Tài liệu Skkn ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn lịch sử

  • Số trang: 13 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 45 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 20010 tài liệu

Mô tả:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO GIẢNG DẠY MÔN LỊCH SỬ I-LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI : Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các lĩnh vực trong đời sống không còn xa lạ nữa. Và ngành giáo dục cũng từng bước tiếp cận với công nghệ hiện đại. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường như một công cụ lao động giúp Ban giám hiệu nhà trường nâng cao chất lượng quản lí, giúp các thầy cô giáo nâng cao chất lượng dạy học, trang bị cho học sinh kiến thức về công nghệ thông tin, học sinh sử dụng các thiết bị kĩ thuật số như một công cụ học tập, góp phần rèn luyện cho học sinh một số phẩm chất cần thiết của người lao động trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Để thực hiện tốt đổi mới giáo dục phổ thông đạt kết quả, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy và học tập có một vai trò tích cực. Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới phương pháp dạy và phương pháp học. Năm học 2008 - 2009 được chọn là "Năm học đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục” . Năm học 2009 – 2010 tiếp tục chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá và ứng dụng trong công tác quản lý chuyên môn. Tập thể cán bộ, giáo viên nhà trường đã nhận thức được rằng: ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá và ứng dụng trong công tác quản lý chuyên môn là một trong những hướng tích cực nhất, hiệu quả nhất. Song để ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả trong giảng dạy thì công việc đầu tiên và quan trọng đối với người giáo viên là phải biết soạn giáo án điện tử. Chính vì vậy, ngay từ đầu năm học 2009 – 2010, được sự chỉ đạo của Ban Giám hiệu Trường trung học phổ thông Phạm Hùng, tôi đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu chuyên đề "Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn Lịch sử". II-CƠ SỞ LÍ LUẬN: Thực hiện giáo án điện tử hay bài giảng điện tử giáo viên cần có sự hỗ trợ của máy tính. Toàn bộ kế hoạch lên lớp của giáo viên phải được lập trình sẵn. Các hoạt động dạy và học được thiết kế hợp lý trong một cấu trúc chặt chẽ, sử dụng các công cụ đa phương tiện bao gồm: các văn bản hình ảnh, âm thanh, phim minh hoạ để chuyển tải tri thức và điều khiển người học. Khi lên lớp bằng giáo án điện tử, giáo viên phải thực hiện một bài giảng điện tử với toàn bộ hoạt động giảng dạy đã được chương trình hóa một cách sinh động nhờ sự hỗ trợ của các công cụ đa phương tiện đã được thiết kế trong giáo án điện tử. Cũng với sự hỗ trợ của máy tính người giáo viên có thể ứng dụng công nghệ vào thiết kế, xây dựng bộ câu hỏi học tập, các bài tập thực hành, đố vui lịch sử, thư viện thông tin… cho học sinh. Việc giảng dạy bằng bài giảng điện tử có những ưu điểm của nó. Đối với giáo viên, tuy phải đầu tư khá nhiều thời gian và công sức để chuẩn bị một giáo án điện tử nhưng việc dạy học lịch sử bằng giáo án điện tử giúp giáo viên hạn chế bớt phần thuyết giảng, có thời gian thảo luận và tăng cường kiểm soát đối với học sinh. Giáo án đện tử giúp đa dạng hoá việc cung cấp kiến thức cho học sinh thông qua các công cụ trình diễn, người giáo viên có thể cung cấp cho học sinh một khối lượng hình ảnh, phim tài liệu lịch sử… liên quan đến nội dung bài học lịch sử mà học sinh được học, như vậy mà giờ học trở nên sôi nổi và sinh động hơn Đối với học sinh, việc học tập lịch sử thông qua bài giảng điện tử tạo nhiều hứng thú cho các em trong học tập, các em được tiếp cận, nhận thức các sự kiện lịch sử và bài học lịch sử sống động hơn, gần với qúa khứ hơn. So với những bài giảng thông thường, học sinh phải mường tượng trong đầu những sự kiện, nhân vật mà thầy cô thuyết giảng thì với việc học trên bài giảng điện tử học sinh đã được trực quan sinh động với những sự kiện, nhân vật lịch sử một cách cụ thể giúp kích thích quá trình tư duy của học sinh, từ đó, nội dung kiến thức lịch sử học sinh thu thập đủ hơn và in sâu hơn vào trong trí nhớ của các em. III-THỰC HIỆN: SỬ DỤNG PHẦN MỀM POWER POINT VÀO VIỆC XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 1 Giới thiệu khái quát về phần mềm PowerPoint. Để thiết kế bài giảng điện tử trong dạy học các bộ môn ở trường phổ thông, giáo viên có thể chọn lựa nhiều phần mềm khác nhau như: Flash, PowerPoint, Violet (tiếng Việt)… kết hợp với các phần mềm hổ trợ khác. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc trưng, yêu cầu của bộ môn lịch sử cũng như khả năng tiếp cận của giáo viên, việc lựa chọn phần mềm PowerPoint qua thực tế sử dụng đã khẳng định được ưu thế so với các phần mềm khác. PowerPoint là phần mềm đồ họa diễn hình có trong bộ Microsoft Office. Phần mềm PowerPoint hầu như đã hiện diện sẵn trong hầu hết máy tính của người sử dụng Việt Nam và giao diện của nó cũng rất quen thuộc khi phần lớn giáo viên biết sử dụng Word để đánh văn bản. Phần mềm Powerpoint có thể đáp ứng tốt nhiều yêu cầu khác nhau trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông: từ việc xây dựng bài giảng điện tử của bài nghiên cứu kiến thức mới, cho đến khâu củng cố, ôn tập, sơ kết, tổng kết, kiểm tra đánh giá và cả hoạt động ngoại khóa. Khởi động phần mềm PowerPoint: 1. Nhấp vào nút Start trên thanh tác vụ 2. Trỏ vào Progame 3. Trỏ vào Microsoft Office 4. Nhấp vào Microsoft Office PowerPoint * Phần mềm này có thể giúp giáo viên: Dễ dàng chèn nội dung văn bản (Text), hình ảnh, video clip, âm thanh (Insert Picture/ Movie? Sound) làm cho các kênh thông tin về sự kiện lịch sử trở nên đa dạng, phong phú, sinh động. Qua đó, góp phần tạo biểu tượng lịch sử một cách rõ nét, giúp học sinh cảm nhận và “xích lại” gần với hiện thực qúa khứ, tránh nhận thức sai lầm, hiện đại hóa lịch sử và hiểu lịch sử đầy đủ, sâu sắc hơn. Đồng thời tạo hứng thú, hình thành trong học sinh tình cảm, thái độ đúng đắn đối với lịch sử cũng như việc học tập bộ môn lịch sử. Ví dụ: khi giảng bài Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII, giáo viên có thể giới thiệu cho học sinh hình ảnh vua Luix XVI, bức tranh biếm họa người nông dân Pháp… từ đó giúp học sinh có được biểu tượng rõ nét về chế độ chính trị - xã hội nước Pháp lúc bấy giờ. CÁCH MẠNG TƯ SẢN PHÁP 1789 Chính trị Xã hội. Pháp vẫn theo chế độ quân chủ chuyên chế. Vua Louis XVI (1774-1792) có quyền lực Tuyệt đối và vô hạn Tạo các biểu đồ, đồ thị, sơ đồ (Insert Chart), niên biểu, bảng so sánh (Insert Table)… với nhiều màu sắc, độ chính xác cao, có hiệu ứng hoạt hình và được trình chiếu theo trình tự nội dung vấn đề, theo xu hướng phát triển… giúp học sinh hiểu được bản chất, các mối liên hệ, vận động, phát triển của các sự kiện, hiện tượng lịch sử, hay hệ thống, khái quát những kiến thức đã học, hay làm rõ những điểm giống và khác nhau của các sự kiện, hiện tượng lịch sử…. Ví dụ: Sự khác nhau về các mặt: chủ trương, sách lược cách mạng , hình thức và lực lượng đấu tranh của Phong trào dân chủ 1936 – 1939 so với Phong trào cách mạng 1930 - 1935 1930 - 1931 1936 - 1939 Đế quốc – phong kiến Bọn phản động Pháp và tay sai Xác định kẻ ( có tính chất chiến lược ) ( có tính chất sách lược ) thù Đánh đổ Đế quốc giành độc lập Chống bọn phản động Pháp và tay dân tộc , đánh đổ phong kiến sai , chống chiến tranh đế quốc đòi Nhiệm vụ giành ruộng đất cho dân cày . tự do , cơm áo , hoà bình Đấu tranh chính trị của quần Công khai , hợp pháp ,nữa công Hình thức chúng bãi công - biểu tình – khai nữa hợp pháp . đấu tranh biểu tình có vũ trang . - Tập hợp mọi lực lượng yêu nước không phân biệt giai cấp . Công nhân – nông dân - Thành lập Mặt trận nhân dân Lực lượng ( Thực hiện liên minh công phản đế Đông Dương ( tháng 3 – đấu tranh nông ) 1938 đổi thành Mặt trận dân chủ thống nhất Đông Dương ) . Hoặc: Giữa hai chiến lược Chiến tranh đặc biệt và Chiến tranh cục bộ, có điểm gì giống nhau và khác nhau * Giống nhau : Đều là chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ, nhằm chống lại cách mạng, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. * Khác nhau : Chiến tranh đặc biệt Chiến tranh cục bộ Được tiến hành bằng quân đội Được tiến hành bằng quân viễn tay sai, dưới sự chỉ huy của cố vấn chinh Mỹ + chư hầu và quân ngụy quân sự Mỹ, dựa vào vũ khí, trang tay sai, trong đó quân Mỹ giữ vai trò Âm mưu bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh quan trọng.Tiến hành hàng loạt cuộc của Mỹ, âm mưu cơ bản là : “ hành quân “ tìm diệt ” và “ bình định Dùng người Việt đánh người Việt”, ” vào “ Đất thánh Việt cộng” . coi Ấp chiến lược là quốc sách. Không chỉ tiến hành ở miền Nam, mà còn mở rộng chiến tranh phá hoại Phạm vi Được tiến hành chỉ ở miền Nam miền Bắc. Lớn và ác liệt hơn nhiều so với Chiến Qui mô tranh đặc biệt Tạo các liên kết (Hyperlink) linh hoạt, cho phép kết nối một nội dung bất kỳ trên một slide của giáo án điện tử đến một trang Web trên Internet (nếu máy tính có nối mạng hay đến bất kỳ một tập tin nào trong máy tính…để tìm kiếm thông tin, mở rộng nội dung đang trình bày hoặc sử dụng nút kích hoạt (Trigger) để bật / tắt tức thì các dạng tư liệu ngay trên slide đang trình chiếu nhằm bổ sung, cung cấp thông tin, hay tiến hành so sánh, đối chiếu nhận thức của học sinh. Ví dụ:TỔ CHỨC LIÊN HỢP QUỐC Tổ chức Liên hợp quốc ( UNO ) Các cơ quan chủ yếu Đại hội đồng Hội đồng bảo an Hội đồng KT - XH Tòa án quốc tế Ban thư ký LHQ Các cơ quan chuyên môn Các cơ quan khác Hàng không ICAO Bưu chính IPU Hàng hải IMO L..thực, n.nghiệp FAO Hội đồng tài chính IFC Lao động quốc tế ILO Giáo dục, khao học, văn hoá UNESCO Quỹ tiền tệ quốc tế IMF Năng lượng nguyên tử IAEA Hiệp định chung thuế quan mậu dịch GATT Y tế thế giới WHO Sở hữu tri thức thế giới WIDO Dễ dàng tạo và chèn các dạng ký hiệu, biểu tượng thích hợp có sẵn trong Auto Shapes với các định dạng theo điểm, theo đường, theo diện tích… và có thể tăng giảm kích cỡ, thay đổi hướng các ký hiệu tùy ý. Ngoài ra, còn có thể tự biên vẽ các lược đồ, tự thiết kế các biểu tượng đặc biệt, thể hiện được đặc trưng sự kiện lịch sử. Các dạng ký hiệu, lược đồ trên khi được tạo hiệu ứng thích hợp sẽ giúp học sinh nhận thức rõ trình tự quá trình diễn biến, xác định rõ các địa điểm, khu vực, các hướng di chuyển… qua đó góp phần tạo biểu tựơng rõ nét về không gian, thời gian hay giúp học sinh nắm được các mối liên hệ giữa các yếu tố, sự kiện, hiện tượng lịch sử. Ví dụ: KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM ( 1973- 1975) Tạo các hiệu ứng hoạt hình sinh động cho các đối tượng (văn bản, hình ảnh, biểu tượng, sơ đồ, bảng biểu…) là một trong những chức năng ưu thế của Powerpoint. Từ Menu Slide Show > Custom Animation >Add Effect giáo viên có thể chọn nhiều hiệu ứng khác nhau cho đối tượng đã được chèn trên Slide. Trong thẻ Add Effect, giáo viên chỉ nên chọn dạng hiệu ứng Entrance, trong dạng này có khoảng hơn 50 kiểu hiệu ứng cụ thể, nhưng chỉ có một số kiểu hiệu ứng thuộc mục Basic, Subtle là phù hợp với yêu cầu xây dựng bài giảng (có thể biểu hiện tốt mục đích sư phạm). Chẳng hạn như : khi muốn trình chiếu một đối tượng mới trên slide nên chọn hiệu ứng Fader, Fly In, Wipe, Diamond, Dissovle In… * Xây dựng bài giảng điện tử bằng PowerPoint đòi hỏi phải đầu tư nhiều thời gian và công sức nhưng khi tiến hành bài giảng điện tử trên lớp lại rất dễ dàng, thuận tiện. Giáo viên chỉ cần click chuột hay nhấn phím Enter hay phím  là có thể trình chiếu lần lượt nội dung của bài giảng đã được thiết kế trước đó trên Powerpoint. Điều này cho phép giáo viên trình bày nội dung bài học một cách đa dạng, phong phú, sinh động nhưng vẫn tiết kiệm được thời gian mà GV bỏ ra cho việc ghi chép, kẻ vẽ lược đồ… trên bảng đen theo lối dạy truyền thống. * Tuy nhiên khi ứng dụng tiện ích của Powerpint vào việc thiết kế bài giảng điện tử giáo viên cần phải chú ý đến những hạn chế dễ mắc phải, đó là: Quá lạm dụng đến hiệu ứng, kỹ thuật trình diễn trên bài giảng điện tử ví dụ như: tạo các hiệu ứng “bay nhảy” kèm theo âm thanh, trang trí các slide với mầu sắc sặc sỡ, loè loẹt, kết nối với các phim, ảnh lôi cuốn người học, nhưng chuyển tải nội dung rất ít, có khi phản tác dụng giáo dục; lựa chọn nhiều background, phông chữ, màu sắc khác nhau… thiếu tính nhất quán, ít hài hòa và nhất là không thể hiện được tính sư phạm trong cả hình thức lẫn nội dung trình bày. Một hạn chế khác mà giáo viên thường hay mắc phải là ít chú ý tính hệ thống của kết cấu bài giảng (cách trình bày bảng đen truyền thống thường bảo đảm được yêu cầu này cho đến khi kết thúc tiết học), nội dung trình bày trên các slide gần như độc lập nên khi trình chiếu sang một đề mục mới thì các đề mục trước đó hầu như không còn xuất hiện nữa khiến cho nhận thức lịch sử của học sinh dễ rơi vào sự tản mạn thiếu tính hệ thống Các dạng thông tin trình bày trên slide của một số bài giảng điện tử còn nghèo nàn, chủ yếu là trình bày một văn bản để trình chiếu trên màn hình thay cho việc ghi chép, mà chưa chú ý đến kiến thức cơ bản, trọng tâm hay sơ đồ hóa các nội dung văn bản. Ngược lại nhiều giáo viên ôm đồm, muốn đưa nhiều dạng thông tin phương tiện để trình chiếu cùng một lúc trên các slide khiến cho bố cục trình bày rối rắm và các thông tin đến với học sinh bị nhiễu loạn, khó nhận ra đâu là kiến thức cơ bản, trọng tâm. Từ đó, những kiến thức còn đọng lại nơi học sinh sau giờ học không rõ ràng, thiếu tính hệ thống và không bền vững. Nhiều bài giảng điện tử do giáo viên lạm dụng về thời gian trình chiếu đã không đảm bảo về chất lượng giờ học, không bao quát được tình hình lớp học, tình trạng học sinh ghi chép bài không kịp hoặc không ghi chép nội dung bài học vẫn xảy ra. 2. QUY TRÌNH XÂY DỰNG MỘT BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ. *Để đạt được một bài học lịch sử hiệu qủa, giáo viên cần tuân thủ quy trình xây dựng bài giảng điện tử gồm các bước sau: Xây dựng giáo án: bao gồm chuẩn bị nội dung, sưu tập tư liệu điện tử. Thiết kế bài giảng điện tử: sử dụng phần mềm Powerpoint để thiết kế bài giảng. Kiểm định sự hoàn thiện của bài giảng điện tử: trình chiếu thử, phát hiện lỗi. Xây dựng giáo án. + Xác định rõ mục đích yêu cầu của bài học + Xác định những kiến thức cơ bản, trọng tâm mà học sinh cần nắm vững trong tiết học. + Sưu tầm, chọn lọc các nguồn tư liệu viết, tranh ảnh, phim tư liệu, băng ghi âm có liên quan đến những kiến thức cơ bản đã được xác định. Xử lý, các tư liệu đã chọn lọc sau đó đóng gói vào trong một Folder và đặt file name phù hợp (Ví dụ: Data bài 15 ) để dễ tìm và nhớ đưa kèm theo khi ghi bài giảng điện tử vào USB. Thiết kế bài giảng: Xây dựng kế hoạch thiết kế cụ thể của các Slide trình diễn (kịch bản). Dự kiến số slide thích hợp với số lượng đối tượng được lựa chọn để trình diễn và tương ứng với kế hoạch cụ thể mà giáo án lên lớp đã xác định. Bảng kế hoạch có thể được trình bày như sau: Thời gian / Đối tượng được trình bày trên các Slide / Biện pháp khai thác, sử dụng /Mục đích sư phạm /Văn bản; Đồ họa, hình ảnh, âm thanh, phim Học sinh thảo luận và trả lời. Kiểm định sự hoàn thiện của bài giảng điện tử: Tiến hành thiết kế và chạy thử từng phần rồi toàn bộ các slide (có đối chiếu với trình tự các hoạt động được trình bày trong giáo án), chỉnh sửa nội dung, hình thức các slide, kiểu và thứ tự trình bày các hiệu ứng… cho hợp lý hơn với mục tiêu, kế hoạch sư phạm mà giáo án và kịch bản đã đề ra. Ghi lại tập tin Powerpoint của bài giảng điện tử lên USB, CD để lưu trữ, sử dụng trên lớp và phòng tránh tình trạng máy tính có tập tin lưu trữ bị gặp sự cố. (Lưu ý: phải ghi lại các tập tin có liên kết, nhất là các tập tin âm thanh, phim tư liệu có sử dụng trong bài giảng điện 3. KHAI THÁC TƯ LIỆU QUA INTERNET PHỤC VỤ CÁC BÀI GIẢNG LỊCH SỬ Những tư liệu được lựa chọn sẽ làm cho bài giảng trở nên phong phú, sống động, hấp dẫn hơn, học sinh sẽ tiếp thu bài giảng một cách tự nhiên. Internet là một thành tựu có tính đột phá của nhân loại cuối thế kỷ XX mà lịch sử sẽ ghi nhận có vai trò tương đương với việc phát minh ra lửa, máy hơi nước, điện năng hay năng lượng hạt nhân, là một công cụ vô cùng hiệu quả cho việc khai thác tư liệu phục vụ cho các bài giảng lịch sử. Nội dung của phần này sẽ tập trung trả lời các câu hỏi: Tại sao Internet lại là công cụ hiệu quả cho việc khai thác tư liệu phục vụ cho bài giảng Lịch sử? Nên tập trung khai thác những loại tư liệu nào xung quanh nội dung của bài giảng cho phù hợp? Để làm được điều đó người phải làm việc gì và cần có yêu cầu gì? 3.1. Internet – Nguồn tư liệu vô tận cho các bài giảng lịch sử a. Về dung lượng: những số liệu, báo cáo thống kê cho thấy cho đến cuối thế kỷ XX, Internet đã trở thành kho thông tin khổng lồ và phong phú nhất trong lịch sử nhân loại với hàng trăm triệu websites liên quan đến mọi lĩnh vực, ngõ ngách của đời sống xã hội. Có nhà nghiên cứu đã từng khẳng định rằng xét về khối lượng, thông tin trên Internet đã vượt qua rất xa so với tổng khối lượng thông tin được in thành sách của loài người kể từ khi phát minh ra chữ viết cho đến năm 1990. Khối lượng đó lại được tăng lên với tốc độ chóng mặt hàng năm. b. Về khả năng truy cập: Internet có ưu thế tuyệt đối, trừ một số ít thông tin được bảo vệ nhằm mục đích thương mại hoặc bí mật, mỗi người sử dụng Internet đều có thể truy cập bất kỳ một thông tin nào trên Internet dù thông tin đó được đặt ở Mĩ, Nga, Châu Âu, Châu Phi, Nhật Bản hay Việt Nam mà không phải rời khỏi bàn làm việc của mình. Đó là điều không thể mơ ước đối với các nguồn tin khác như thư viện, các bộ sưu tập hay thậm chí cả báo chí. c. Về loại hình: Internet cung cấp thông tin ở dạng văn bản, hình ảnh, âm thanh hay thậm chí là cả dạng phim tư liệu hay video. Khả năng này cho phép khai thác và bổ sung những tư liệu một cách phong phú hơn rất nhiều so với thông tin được in trên giấy thuần túy bằng văn bản. d. Về nội dung: tính đa dạng, phong phú và dễ truy cập tạo cơ hội cho người giáo viên có thể chọn lọc những tư liệu thích hợp, cô đọng và phù hợp nhất với nội dung, mục đích của từng bài giảng mà không bị lắp lại hay nhàm chán. Vấn đề chọn lọc tư liệu phù hợp sẽ được đề cập sâu hơn trong mục tiếp theo. 3.2 Lựa chọn tư liệu như thế nào cho phù hợp với nội dung bài giảng. a.Khi tìm kiếm: lựa chọn tư liệu cho bài học điều quan trọng nhất là tính phù hợp. Tư liệu phù hợp là tư liệu liên quan đến nội dung bài giảng; có nội dung, hình thức đa dạng (thông tin, hình ảnh,...) và được chọn lọc; lượng thông tin bổ sung vừa đủ không ít quá, cũng không nhiều quá làm loãng nội dung. b.Về nội dung: tư liệu phải liên quan đến nội dung bài giảng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm hướng tư duy học sinh đến các nhận định, bài học, nhân vật, sự kiện, địa danh, hiện vật hay ý nghĩa lịch sử. Ví dụ, một bức ảnh chân dung của Nguyên soái Liên Xô Zucôp hay ảnh tư liệu về thành phố Xtalingrat trong những ngày hè nóng bỏng năm 1942 sẽ là tư liệu phù hợp cho bài giảng về cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Xô Viết. c.Về hình thức: nếu đã có một tư liệu là văn bản hay kiến thức thì tư liệu khác nên được cung cấp dưới dạng ảnh. Vì tư liệu là thông tin bổ sung nên những tư liệu ảnh là rất thích hợp vì nó thường mới (chưa được biết trước), truyền đạt nhanh thông qua việc quan sát chứ không phải đọc hay giảng phù hợp với mục đích là tư liệu bổ sung. d.Về dung lượng: hiển nhiên thông tin và tư liệu chỉ được chiếm một tỷ lệ vừa đủ cả về thông tin và thời gian cung cấp thông tin. Tư liệu không thể lấn át nội dung chính của bài giảng mà nó bổ sung, làm cho kiến thức được cung cấp được hấp thụ dễ dàng và toàn diện hơn. 3.3 Một số yêu cầu và điều kiện để khai thác Internet: Là một công cụ rất hiệu quả và một kho thông tin vô tận, nhưng Internet cũng đòi hỏi giáo viên phải được trang bị những kiến thức, kỹ năng và những điều kiện nhất định như những hiểu biết cơ bản dù chỉ ở mức đại cương như truy cập vào Internet thế nào? làm thế nào để sử dụng những công cụ tra cứu tìm kiếm như YAHOO, GOOGLE, ...? hay kỹ năng chọn lọc những từ khóa tìm kiếm (keywords) phù hợp với mục đích tra cứu tìm kiếm tư liệu lịch sử,.... sẽ giúp ích rất nhiều cho việc tìm kiếm tư liệu.. Điểm cuối cùng cũng rất quan trọng đó là muốn khai thác Internet thì cần phải truy cập được vào Internet bằng cách nào đó. Vấn đề này đã trở nên dễ dàng hơn với các điểm truy cập Internet được mở ở nhiều nơi. 3.4. Cách khai thác Internet phục vụ dạy học Lịch sử tìm kiếm tài liệu văn bản: a. Kích đúp chuột trái (hoặc chuột phải chọn Open Home Page) vào biểu tượng Internet Explorer trên desktop. b. Ở thanh Address: gõ địa chỉ của trang tìm kiếm vào: www.google.com.vn -> Enter c. Gõ cụm từ chìa khoá cần tìm kiếm vào, ví dụ: “Tư liệu lịch sử”,… Enter d. Kích chuột phải vào tiêu đề của kết quả, chọn Open in New Window. (Có nhiều kết quả, không nhất thiết phải chọn kết quả đầu tiên, muốn có thêm kết quả nữa ta chọn Tiếp ở dưới hoặc chọn số trang liệt kê kết quả 1,2,3,4…) e. Ở cửa sổ mới, muốn lưu trang web lại có thể dùng chuột bôi đen tất cả (Ctrl-A), copy, mở trang Word rồi paste vào. Hoặc Chọn File  Save as… chọn đường dẫn để lưu  gõ tên tài liệu vào ô file name, nên dùng phong chữ Times New Roman hoặc Arial Save III-KẾT LUẬN Hiện nay những thành tựu của công nghệ thông tin được áp dụng ngày một rộng rãi với cường độ ngày một cao hơn vào hệ thống giáo dục, trường được trang bị 2 phòng máy tính để giảng dạy giáo án điện tử. Cách giảng dạy theo hướng đổi mới sử dụng tích hợp các phương tiện. Mặc dù hiện đang có sự thay đổi hết sức lớn lao trong việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử qua một tiết dạy bằng giáo án điện tử, do áp dụng những công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin. Tuy nhiên quá trình giáo dục con người không thể công nghệ hóa hoàn toàn được, có nhiều mặt giáo dục không thể quy trình hóa được, máy tính hóa được như việc giáo dục nhân cách, đạo đức, thẫm mĩ, lòng yêu quê hương Tổ quốc … Vai trò của giáo viên, học sinh, nhà trường, gia đình, xã hội … đều vẫn hết sức quan trọng và nếu có sự hỗ trợ thêm công nghệ thông tin tiên tiến thì hiệu quả của chất lượng dạy học sẽ cao hơn. Môn tin học được đưa vào giảng dạy trong nhà trường từ phổ thông trở lên không những để học sinh dùng nó như một công cụ học tập, giáo viên dùng nó như một công cụ sư phạm mà còn chuẩn bị cho học sinh sẽ có một kỹ năng làm việc trong xã hội ngày càng dựa trên công nghệ thông tin, cũng như trong kỹ năng hoạt động trong đời sống hàng ngày ở gia đình và ngoài xã hội, là những môi trường áp dụng những thành tựu của tin học ngày càng nhiều. Ưu điểm đối với giáo viên khi sử dụng giáo án điện tử là : cá nhân hóa quá trình dạy, thích ứng việc dạy với khả năng từng người học, cải tiến hoặc thay thế những phương pháp truyền thống về dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, có những kỹ năng sư phạm mới, có triển vọng áp dụng công nghệ thông tin có tính sư phạm. Tuy nhiên còn nhiều giáo viên rất ngại phải làm chủ kỹ thuật phức tạp của máy tính, sự ngần ngại nầy có thể khắc phục, nếu giáo viên biết rõ là không cần thiết tất cả mọi giáo viên phải nắm vững những kỹ năng điện tử phức tạp khi sử dụng giáo án điện tử, sử dụng phần mềm soạn đề kiểm tra, cộng điểm đánh giá xếp loại học sinh. Ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học lịch sử trong trường THPT hiện nay cho phù hợp với “xã hội thông tin” là xu hướng tất yếu ngày nay. Một số trường và giáo viên đã mạnh dạn đi tiên phong trong việc soạn giáo án điện tử, phần mềm dạy học, giảng dạy bằng máy chiếu … song do nặng tính tự phát nên thiếu chiều sâu và bề rộng. Thực tế cho thấy các buổi học bằng giáo án điện tử sinh động, thu hút, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc trao đổi, thảo luận giữa thầy – trò, trò – trò. Việc ứng dụng các phương tiện thông tin điện tử hiện đại trong dạy và học đã làm xuất hiện khái niệm mới là học tập điện tử hoặc bài giảng điện tử mà internet là một yếu tố cấu thành trong phương pháp dạy và học. Nếu ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin, thì internet sẽ đóng vai trò rất ton lớn trong việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới dạy-học bằng giáo án điện tử là một tất yếu trong xu thế chung của ngành giáo dục, đã làm thay đổi toàn bộ cách thức dạy học truyền thống “đọc – chép”. Khi đưa công nghệ thông tin vào dạy học, công tác đào tạo học sinh sẽ theo đa chiều, cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Cách thức nghiên cứu khoa học cũng sẽ thay đổi, bởi máy tính đã hỗ trợ. Máy tính có thể nối dài bộ óc của con người. Công tác giáo dục là đào tạo kiến thức cho bộ óc con người, vì vậy việc ứng dụng công nghệ thông tin kết hợp đổi mới kiểm tra đánh giá với phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực, nếu vấn đề đó rất cần thiết và cấp bách hiện nay ở trường THPT. Do vậy, việc “Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Lịch sử” mà tôi trình bày trong đề tài nầy còn nhiều thiếu sót. Rất mong quí đồng nghiệp nhiệt tình đóng góp để cho đề tài hoàn thiện hơn. Long Hồ, ngày 12 tháng 01 năm 2010 Người thực hiện Nguyễn Minh Chính
- Xem thêm -