Tài liệu Skkn tổ chức dạy học theo nhóm nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn thể dục 2

  • Số trang: 20 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 357 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

PHỤ LỤC Nội dung Trang 2 A. PHẦN MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ: Bước sang thế kỉ XXI nước ta đang trong thời kì hội nhập với thế giới vì vậy muốn đạt được mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực giữ vai trò rất quan trọng đến sự nghiệp phát triển của đất nước. Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Điều 41 có ghi: "Quy định chế độ Giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học". Điều này xuất phát từ ý nghĩa to lớn của Giáo dục thể chất trong nhà trường. Phân môn thể dục cũng với các phân môn khác trong nhà trường, có nhiệm vụ quan trọng trong hình thành ở người học những nhân cách sống của con người lao động mới, trong thời đại mới, mà mục tiêu giáo dục của Đảng ta là đão tạo con người: Tự chủ năng động - sảng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra, tự do được việc làm, lập nghiệp và thăng tiến trong cuộc sống. Qua đó góp phần Xây dụng đất nước giàu mạnh, Xã hội công bằng, Văn minh. Không những thể, Giáo dục thể chất cho thể hệ thanh niên là một mặt của nền giáo dục tiến bộ, là như cầu tất yếu khách quan của sự tồn tại và phát triển của một xã hội Văn minh nói chung và của công cuộc Xây dụng XHCN, bảo Vệ Tổ quốc nói riêng. Phân môn thể đục còn mang lại cho thể hệ trẻ cuộc sống vui tươi, lãnh mạnh và tác động mạnh mẽ đến các mặt giảo dục như: Giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, lao động thẩm mĩ nhằm góp phần đào tạo thế hệ thanh niên Việt Nam thành những người "phát triển cao về trí tuệ, cường trảng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sảng về đạo đức". Đối với học sinh Tiểu học, các em còn nhỏ, hệ Xương chưa phát triển đầy đủ, tổ chức sụn chiếm tỷ lệ cao, cột sống yếu. Hệ hô hấp ở độ tuổi này có đường hô hấp còn hẹp, hệ tuần hoàn hoạt động còn kém (do Tim còn nhỏ). Sự tập trung chú ý chưa bền vững, để phân tán, tính hưng phẩn cao, trí tướng tượng phát triển hơn song còn nghèo nàn, tản mạn, ít có tế chức, tư duy logic chưa cao. Do đó làm thể nào để dạy phân môn thể dục trong trường Tiểu học thực sự thu 3 hút được học sinh tập trung chú ý, tích cực tập luyện và tập luyện có hiệu quả, phù hợp với các em là một vấn đề đòi hỏi cần phải có sự đầu tư, nghiên cứu. Từ thực tế giảng dạy và xuất phát từ mục tiêu của giáo dục nói chung và mục tiêu của môn Thể dục nói riêng. Tôi đã mạnh dạn nghiên cứu, lựa chọn cách “Tổ chức dạy - học theo nhóm nhằm nâng cao chất lượng dạy - học môn Thể dục 2” giúp học sinh học tốt phân môn này. II. CƠ SỞ LÍ LUẬN: Giáo dục thể chất trong nhà trường là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ sự nghiệp TDTT nói chung. Giáo dục thể chất trong nhà trường được cụ thể hoá bằng các nhiệm vụ cụ thể: - Nhiệm vụ bảo vệ và nâng cao sức khoẻ: Thúc đẩy sự phát triển của cơ thể, phát triển một cách hợp lý các tổ chất thể lực và năng lực hoạt động cơ bản, nâng cao sức đề kháng của cơ thể, nâng cao khả năng hoạt động trí óc và thể lực. - Nhiệm vụ giáo dưỡng: Trang bị cho học sinh trí thức, kỹ năng, kĩ xảo vận động cần thiết cho các hoạt động khác nhau trong cuộc sống, rèn luyện nếp sống văn minh, lành mạnh, phát triển hứng thú, hình thành thói quen tự tập luyện. - Nhiệm vụ giáo dục: Góp phần tích cực vào việc hình thành thói quen đạo đức, phát triển trí tuệ, thẩm mĩ, chuẩn bị thể lực cho các em đi vào cuộc sống lao động và sản xuất. - Nhiệm vụ phát hiện và bồi dưỡng nhân tài Thể thao: Phát hiện và bồi dưỡng được những hạt nhân năng khiếu ngay từ bé. Trên cơ sở đó chương trình Thể dục Tiểu học đã đề ra mục tiêu quan trọng nhất đó là cũng cố sức khoẻ và phát triển thể lực cho học sinh. Nội dung chương trình Thế dục lớp 4 nhằm tiếp tục trang bị cho học sinh một số kiến thức, kỹ năng cơ bản về hoạt động, vận động cần thiết trong cuộc sống hằng ngày. Thông qua thực hiện các bài tập, động tác để hình thành kỹ năng, rèn luyện các tư thể vận động cơ bản góp phần giữ gìn và nâng cao sức khoẻ, phát triển toàn diện các tố chất thể lực của học sinh. Bằng các hoạt động tập luyện theo nội dung của môn học xây dụng cho các em một số 4 nền nếp sống học tập, góp phần rèn luyện cho học sinh lối sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, kỷ luật và phẩm chất đạo đức của con người mới. Trong quả trình học tập còn giúp các em biết cách ứng dụng những kỹ năng của thể dục vào hoạt động học tập và sinh hoạt ở trong và ngoài nhà trường. Nội dung học tập Thể dục lớp 5 là sự tiếp nối và cũng cố những kết quả các em đã học tập được ở các lớp 1, 2, 3, 4 và phát triển cao hơn các tế chất thể lực, tiếp tục hĩnh thành các thói quen thường Xuyên tập luyện TDTT. - Cung cấp cho học sinh một số kiến thức và những hiểu biết cơ bản về đội hĩnh đội ngũ; thể dục rèn luyện tư thể và kĩ năng Vận động cơ bản; trò chơi và một số môn thể thao tự chọn phù hợp với khả năng, trĩnh độ và đặc điểm tâm Sinh lí lứa tuổi, giới tính của các em. - Xây dụng cho các em tác phong nhaI1h nhẹn hoạt bát trong tập luyện TDTT, ý thức giữ gìn Vệ sinh và lớp sống lãnh mạnh, vui chơi giải tú có tổ chức và kỷ luật, góp phần giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh, và nhân cách của học sinh. - Tạo điều kiện cho học sinh có thể Vận dụng ở mức nhất định những kiến thức, kĩ năng đã học để tập luyện và vui chơi hằng ngày. Từ đó, để học Sinh có thể lĩnh hội, khám phả và chiếm lĩnh kiến thức thĩ người giáo viên phải thường Xuyên có những biện pháp kích thích học Sinh hứng thú, tự giác, tích cực trong giờ học nhằm giúp học sinh lĩnh hội tối đa kiến thức. Tóm lại: Người giáo viên cần đổi mới phương pháp dạy học để giúp học sinh học tập, tích cực hoạt động, tụ: giác tri thức, phát huy tư duy sảng tạo và các tố chất cho học sinh. II . MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 1. Mục tiêu nghiên cứu: Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm xây dựng nên cách tổ chức dạy – học theo nhóm trong từng tiết dạy cụ thể nhằm nâng cao chất lượng dạy – học môn Thể dục cho học sinh lớp 2, để đáp ứng yêu cầu chương trình Thể dục ở bậc Tiểu học. 5 2. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy - học theo nhóm và nội dung chương trình Thể dục lớp 2. - Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy Thể dục cho học sinh lớp 2 trong trường tiểu học hiện nay. - Tổ chức dạy – học theo nhóm nhằm nâng cao chất lượng dạy – học môn Thể dục cho học sinh lớp 2. 3. Phương pháp nghiên cứu: Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: 3.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp lí luận. Phương pháp này tôi đã sử dụng trong quá trình nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu các cơ sở lí luận về thực hiện chương trình GDTC cho học sinh tiểu học thông qua các: Văn bản; Chỉ thị; Nghị quyết của Đảng, Chính Phủ, Quốc hội, ngành Giáo dục - Đào tạo cùng với chương trình Thể dục lớp 2. 3.2. Phương pháp điều tra phỏng vấn. Phương pháp này tôi đã sử dụng trong quá trình nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng giảng dạy môn Thể dục lớp 2 và tình hình hoạt động GDTC của học sinh lớp 2 hiện nay. Đối tượng mà chúng tôi phỏng vấn điều tra là các giáo viên giảng dạy môn Thể dục trong các trường tiểu học nói chung và giảng dạy môn Thể dục lớp 2 nói riêng. Hình thức phỏng vấn: Trực tiếp 3.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm. Trong sáng kiến kinh nghiệm này, phương pháp thực nghiệm được sử dụng để kiểm nghiệm, đánh giá hiệu quả của việc tổ chức dạy – học theo nhóm nhằm nâng cao chất lượng dạy – học môn Thể dục cho học sinh lớp 2. III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: 6 1. Cơ sở lý luận của dạy - học theo nhóm: Để góp phần thực hiện thành công và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, việc đổi mới phương pháp giảng dạy có vai trò, vị trí rất quan trọng. Giáo dục tiểu học là bậc học nền móng, là tiền đề và cơ sở vững chắc để các em học tiếp các bậc học trên. Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, đặc điểm tâm sinh lý của các em đang ở thời kỳ hình thành và phát triển, do đó việc GDTC lại cần được coi trọng hơn lúc nào hết. Xuất phát từ đặc điểm đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình mà phương pháp giảng dạy cũng được thay đổi hướng “tích cực hoá học sinh”. Đổi mới phương pháp giảng dạy Thể dục cho học sinh tiểu học cần được thực hiện đồng bộ ở các vấn đề sau: - Đổi mới việc sử dụng các phương pháp giảng dạy Thể dục thể thao vào giảng dạy thực hành Thể dục … - Đổi mới cách tổ chức giờ học. 1.1. Đổi mới cách tổ chức giờ học. Về hình thức tổ chức giờ học trước đây cũng như hiện nay, chúng ta có các hình thức cơ bản sau: Tập luyện đồng loạt; Tập luyện lần lượt; Tập luyện theo nhóm (tổ); Tập luyện cá nhân. a). Đặc điểm sử dụng các hình thức tổ chức tập luyện trước đây. Nghiên cứu mục tiêu, yêu cầu và đặc điểm nội dung chương trình Thể dục trước đây, nhất là căn cứ vào đặc điểm phân phối chương trình (do Bộ Giáo dục và đào tạo quy định), trong mỗi tiết học Thể dục trước đây thông thường chỉ thực hiện giảng dạy 1 nội dung, do đó việc sử dụng các hình thức tập luyện mang đặc điểm sau: · Sử dụng hình thức tập luyện đồng loạt có tính chất phổ biến, chiếm khá nhiều thời gian trong 1 giờ học Thể dục. 7 · Tăng cường sử dụng hình thức tập luyện lần lượt (phù hợp nội dung 1 tiết học) để giáo viên có điều kiện quan sát, đánh giá và sửa chữa động tác sai cho từng học sinh. · Hình thức tập luyện theo nhóm rất ít được sử dụng do không có kế hoạch bồi dưỡng cán sự TDTT và giáo viên chưa tin tưởng vào năng lực tiềm tàng của học sinh. · Hình thức tập luyện cá nhân hầu như chưa được quan tâm tới. b). Đặc điểm sử dụng các hình thức tổ chức tập luyện theo yêu cầu đổi mới. Đổi mới chương trình theo chuẩn kiến thức, kỷ năng trong những năm gần đây đã có những bước chuyển biến, thay đổi mạnh mẽ về mục tiêu, yêu cầu, nhất là về nội dung của chương trình và đặc biệt là những định hướng về cách thức thực hiện chương trình. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy thì cách thức sử dụng các hình thức tập luyện cũng phải thay đổi. Cụ thể là: · Sử dụng hình thức tập luyện đồng loạt là điều cần thiết, nhưng trong một giờ học chỉ sử dụng một số lần nhất định khi cần thiết để chiếm ít thời gian trong một giờ học Thể dục. · Hạn chế sử dụng hình thức tập luyện lần lượt (nhất là với từng học sinh) để tạo điều kiện nâng cao khối lượng vận động của học sinh trong giờ học. · Tăng cường sử dụng hình thức tập luyện theo nhóm nhằm nâng cao vai trò cán sự TDTT và tạo tình huống cho học sinh tự quản. · Hình thức tập luyện cá nhân cũng cần được quan tâm sử dụng khi cần thiết. Tóm lại: Xuất phát từ đặc điểm đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình mà phương pháp giảng dạy cũng được thay đổi theo hướng “tích cực hoá học sinh”. Cụ thể là: · Về đổi mới phương pháp giảng dạy. 8 - Không giảng giải, phân tích nhiều, không làm mẫu nhiều lần ® tốn thời gian, ảnh hưởng đến việc tập luyện của học sinh, nhằm giành nhiều thời gian cho tổ chức tập luyện, vui chơi. - Phương pháp tập luyện hoàn chỉnh và lặp lại được ưu tiên sử dụng trong giảng dạy động tác. - Sử dụng các phương pháp trò chơi, thi đấu vào giờ học để tăng hứng thú tập luyện cho học sinh. - Để học sinh tham gia vào đánh giá. - Những nơi có điều kiện nên tổ chức dạy theo nhóm sức khoẻ (học sinh tập theo ý thích). · Về đổi mới cách tổ chức giờ học: Phương pháp phân nhóm, chia tổ cho học sinh tập luyện; tạo cơ hội cho học sinh tự quản được sử dụng phổ biến, tạo tình huống cho học sinh tham gia tổ chức, điều khiển, nhận xét và đánh giá sửa sai cho nhau. - Tập theo nhóm (chia lớp ra thành các nhóm- tổ tập luyện). Việc chia nhóm - tổ tập luyện có ảnh hưởng đáng kể tới sự thay đổi lượng vận động và mật độ của giờ học. Trong tình hình thực tế hiện nay điều kiện sân tập- dụng cụ tập luyện TDTT thì còn thiếu thốn... do đó, cần phân lớp thành nhiều nhóm - tổ tập luyện. Nhằm: + Nâng cao và đảm bảo được mật độ tập luyện, tạo điều kiện cho học sinh đạt được một lượng vận động hợp lý. + GV bao quát và giúp đỡ cho HS được tốt hơn. + Thực hiện nội dung giảng dạy động tác TDTT phù hợp với học sinh (nhiều nội dung trong một giờ học). 9 + Khắc phục tình trạng thiếu thốn về sân tập - dụng cụ. + Nâng cao được trình độ và khả năng tổ chức của giáo viên, đồng thời phát huy được tính tự giác - tích cực của học sinh. + Tạo điều kiện cho học sinh có thể tiến hành tổ chức tập luyện ngoài giờ. - Khi chia tổ tập luyện cần căn cứ vào những yếu tố sau đây: + Khả năng của giáo viên (về tổ chức- quản lý). + Đặc điểm, tính chất giờ học (bài học). + Đặc điểm của học sinh (số lượng, nam- nữ, trình độ sức khoẻ, trình độ chuyên môn...). + Sân tập- dụng cụ. - Việc chia nhóm - tổ tập luyện cần đảm bảo một số điều kiện sau đây: + Cân bằng về trình độ học tập. + Đảm bảo điều kiện thuận lợi cho các em tổ chức tập luyện ngoại khoá (chỗ ở gần nhau). + Cân đối về tuổi, tầm vóc, giới tính... + Lựa chọn đội ngũ cán sự TDTT có năng lực và có uy tín. + Giáo viên phải có chương trình, kế hoạch và nội dung cụ thể để tổ chức bồi dưỡng cán sự TDTT. Thông thường, ta có thể phân thành các nhóm - tổ tập luyện: Nhóm không chuyển đổi và Nhóm chuyển đổi. * Nhóm không chuyển đổi. Lớp học được phân thành một số nhóm, dưới sự chỉ đạo thống nhất của giáo viên, các nhóm tập luyện theo yêu cầu, nội dung và trật tự đã được quy định trước. 10 Ưu điểm của hình thức này là: Giáo viên dễ theo dõi và quản lý việc tập luyện của học sinh, thuận tiện cho việc sắp xếp nội dung và lượng vận động. Nhược điểm chủ yếu của hình thức này là: Yêu cầu sân tập - dụng cụ phục vụ cho tập luyện phải đầy đủ theo số lượng nhóm- tổ tập luyện. * Nhóm chuyển đổi. Lớp học được phân thành một số nhóm, mỗi nhóm tập luyện theo một nội dung khác nhau, sau một thời gian quy định, các nhóm chuyển đổi (nội dung, vị trí) cho nhau. Ưu điểm của hình thức này là: Khắc phục được hiện tượng thiếu thốn sân tập - dụng cụ phục vụ tập luyện TDTT hiện nay, có thể bồi dưỡng và rèn luyện năng lực độc lập, giúp đỡ nhau trong tập luyện. Nhược điểm chủ yếu của hình thức này là: Giáo viên khó chỉ đạo toàn diện, việc sắp xếp nội dung và thời gian tập luyện có khó khăn. Tóm lại: Khi thực hiện phân nhóm - tổ tập luyện theo hình thức này đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị thật chi tiết, xử lý hợp lý mối quan hệ giữa các nhóm tập luyện nội dung mới và nội dung ôn tập, giữa các nội dung khó và dễ, phải bố trí sân tập - dụng cụ thật hợp lý, đảm bảo tính khoa học. Đặc biệt phải biết phát huy vai trò tích cực của cán bộ lớp và cán sự TDTT. Có nhiều phương án tập luyện theo hình thức nhóm chuyển đổi, cụ thể là: - Hai nhóm một lần chuyển đổi. - Ba nhóm hai lần chuyển đổi - Trước phân nhóm, sau hợp nhất. - Trước hợp nhất, sau phân nhóm. IV. THỰC TRẠNG 11 1. Tình hình chung. Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Thể dục chúng ta đều có quan điểm muốn truyền thụ được kiến thức cơ bản có hiệu quả vì vậy việc tổ chức dạy – học theo nhóm có vai trò rất quan trọng. Muốn dạy tốt chương trình đổi mới theo chuẩn kiến thức, kỷ năng ở bậc Tiểu học nói chung và chương trình Thể dục lớp 2 nói riêng, không những giáo viên phải nắm vững nội dung chương trình mà còn phải năng động, sáng tạo để vận dụng linh hoạt những phương pháp, hình thức tổ chức dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh nhằm nâng cao hiệu quả dạy học cho học sinh. Những năm vừa qua đổi mới phương pháp dạy học theo chuẩn kiến thức, kỷ năng môn Thể dục trong nhà trường, trên cơ sở phát huy các mặt tích cực của học sinh để nâng cao chất lượng dạy học từ đó nâng cao hiệu quả giáo dục. Trong quá trình dạy học nói chung và dạy môn Thể dục nói riêng thì người giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn hoạt động của học sinh, mọi học sinh đều hoạt động và học tập để hiểu biết về kinh nghiệm và chiếm lĩnh tri thức, biết vận dụng các tri thức đó trong thực hành ôn luyện. Từ đó tạo cho học sinh tự giác, tích cực và chủ động trong luyện tập, không rập khuôn máy móc, biết tự đánh giá kết quả học tập của mình, đặc biệt là giúp học sinh có niềm tin, niềm vui trong học tập. Đồng thời tạo điều kiện cho học sinh phát huy năng lực sở trường của mình, biết ứng dụng kiến thức mới trong học tập thể dục vào đời sống hàng ngày. Đổi mới phương pháp dạy học theo chuẩn kiến thức, kỷ năng môn Thể dục ở Tiểu học không những loại bỏ phương pháp dạy học truyền thống mà còn phải vận dụng một cách hợp lí mặt tích cực của phương pháp dạy học cũ để tổ chức cho học sinh hoạt động học tập theo kiểu mới, tạo điều kiện cho từng em học sinh được tham gia tập luyện, từ đó tiếp thu kĩ thuật mới và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận động. 12 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học Thể dục trong nhà trường là dạy học dựa vào các hoạt động học tập tích cực, tự giác luyện tập, chủ động sáng tạo của từng học sinh. Qua quá trình giảng dạy khối lớp 2 trong nhà trường và dự giờ đồng nghiệp; qua tìm hiểu sách báo; tham khảo tài liệu; sinh hoạt nhóm – tổ; học chuyên đề, cùng với kinh nghiệm thực tế trong giảng dạy tôi nhận thấy. a. Về phía giáo viên. Trong giờ học hình thức tổ chức một giờ học còn đơn điệu, nghèo nàn, giáo viên còn xem nhẹ hình thức lên lớp, chưa biến hoá nội dung, hình thức luyện tập để gây hứng thú cho học sinh luyện tập. Giáo viên chưa thực sự chú ý đến chất lượng học sinh, sở dĩ như vậy là do mỗi đồng chí giáo viên chưa thấy hết ý nghĩa tác dụng của môn Thế dục đối với học sinh, trong khi đó giáo viên vẫn dạy theo phương pháp truyền thống, giáo viên lên lớp chỉ chú ý đến phần nội dung chứ chưa chú ý vào phần tổ chức hoạt động dạy – học cho học sinh, do đó học sinh luôn bị lệ thuộc vào giáo viên. b. Về phía học sinh: Học sinh Tiểu học nói chung, nhất là ở các lớp đầu cấp (lớp 1 - 2) có khuynh hướng ghi nhớ một cách máy móc, chưa có khả năng phân tích tự giác; khả năng phân tích các hiện tượng trong luyện tập, lao động, sinh hoạt còn kém, nên dễ bị động khi được nhắc nhở, sai bảo, dẫn đến biểu hiện kém tự tin, kém khả năng kiềm chế hành vi, thái độ. Để hình thành kĩ năng học tập theo nhóm cho các em là một vấn đề người giáo viên cần nên làm. Trong giảng dạy TDTT, do tư duy của các em vẫn còn mang tính chất hình ảnh cụ thể, các em sẽ tiếp thu dễ dàng và nhanh chóng hơn đối với các khái niệm có kèm theo minh hoạ (hình ảnh trực quan). Do vậy, khi giảng dạy ngoài việc phân tích - giảng giải kĩ thuật động tác, nhất thiết giáo viên phải chú ý đến hình thức tổ chức dạy học theo nhóm cho các em. 13 Khả năng thể lực, kinh nghiệm cuộc sống chưa có, mọi sinh hoạt của các em còn chịu sự tác động ảnh hưởng trực tiếp của cha mẹ, thầy cô… Do đó các em thường trông chờ vào sự giúp đỡ của người khác khi gặp khó khăn, vì vậy trong các hoạt động giáo dục nói chung (trong đó có GDTC) và trong sinh hoạt, cần có các yêu cầu mới phù hợp với các khả năng của các em để gây dựng cho các em lòng say mê và sáng tạo trong các hoạt động. Đầu năm học 2012 – 2013 tôi được phân công dạy Thể dục lớp 2a1 và 2a2, có tổng số là 40 em học sinh, qua khảo sát (kết quả học tập môn Thể dục lớp 1 – năm học 2011 – 2012) thì kết quả đạt được: Tổng số HS 27 Hoàn thành tốt SL Tỷ lệ 6 em 22.2% Hoàn thành SL Tỷ lệ 12em 33.4% Chưa hoàn thành SL Tỷ Lệ 9 em 33.3% Với mong muốn có được giờ học sôi nổi, nhẹ nhàng, hiệu quả, học sinh phát huy được tính tích cực hoạt động của mình…Tôi trăn trở và mạnh dạn đề xuất biện pháp tổ chức dạy - học theo nhóm. Nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy – học môn Thể dục cho học sinh lớp 2. V. CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC DẠY- HỌC THEO NHÓM NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY- HỌC MÔN THỂ DỤC 2: Từ nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tác dụng, đặc điểm của dạy - học theo nhóm và thông qua quá trình thực tế, tôi đã nhận thấy rằng việc tổ chức dạy – học theo nhóm nhằm nâng cao chất lượng dạy – học môn Thể dục cho học sinh lớp 2 là rất cần thiết, để học sinh tiếp thu và phát triển những năng lực sở trường của cá nhân, đặc biệt tôi quan tâm tới các vấn đề nghiên cứu, tìm tòi tài liệu tham khảo để tìm ra cái mới trong phương pháp tổ chức một giờ học phong phú, gây hứng thú trong rèn luyện cho học sinh để từ đó đạt kết quả cao hơn trong giờ dạy. Tôi xin đưa ra một số giải pháp cụ thể về dạy - học theo nhóm trong chương trình thể dục lớp 2 (học kỳ I) cụ thể như sau: 14 Giải pháp thứ nhất: Giáo viên phải tổ chức cho học sinh học tập theo phương pháp tích cực “lấy học sinh làm trung tâm” thông qua các hình thức dạy - học theo nhóm, giáo viên là người hướng dẫn tổ chức cho học sinh hoạt động, qua những hoạt động tự chiếm lĩnh tri thức học sinh sẽ huy động vốn hiểu biết kinh nghiệm của bản thân vào trong thực hành theo nhóm. + Trong các tiết có phần ôn tập kĩ thuật động tác, giáo viên cần tổ chức nhiều phương pháp như chia tổ, nhóm do cán sự lớp điều khiển hoặc từng em lên điều khiển nhằm phát huy tính tích cực tự giác trong học sinh. + Khi sửa sai kĩ thuật động tác cho học sinh, chọn một số em thực hiện động tác tốt, đúng kĩ thuật làm mẫu cho cả lớp, sửa sai cho bạn. + Thi đua giữa các tổ, nhóm để các em tự nhận xét đánh giá nhằm rút ra ưu, khuyết điểm của bạn và từ đó vận dụng vào thực tế cho mình. + Chọn cá nhân thực hiện động tác chính xác để cho các bạn học tập nhằm kích thích sự cố gắng vươn lên trong học tập. + Phương pháp tổ chức sôi động phù hợp với lượng vận động vừa sức cho học sinh phát huy được năng lực sở trường của từng cá nhân. Giải pháp thứ hai: Trong chương trình Thể dục lớp 2 học kì I gồm 18 tuần có 36 tiết mỗi (tuần học 2 tiết). Dựa vào nội dung các bài học trên, tôi đã tổ chức cho học sinh hoạt động học theo nhóm ở 1 số bài cụ thể như: - Các bài ôn tập và học các động tác mới chia lớp thành các nhóm, tổ để thực hiện theo nhóm chuyển đổi (1 hoặc 2 nhóm, tổ thực hiện nội dung 1, 1 hoặc 2 nhóm, tổ còn lại thực hiện nội dung 2, sau đó đổi nội dung, vị trí tập luyện cho nhau) đồng thời giáo viên quan sát sửa sai cho học sinh. Yêu cầu học sinh tự giác tích cực luyện tập rồi thi đua giữa các tổ với nhau để các tổ quan sát nhận xét lẫn nhau. 15 - Còn các bài có trò chơi tôi đã chia lớp thành các nhóm, tổ để thực hiện theo nhóm không chuyển đổi (tức các nhóm lần lượt thực hiện các nội dung, hết nội dung 1 sang nội dung 2). Đối với các trò chơi thì chia lớp thành 2 đội có số lượng 2 đội đều nhau và cho học sinh chơi. Sau đó thi đua giữa các đội với nhau. Cụ thể là: Bài Hình thức Nội dung dạy- học - Tập hợp hàng dọc, dóng hàng, điểm 2 số. Nhóm không chuyển đổi Thời gian (cho 1 nội dung) ND1: 16p - Chào, báo cáo khi GV nhận lớp - Dàn hàng ngang, dồn hàng Nhóm không ND2: 10p ND1: 16p 3 – Trò chơi “Qua đường lội ”. - Dàn hàng ngang, dồn hàng chuyển đổi Nhóm không ND2: 10p ND1: 16p 4 - Trò chơi "nhanh lên bạn ơi". - Quay phải, quay trái chuyển đổi Nhóm không ND2: 10p ND1: 16p - Trò chơi "nhanh lên bạn ơi". - Quay phải, quay trái. chuyển đổi Nhóm ND2: 10p - Học động tác vươn thở, động tác tay - Học động tác chân. chuyển đổi Nhóm 5 6 7 8 9 - Ôn 3 động tác: vươn thở, tay, chân. - Động tác lườn chuyển đổi Nhóm không - Trò chơi “Kéo cưa lừa xẻ”. - Chuyển đội hình hàng dọc thành đội chuyển đổi hình vòng tròn và ngược lại. Nhóm - Ôn 4 động tác: vươn thở, tay, chân, chuyển đổi 13p/ 1ND 13p/ 1ND ND1: 16p ND2: 10p 13p/ 1ND lườn. - Chuyển đội hình hàng ngang thành 10 13 đội hình vòng tròn và ngược lại. - Học động tác bụng và ôn 5 động tác vươn thở, tay, chân, lườn, bụng. - Học động tác toàn thân 16 Nhóm chuyển đổi Nhóm 13p/ 1ND 13p/ 1ND 14 15 17 - Đi đều. - Học động tác nhảy chuyển đổi Nhóm không ND1: 16p - Trò chơi “Bịt mắt bắt dê”. - Học động tác điều hoà. chuyển đổi Nhóm không ND2: 10p ND1: 16p chuyển đổi ND2: 10p - Trò chơi “Bịt mắt bắt dê”. - Ôn bài thể dục phát triển chung - Điểm số 1 - 2, 1 – 2 theo đội hình hàng dọc. - Ôn bài thể dục phát triển chung 18 - Điểm số 1 - 2, 1 – 2 theo đội hình hàng ngang. - Điểm số 1 - 2, 1 – 2 theo đội hình 20 21, 22 23 25 26 28,29 30 31 32 33 vòng tròn Nhóm chuyển đổi Nhóm chuyển đổi Nhóm không chuyển đổi 13p/ 1ND 13p/ 1ND ND1: 16p - Trò chơi “Bỏ khăn”. - Đi đều Nhóm không ND2: 10p ND1: 16p - Trò chơi “Bỏ khăn”. - Đi đều. chuyển đổi Nhóm không ND2: 10p ND1: 16p - Trò chơi “Nhóm ba, nhóm bảy” - Ôn trò chơi “Bỏ khăn” và “Nhóm ba, chuyển đổi Nhóm không ND2: 10p 13 phút cho 1 chuyển đổi trò chơi ND1: 16p nhóm bảy” - Điểm số 1 - 2, 1 – 2 theo đội hình vòng tròn. Nhóm không chuyển đổi - Trò chơi “Bịt mắt bắt dê ”. - Đi đều. Nhóm không ND2: 10p ND1: 16p - Trò chơi “Vòng tròn” - Bài thể dục phát triển chung chuyển đổi Nhóm không ND2: 10p ND1: 16p - Trò chơi “ Vòng tròn”. - Trò chơi “Vòng tròn” và “nhóm ba, chuyển đổi Nhóm không ND2: 10p 13 phút cho 1 nhóm bảy”. Trò chơi “ Nhanh lên bạn ơi!” và chuyển đổi Nhóm không trò chơi 13 phút cho 1 “Vòng tròn”. Trò chơi “Bịt mắt bắt dê” và “nhóm chuyển đổi Nhóm không trò chơi 13 phút cho 1 17 ba, nhóm bảy”. 34 Trò chơi “Vòng tròn” và “Bỏ khăn”. Trò chơi “Vòng tròn” và “Nhanh lên 35 chuyển đổi Nhóm không trò chơi 13 phút cho 1 chuyển đổi Nhóm không trò chơi 13 phút cho 1 chuyển đổi trò chơi bạn ơi!”. VI. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC: Qua quá trình áp dụng tổ chức dạy – học theo nhóm nhằm nâng cao chất lượng dạy – học môn Thể dục cho học sinh lớp 2 đã chuyển biến rõ rệt. Căn cứ vào các tiêu chí đánh giá kết quả học tập môn Thể dục cho học sinh lớp 2 và theo quy định chung của nhà trường về đánh giá kết quả học tập môn Thể dục ở học kỳ I, năm học 2012 – 2013 là: Tổng số HS Hoàn thành tốt SL 18em 27 Tỷ lệ 66.6% Hoàn thành SL 9em Tỷ lệ 33.4% Chưa hoàn thành SL 0 em Tỷ Lệ 0% Nhìn vào bảng thống kê trên chúng ta thấy chất lượng học tập môn Thể dục của học sinh đã nâng lên một cách rõ rệt. Với những hình thức tổ chức dạy – học theo nhóm nhằm nâng cao chất lượng dạy – học môn Thể dục cho học sinh lớp 2 được bản thân tôi và các giáo viên trong trường áp dụng cho các khối, lớp thì tôi tin chắc rằng cuối năm học số học sinh khối 2 sẽ đạt kết quả tốt nhất. VII. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT. 1. Kết luận Qua quá trình tìm hiểu đề tài tôi nhận thấy việc tổ chức hình thức dạy – học theo nhóm nhằm nâng cao chất lượng dạy – học môn Thể dục cho học sinh lớp 2 là cần thiết và phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học. Bởi qua quá trình 18 thực hiện đã mang lại kết quả cao giúp học sinh luyện tập một cách tự giác, tích cực và phát huy được năng lực của học sinh để đạt kết quả tốt hơn. Phương pháp đổi mới người giáo viên chỉ là người hướng dẫn với phương pháp dạy học theo nhóm học sinh sẽ huy động được năng lực của bản thân để luyện tập đạt kết quả tốt hơn nhằm phát triển đầy đủ các tố chất thể lực, góp phần tạo điều kiện để bảo vệ và nâng cao sức khoẻ, bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về con người, về vệ sinh cơ thể, môi trường, xã hội, tạo nên môi trường hoạt động phù hợp nhằm gây được nề nếp học tập vui chơi, lành mạnh, hoạt bát để học sinh lĩnh hội kiến thức được tốt hơn. 2. Đề xuất. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa hội cha mẹ phụ huynh học sinh, tổng phụ trách đội và giáo viên chuyên đề thể dục để trao đổi thống nhất các nội dung thực hành, giao lưu học hỏi nhằm rút ra kinh nghiệm hỗ trợ cho giáo viên giảng dạy trong quá trình dạy – học. Ban giám hiệu, hội cha mẹ phụ huynh học sinh, tạo điều kiện mua sắm thêm những đồ dùng cần thiết để phục vụ cho môn học. Trên đây là một số kinh nghiệm mà bản thân tôi đã rút ra từ thực tế giảng dạy môn thể dục lớp 2 với một thời gian ngắn đề tài hình thành trong điều kiện còn thiếu thốn tư liệu. Là một giáo viên còn hạn chế kinh nghiệm nên không tránh khỏi những sơ suất, khiếm khuyết rất mong được sự góp ý chân thành, bổ sung của cô giáo, thầy giáo và đồng nghiệp để đề tài của tôi đạt hiệu quả cao hơn trong sự nghiệp giáo dục nước nhà. 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Các văn kiện của Đảng và Chính phủ, Quốc hội, của Bộ GD & ĐT. 2. Bộ GD & ĐT – Chương trình thể dục ( bậc tiểu học năm 2001). 3. Trần Đồng Lâm – Thể dục 1( SGV) - NXB Giáo dục – 2002. 4. Trần Đồng Lâm (Chủ biên) – Trần Đình Thuận - Thể dục 2 (SGV)- NXB Giáo dục – Năm 2004. 20 5. Bộ GD & ĐT – Tài liệu bồi dưỡng GV tiểu học – Môn Thể dục. 21
- Xem thêm -