dòng gốm sứ Bình Dương qua các thời kỳ, giới thiệu được những nét độc đáo của từng dòng gốm sứ. Đồng thời công tác tổ chức các cuộc trình diễn, hội thảo chuyên đề, tổ chức lễ hội, và các khu tham quan du lịch làng nghề cũng cần được tính đến. 5. Kết luận Hơn 154 năm (1860 - 2014) hình thành và phát triển, nghề gốm Bình Dương tuy có lúc thăng trầm nhưng liên tục phát triển, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Bình Dương. Trong suốt chiều dài lịch sử 154 năm ấy, lưu dân người Việt, Hoa và các cộng đồng cư dân bản địa, đã chung lưng đấu cật, khai dựng cuộc sống cùng với sự giao thoa văn hóa nhiều miền để kết tinh thành bản sắc văn hóa đặc trưng của người Bình Dương, mà điển hình là các ngành nghề truyền thống. Nét đẹp, văn hóa, trình độ cảm thụ mỹ thuật và khả năng tạo dựng cuộc sống của người dân Bình Dương được thể hiện rõ trên các họa tiết của ngành thủ công truyền thống gốm sứ, đã chinh phục trái tim và trí tuệ của nhiều người thuộc nhiều miền khác nhau trong nước và trên thế giới. Đặc biệt là nghề truyền thống gốm sứ Bình Dương với điều kiện thiên nhiên ưu đãi về vị trí, địa hình, nguyên liệu, con người cần cù lao động đã đưa nghề gốm từ lúc hình thành, đã không ngừng phát triển trở thành một trung tâm gốm sứ nổi tiếng của vùng đất Nam kỳ Lục tỉnh. Hiện nay ngoài các sản phẩm gốm truyền thống đa dạng như gốm dân dụng, gốm mỹ thuật, các lò gốm Bình Dương còn được bổ sung thêm bằng các sản phẩm phục vụ ngành công nghiệp như sứ cách điện… Tuy nhiên, kỹ thuật sản xuất nhìn chung vẫn còn bảo lưu những đặc điểm truyền thống kết hợp với một số công đoạn sử dụng máy móc như: mô tơ quay, máy bơm phun, một số công đoạn đã tự động hóa, nhưng sức người và đôi bàn tay khéo léo vẫn là chính. 8 Ngày nay Bình Dương là một trong các tỉnh thành nằm trong vùng trọng điểm phát triển kinh tế phía Nam. Trong giai đoạn hiện nay, để có thể hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới cùng với cả nước, Bình Dương đã và đang tiến hành thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong tất cả các ngành nghề, trong đó đặc biệt là nghề gốm sứ. Cùng với nông nghiệp, ngành gốm đã đóng vai trò quan trọng trong đời sống của cư dân, vùng đất này ngay từ khi mới được hình thành. Đến nay, vị trí của ngành gốm Bình Dương không những không mất đi mà còn tăng thêm giá trị văn hóa tinh thần và có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc qua những sản phẩm nghề thủ công truyền thống. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ban chấp hành Đảng Bộ Tỉnh Bình Dương (2003), Lịch sử Đảng Bộ Tỉnh Bình Dương (1930-1975), Nxb Chính Trị Quốc Gia - Hà Nội. 2. Bùi Chí Hoàng (2007), "Bình Dương và những vấn đề khảo cổ học tiền sử", Thông tin Khoa học Lịch sử số 9 Hội Khoa học Lịch sử Bình Dương. 3. Diệp Minh Cường (2003). Gốm men nhiều màu Lái Thiêu. Nam Bộ Đất và người, tập 2. Hội KHLS TP.HCM, NXB Trẻ, tr.411-415. 4. Diệp Minh Cường (2005). Tranh gà trên gốm Lái Thiêu. Nam Bộ Đất và người, tập 3. Hội KHLS TP.HCM, NXB Trẻ, tr.549-554. 5. Đặng Văn Thắng (1998). Bàn thêm về gốm Sài Gòn. Sài Gòn TPHCM thế kỷ XX. Kỷ yếu hội thảo. 6. Huỳnh ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc (1997), Tượng gốm Đồng Nai - Gia Định. 7. Hùynh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc. Gốm Cây Mai Sài Gòn xưa. NXb Trẻ, 66tr. 8. Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Nguyễn Đại Phúc. Gốm Lái Thiêu, Bảo tàng Mỹ Thuật, 2009, chương 3. Khai thác và phối liệu. 9. Khánh Hồng (2007), Gốm Lái Thiêu tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. In trong: Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 20 năm hình thành và phát triển (1987-2007), tr.73-75. 10. Ngô Thị Phương Lan (2005). Sản xuất gốm sứ ở Lái Thiêu: sản xuất hộ gia đình trong bối cảnh kinh tế thị trường. Nam Bộ Đất và người, tập 3. Hội KHLS TP.HCM, NXB Trẻ, tr.411-415. 11. Ngô Thị Phương Lan(2002), Household production and maket economy: a perspective from pottery production in Lai Thieu, South Vietnam. M.A thesis, Department of Anthropology University of Toronto, 79p. 12. Nguyễn An Dương, Trường Ký, Lưu Ngọc Vang (1992). Gốm Sứ Sông Bé. NXB Tổng Hợp Sông Bé, 102tr. 9 13. Nguyễn Đức Thạch (1998), Đất sét, Nxb Đồng Nai. 14. Nguyễn Minh Giao (2001). Sự phát triển của ngành tiểu thủ công nghiệp gốm sứ tỉnh Bình Dương trong thời kỳ 1986 – 2000. Luận Văn Thạc Sĩ KHLS, TP.HCM, 120tr. 15. Nguyễn Sơn Dũng (1997). Làng nghề gốm Lái Thiêu, huyện Thuận An, Bình Dương. Luận văn Thạc sĩ văn hóa. 16. Nguyễn Thị Hoài Hương. Lò gốm Bình Đức (Sông Bé). NPHMVKCH, 1995. 17. Nguyễn Thị Nguyệt (1997), "Gốm mỹ nghệ Biên Hòa thành tựu của văn hóa Đồng Nai" Văn hóa nghệ thuật (số 5/1997), trang 42- 44. 18. Nguyễn Trọng Pháp (2001), "Gốm Biên Hòa với đề tài Phật Giáo". Nguyệt San Giác Ngộ (số 68) Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, trang 36- 43. 19. Phan An (1999) "Về các nghề thủ công ở Bình Dương" Thủ Dầu Một - Đất lành chim đậu, Nxb Văn Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh. 20. Phan Đình Dũng, Nguyễn Văn Thông, Nguyễn Yên Tri (2004) Gốm Biên Hòa, Nxb Tổng Hợp Đồng Nai. 21. Phí Ngọc Tuyến (2005), Nghề gốm ở Thành phố Hồ Chí Minh từ thế kỷ XVIII đến nay. Luận án tiến sĩ Khoa học Lịch sử, Trường Đại Học Khoa Học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh. 22. Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Bình Dương, Sơ khảo về tín ngưỡng, lễ hội dân gian và truyền thống tỉnh Bình Dương (1998), Xí nghiệp in Tỉnh Bình Dương. 23. Thư Viện tỉnh Bình Dương, 2010. Thư mục gốm – sứ Bình Dương.344tr. 24. Trần Khánh Chương (2001), Gốm Việt Nam từ đất nung đến sứ, Nxb Mỹ Thuật, Hà Nội. 25. Trần Nhất Tâm (chủ biên) (1998), Mỹ thuật Bình Dương xưa và nay, Hội văn học Nghệ thuật Bình Dương. 26. Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Trang trí Đồng Nai (1992), Giáo trình gốm Đồng Nai (dùng để giảng dạy trong trường Mỹ Thuật Trang Trí). 27. UBND tỉnh Bình Dương, Quyết định số 4262/QĐ-UBND ngày 31/12/2008, v/v phê duyệt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản tỉnh Bình Dương đến năm 2010. 28. Võ Công Nguyên (1993), "Gốm mỹ nghệ trong gốm Đông Nam Bộ - sắc thái văn hóa và ý nghĩa kinh tế", Tạp chí Khoa học Xã hội (số 17/1993), trang 8285. 10 1 Choé men vàng (da bò) 01 193 Cao: 86 cm 6 quai trang trí nổi 0- Đkm: 32 cm rồng đuổi trái cầu lửa 194 Đkđ: 28 cm Cổ nứt, bụng nứt 0 11 Choé men xanh trắng 01 vẽ lân 194 Cao: 18cm Núm nắp bị bể, nắp n 0- Ñkm: 8cm dán lại 195 Ñkñ: 10cm 0 Choeù men nhieàu ~ Cao: 48cm maøu, vai coù 4 195 Ñkm: 19cm quai. Thaân trang trí 0 Ñkñ: 19cm 195 Cao: 56cm Gần đáy có gắn 1 cái 4 quai, miệng đứng có 0- Ñkm: 22cm đồng có khoá gờ, vẽ rồng 5 móng và 196 Ñkñ: 21cm quả địa cầu, gần đáy 0 01 Nguyeân veïn noåi roàng maët naï, beân treân coù ghi doøng chöõ Vieät maøu xanh döông “loø Quaûng Hieäp Höng” Choé men nhiều màu, 01 trang trí cách điệu hình cánh sen Choeù men nhieàu ~ Cao: 52cm maøu, vai coù 6 196 Ñkm: 21cm quai. Thaân trang trí 0 Ñkñ: 18cm ~ Cao: 22cm traéng, saùt mieäng 192 Ñkm: 12cm veõ hoài vaên chöõ 0 Ñkñ: 14cm 01 Nguyeân veïn noåi “tam huøng” roàng – coïp – chim ñaïi baøng Huõ men xanh 01 Nguyeân veïn “coâng”, thaân veõ hoa cuùc. 12 Hũ hình tháp men 01 196 Cao: 21 cm nhiều màu vẽ phong 0- Đkm: 10 cm cảnh sơn thủy (có nắp) 196 Đkđ: 9 cm Nguyên vẹn 5 Bình nước (cuû toûi) 01 194 Cao: 26,5cm men xanh traéng 0- Ñkm: 4,8cm veõ hoa maãu ñôn 195 Ñkñ: 10cm 0 Cao: 3cm vaø chim baïch 01 ñaàu Ñkm: 18,8cm Dóa loùt men xanh Ñkñ: 14,5cm Nguyeân veïn traéng veõ daây laù ~ Cao: 12,5cm men xanh trắng, mặt 194 Ñkm: 8cm sau có nhiều chữ Hán 0 Ñkñ: 7,5cm ~ Cao: 12,5cm quai), men nhieàu 194 Ñkm: 7cm maøu, veõ caây 0 Ñkñ: 6cm 193 Cao: 13cm nhieàu maøu, veõ 0- Ñkm: 6,7cm chim huùt maät vaø 194 Ñkñ: 11cm hoa hoàng. Coù 0 Bình (có vòi, quai), 01 Nguyên vẹn viết tháu, vẽ cổ đồ đáy có 2 chữ Hán “Như Hợp” Ấm trà (coù voøi, 01 Nöùt quai tuøng, con chim vaø 4 chöõ Haùn “Trung Quoác xuaát phaåm”. Treân naép coù 4 chöõ Haùn “Nhaát phieán baêng taâm” Bình tích men 01 Nguyeân veïn 13 doøng chöõ Haùn “Nam Phong töø xöôûng taïo” (Xöôûng loø Nam Phong cheá taïo Nam) Bình tích men xanh 01 194 Cao: 23,5cm nhiều màu vẽ hoa thảo 0- Ñkm: 15,5cm côn trùng, 4 chữ Hán 195 Ñkñ: 21 cm “Quảng Phước Thành 0 Vòi gãy gắn lại xuất phẩm” Ấm trà (coù voøi, ~ Cao: 9,5cm quai ñoàng) men 195 Ñkm: 5,5cm xanh traéng, veõ 0 Ñkñ: 7,5cm ~ Cao: 15cm traéng (naép 194 Ñkm: 15,7cm khoâng nuùm) veõ 0 Ñkñ: 11,5cm ~ Cao: 18cm caàm, kiểu phương 194 Ñkm: 19cm tây) men nhieàu 0 Ñkñ: 12,5cm 01 Nguyeân veïn phong caûnh sôn thuyû, truùc, dôi, nuùm naém caùch ñieäu hìng traùi ñaøo. Ñaùy coù 2 chöõ Haùn “Nhö Hôïp” Thoá men xanh 01 Nguyeân veïn ñeà taøi “baùt böûu” Thoá (coù quai 01 Naép beå daùn laïi maøu, veõ keát hôïp phun maøu ñeà taøi “hoa ñieåu” 14 Thoá (coù quai ~ Cao: 20cm caàm, kiểu phương 194 Ñkm: 19,5cm tây) men nhieàu 0 Ñkñ: 13,3cm ~ Cao: 14,5cm caàm) men nhieàu 194 Ñkm: 17cm maøu, veõ ñeà taøi 0 Ñkñ: 12cm ~ Cao: 23,5cm caàm) men nhieàu 195 Ñkm: 21cm maøu, veõ hoa 0 Ñkñ: 14cm ~ Cao: 18,5cm nhieàu maøu, veõ 195 Ñkm: 16,5cm mieäng ñeà taøi “hoa 0 Ñkñ: 10cm ~ Cao: 9,5cm táo) men xanh trắng 195 Ñkm: 8,3cm vẽ hoa mai và bàn 0 Ñkñ: 5cm 01 Nguyeân veïn maøu, veõ ñeà taøi “cuùc phöôïng” Thoá (coù quai 01 Meû naép “ngö taûo” Thoá (coù quai 01 Nöùt mieäng maãu ñôn vaø chim baïch ñaàu. Thaân vaø naép coù ñeà chöõ Haùn “Duyeät An xuaát phaåm – caùt töôøng thoï laõo” Thoá troøn men 02 Nöùt 1 ñöôøng ôû ñieåu”, thaân coù 4 chöõ Haùn “Tröôøng meänh phuù quí”, naép coù 4 chöõ Haùn “Thieân töû vaïn toân” Thố tròn (dáng trái 02 Nguyeân veïn chiền (trong bát bảo) 15 Thố (dáng trái táo) 01 men nhiều màu vẽ ~19 Cao: 21cm 50 Đkm: 20cm “tiêu kê”, 4 chữ Hán Thân thố bị thẩm thấ Đkđ: 15cm “Phước Hiệp Hưng tác” Thoá troøn (daùng ~ Cao: 19,5cm traùi taùo) men 195 Ñkm: 18,7cm nhieàu maøu, veõ 0 Ñkñ: 13cm ~19 Cao: 19cm 60 Đkm: 18cm 01 Nöùt naép nhoû ñeà taøi “sen le” Thố (dáng trái táo) 01 men nhiều màu vẽ “tiêu kê”, 2 chữ Hán Thẩm thấu Đkđ: 12,5cm “cát tường ỐNG NHỔ Ống nhổ men xanh 01 trắng vẽ “tiêu kê” Ống cắm đũa men 01 ~ Cao: 19 cm 195 Đkm: 21 cm 0 Đkđ: 15,5cm ~ 19,2x10x7cm Nguyeân veïn 18,5x8,5x6cm Nguyeân veïn nhiều màu vẽ hoa mẫu 195 đơn – bướm 0 Ống cắm đũa men 01 ~ nhiều màu vẽ ngư tảo, 195 4 chữ Hán màu đen 0 Nguyên vẹn bên hông “thiên tử ? ?” và 2 chữ Hán “bình an” BÌNH LỌC NƯỚC 16 Bình lọc nước men ~ Cao: 36,6cm xanh trắng vẽ “tứ 194 Ñkm: 19,5cm tiên” trong nhóm bát 0 Ñkñ: 18cm ~ 17x13x7,5cm Meû caïnh nhoû 16x14x7cm Meû caïnh nhoû ~ Cao: 15cm Nöùt loø ôû loøng nhieàu maøu, veõ 194 Ñkm: 39cm chaäu hoa hoàng, hoa 0 Ñkñ: 22,5cm ~19 Cao: 8cm 50 Đkm: 23cm 01 Không nắp, không vò tiên, phía trên có 7 chữ Hán, 3 chữ giữa “vương lão cát”, 4 chữ còn lại “đính tịnh – lương trà” GỐI Goái men nhieàu 01 maøu veõ ñeà taøi 194 “ngö taûo”. 2 caïnh 0 beân coù ñeà chöõ Haùn “Laâm Ñaøo Xöông taùc” Goái men nhieàu 01 ~ maøu veõ 194 hoa,böôùm, truùc 0 VỊM Chaäu (thau) men 01 chanh Vịm ngoài men vàng (da lươn) trong men nhiều màu vẽ “ngư 01 Nguyên vẹn Đkđ: 14cm tảo” CHÉN –BÁT-DĨA CÁC LOẠI 17 Tượng men xanh ~ Cao: 9,5cm traéng, beân trong 192 Ñkm: 25cm loøng toâ coù daáu 0 Ñkñ: 12cm ~ Cao: 3cm miệng bịt đồng vẽ dây 192 Ñkm: 13,2cm lá 0 Ñkñ: 7,5cm 192 Cao: 3 cm trắng vẽ hoa lá, chữ 0- Đkm: 33,5 Phước 193 cm 0 Đkđ: 15,5 cm ~ Cao: 6cm 193 Ñkm: 12,5cm 0 Ñkñ: 6cm ~ Cao: 4cm 194 Ñkm: 17cm 0 Ñkñ: 8cm ~ Cao: 6cm xanh traéng veõ 194 Ñkm: 32cm phong caûnh sôn 0 Ñkñ: 15cm 01 Nöùt 3 ñöôøng ve loøng. Beân ngoaøi veõ hoa cuùc vaø chöõ Thoï. Dĩa men xanh trắng Dĩa quả tử men xanh Chén men trắng rạn, 01 01 01 chữ S.C.I Dĩa men nhiều màu vẽ 04 “tiêu kê” Dóa quaû töû men 01 Nguyên vẹn Nguyên vẹn Nguyênvẹn Khờn miệng Nguyeân veïn thuyû höõu tình 18 Dĩa men xanh trắng in 194 Cao: 2,8cm đề tài “trúc lâm thất 0- Ñkm: 8,2cm hiền” 195 Ñkñ: 4,2cm 05 Nguyên vẹn 0 Dĩa men xanh trắng 194 Cao: 2,2cm miệng bịt đồng vẽ hoa 0- Ñkm: 10cm hồng 195 Ñkñ: 5,8cm 01 Nguyên vẹn 0 Cối giả thuốc men ~ Cao: 12,5 cm xanh trắng vẽ đường 195 Đkm: 10,5 cm viền ở miệng 0 Đkđ: 8 cm 195 Cao: 6 cm men trắng ngà miệng 0- Đkm: 12 cm hình phiểu, bên ngoài 196 không phủ men 0 Chén đựng mủ cao su 01 05 03 Nguyên vẹn Nguyên vẹn Nguyên vẹn Cao: 7 cm Chén đựng mủ cao su Đkm: 14 cm men trắng ngà miệng hình phiểu, bên ngoài 195 không phủ men 0196 0 Dĩa quả tử men xanh ~ Cao: 5cm trắng vẽ mẫu đơn 196 Ñkm: 31cm phượng 0 Ñkñ: 17cm 195 Cao: 5cm Nứt 1 đường từ miệng 5- Ñkm: 38cm xuống thân 196 Ñkñ: 24cm Dĩa quả tử men xanh trắng vẽ cúc dây 01 01 Nguyên vẹn 0 19 Dĩa quả tử men nhiều 196 Cao: 6 cm màu, vẽ dây lá, lòng 0- Ñkm: 31,5cm da có dấu ve lòng 197 Ñkñ: 16cm 01 Nguyên vẹn 0 Tượng hổ men vàng 01 (da lươn) ~ 21,5x9x14,5c 197 m Nguyên vẹn 0 Tượng mục đồng cởi 01 ~ 18x8x10cm Nguyên vẹn 12x11x9cm Nguyênvẹn ~19 12,5x12,5x10c Nguyênvẹn 60 m ~ Cao: 38,5cm nhieàu maøu, veõ 195 Ñkm: 5cm maãu ñôn tró, ñaùy 0 Ñkñ: 10,5cm ~ Cao: 49cm traéng, veõ töù 195 Ñkm: 20cm thôøi “mai lan cuùc 0 Ñkñ: 14cm trâu men nhiều màu 197 (vàng, xanh lục, hồng) 0 Tượng phật Di Lặc 01 195 men nhiều màu, hai 0- chân để trước bụng 196 0 Tượng ông Địa men 01 nhiều màu, đầu vấn khăn, tay trái tựa đầu hổ, chân trái giắt ngang trước bụng Bình hoa men 01 Nguyeân veïn coù 2 chöõ Haùn “Thaønh Hôïp” Bình hoa men xanh 01 Nguyeân veïn truùc”. 20
- Xem thêm -