Tài liệu Skkn phương pháp dạy kiểu bài về từ loại tiếng việt

  • Số trang: 32 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 202 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 20010 tài liệu

Mô tả:

PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO XUÂN TRƯỜNG TRƯỜNG THCS XUÂN TRƯỜNG *** SÁNG KIẾN DỰ THI GIÁO VIÊN GIỎI CẤP TỈNH BÁO CÁO SÁNG KIẾN PHƯƠNG PHÁP DẠY KIỂU BÀI VỀ TỪ LOẠI TIẾNG VIỆT Tác giả : Nguyễn Thị Thao Chúc Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm Ngữ văn Chức vụ: Giáo viên - Tổ phó Tổ Khoa học xã hội Nơi công tác: Trường THCS Xuân Trường, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Xuân Trường, ngày 25 tháng 4 năm 2009 THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: Phương pháp dạy kiểu bài về từ loại Tiếng Việt. 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy môn Ngữ văn, phần tiếng Việt THCS. 3. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ ngày 25/8/2007 đến ngày 20/4/2009. 4. Tác giả: - Họ và tên: Nguyễn Thị Thao Chúc. - Năm sinh: 1975. - Nơi thường trú: Thị trấn Xuân Trường - huyện Xuân Trường - tỉnh Nam Định. - Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm Ngữ văn. - Chức vụ: Giáo viên - Tổ phó tổ Khoa học xã hội. - Nơi công tác: Trường THCS Xuân Trường - huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định. - Địa chỉ liên hệ: Trường THCS Xuân Trường - huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định. - Điện thoại: NR: 03503.753.073 - DĐ: 0917.305.657 5. Đơn vị áp dụng sáng kiến: - Tên đơn vị: Trường THCS Xuân Trường - huyện Xuân Trường - tỉnh Nam Định. - Địa chỉ: Tổ 18 - Thị trấn Xuân Trường - huyện Xuân Trường - tỉnh Nam Định. - Điện thoại: 03503.886.302. I. ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH NẢY SINH SÁNG KIẾN: Trong thực tế cuộc sống, ngôn ngữ là phương tiện tư duy của cộng đồng xã hội. Trong ngôn ngữ, thì từ ngữ được xem là vật liệu kiến trúc cơ bản của tiếng nói. Tri thức về ngôn ngữ, nói gọn lại, gồm một pho từ điển và một cuốn ngữ pháp. Từ ngữ chính là bộ ký hiệu con người đặt ra để mã hóa sự vật, định danh sự vật. Con người nhận thức sự vật đến đâu thì ghi nhận lại nhận thức ấy trong từ ngữ. Nhiều quốc gia phải dựng tiếng của nước khác trong nhà trường vì tiếng nói của họ chưa đủ các thuật ngữ chuyên dùng. Tiếng Việt sở dĩ được dùng trong nhà trường, trong hành chính quốc gia vì nó đã được phát triển trong bao nhiêu năm, có sự đóng góp của cộng đồng người Việt qua nhiều thế hệ, đặc biệt quan trọng là giới tri thức. Nói cách khác, vốn từ ngữ của cộng đồng phản chiếu năng lực hiểu biết hiện thực của cộng đồng đó, phản ánh năng lực tư duy, năng lực trí tuệ của cộng đồng. Từ ngữ còn là những hiểu biết về dân tộc. ý thức, bản sắc dân tộc được biểu hiện ở ngôn ngữ, ở hệ thống từ ngữ. Rất nhiều từ ngữ gắn bó với đời sống dân tộc không tìm thấy có đơn vị tương đương trong tiếng nước ngoài ví dụ như các từ "nhà", "mình", "non nước". Chỉ có sử dụng ngôn ngữ dân tộc mới nói hết được tâm lý dân tộc, cách cảm, cách nghĩ của người Việt mình. Học tiếng Việt chính là một cách tốt nhất bồi dưỡng tinh thần Việt, tinh thần và bản sắc Việt. Vốn từ ngữ cũng thể hiện năng lực biểu đạt, cảm nghĩ. Ai cũng muốn lời nói của mình giàu sức thuyết phục. Điều kiện để nói hay là phải giàu có vốn từ ngữ cũng như muốn ăn mặc đẹp thì phải có nhiều quần áo, nhiều kiểu dáng, màu sắc khác nhau. Từ ngữ là phương tiện giao tiếp xã hội quan trọng nhất. Người có vốn từ phong phú sẽ dễ dàng tìm được cách nói tốt nhất. Học từ ngữ là nhằm cung cấp cho các em tri thức về từ ngữ để nâng cao năng lực dựng từ của trẻ. Học từ ngữ trang bị cho học sinh những tri thức cơ bản về hệ thống từ vựng Tiếng Việt và các quy tắc lựa chọn, sử dụng từ ngữ Tiếng Việt; làm phong phú vốn từ của học sinh; làm tích cực hóa vốn từ của học sinh; làm chuẩn hóa vốn từ của học sinh. Các em học sinh sẽ biết sử dụng từ đúng sắc thái biểu cảm và phong cách ngôn ngữ. Các từ trong một ngôn ngữ có số lượng rất lớn. Hơn nữa đó còn là một hệ thống mở, từ mới thường xuyên được hình thành, các từ ngữ cũ dần bị đào thải nếu không còn cần thiết cho nhu cầu tư duy và giao tiếp của con người. Tuy số lượng rất lớn, nhưng mỗi từ trong kho từ vựng của một ngôn ngữ không phải hoàn toàn khác biệt với những từ ngữ khác. Trái lại giữa chúng thường có những điểm giống nhau về một phương diện nào đó. Những điểm giống nhau như vậy là cơ sở để tập hợp các từ thành các loại, các lớp, các nhóm. Có những từ giống nhau (toàn bộ hay gần toàn bộ) về hình thức âm thanh. Chúng hợp thành các từ đồng âm, hoặc gần âm. Các từ có thể giống nhau ở bình diện cấu tạo. Chúng được tạo ra theo cùng một mô hình, một kiểu. Đó là các từ cùng một kiểu cấu tạo. Trong Tiếng Việt dựa vào kiểu cấu tạo, các từ được phân định thành từ đơn, từ ghép (từ ghép đẳng lập, từ ghép chính phụ) từ láy (từ láy hoàn toàn, từ láy bộ phận âm đầu, từ láy bộ phận vần...) Các từ ngữ có thể có điểm giống nhau về nghĩa, từ đó hình thành các hệ thống ngữ nghĩa với các mức lớn nhỏ khác nhau: Các từ cùng trường nghĩa, các từ gần nghĩa, các từ đồng nghĩa, các từ trái nghĩa. Các từ còn có thể có những điểm giống nhau. Xét theo các phương diện khác như: chức năng, nguồn gốc, phạm vi sử dụng, đặc điểm phong cách. Chúng hợp thành các lớp từ xếp theo nguồn gốc (ví dụ: từ gốc Việt, từ gốc Hán, từ gốc Ấn- Âu), các lớp từ nghề nghiệp, các lớp từ địa phương, các lớp từ thuộc các phong cách chức năng khác nhau. Như vậy, toàn bộ các từ trong một ngôn ngữ tạo nên các loại, các nhóm, các hệ thống khác nhau xét theo các phương diện khác nhau. Ngoài các phương diện trên, các từ còn được xem xét ở phương diện đặc điểm ngữ pháp. Các từ cú những đặc điểm ngữ pháp giống nhau tạo nên một từ loại, mặc dù chúng có thể khác nhau về âm thanh và kiểu cấu tạo, hay khác nhau về ý nghĩa từ vựng, khác nhau về nguồn gốc, phạm vi sử dụng, đặc điểm phong cách.... Từ đó có thể xác định: Từ loại là lớp từ có sự giống nhau về các đặc điểm ngữ pháp. Muốn phân định được từ loại thì cần xác định đặc điểm ngữ pháp của từ. Những tiêu chí phân định từ loại cũng khá rõ ràng. Trước hết đó là tiêu chí ý nghĩa ngữ pháp khái quát. Đây là loại ý nghĩa phạm trù, có mức độ khái quát cao, do đó là ý nghĩa chung cho các từ thuộc cùng một từ loại. Ví dụ: - Các từ: năm, bảy, bốn mốt, vạn, mấy, vài.... có ý nghĩa khái quát chỉ số lượng. - Các từ: ăn, đi, học tập, đấu tranh.... có ý nghĩa khái quát chung là chỉ họat động. Trong một phạm trù ý nghĩa khái quát có các mức độ khái quát thấp hơn, hẹp hơn. Các ý nghĩa khái quát thấp hơn là tiêu chí để xác định các tiểu loại của từ. Tiêu chí ý nghĩa ngữ pháp là một tiêu chí quan trọng vì ý nghĩa ngữ pháp của từ chi phối những đặc điểm trong hoạt động ngữ pháp của từ. Nhưng chỉ căn cứ vào tiêu chí ngữ pháp thì chưa đủ. Ngoài ra ta còn cần phải sử dụng các tiêu chí về hình thức ngữ pháp. Hình thức ngữ pháp của từ Tiếng Việt không bộc lộ trong bản thân từ. Từ tiếng Việt chỉ bộc lộ các đặc điểm ngữ pháp trong hoạt động cấu tạo các đơn vị lớn hơn như cụm từ và câu. Vì vậy, khi xem xét phương diện hình thức ngữ pháp của từ Tiếng Việt, cần phải dựa vào khả năng đảm nhiệm các thành phần câu. Tiêu chí về khả năng kết hợp của từ được công nhận là một tiêu chí quan trọng trong việc phân định từ loại. Ví dụ: Các từ: người, con, cái, nhà máy, tư tưởng.... đều có khả năng kết hợp như sau: -Với các từ chỉ lượng (sáu, bảy, vài, mươi....) ở phía trước: vài người, mươi cái, sáu nhà máy.... - Với các từ chỉ định (này, kia, ấy, nọ, đó...) ở phía sau: người này, con ấy, nhà máy kia, tư tưởng nọ.... Khả năng kết hợp (ở trước và sau) với các cụm từ, có những từ loại không thể có khả năng đó mà chỉ có khả năng đóng vai trị thành tố phụ. Lại có những từ loại không thể làm thành tố chính lẫn vai trò thành tố phụ mà chỉ làm nhiệm vụ nối kết các thành tố nằm ngoài cấu tạo của cụm từ. Căn cứ vào những khả năng khác nhau đó có thể phân định các từ loại khác nhau. Như thế, tiêu chí khả năng kết hợp của từ đó được nhìn nhận theo khả năng cấu tạo cụm từ và khả năng đảm nhiệm thành tố chính hay thành tố phụ của cụm từ, hơn nữa, đó là khả năng cấu tạo loại cụm từ nào. Ngoài ra cần xem xét khả năng cấu tạo câu, đảm nhiệm các thành phần câu. Đây cũng là một phương diện bộc lộ đặc điểm và bản chất ngữ pháp của các từ trong tiếng Việt. Hoạt động cấu tạo câu chủ yếu được xem xét ở năng lực đảm nhiệm vai trò của hai thành phần chính (chủ ngữ và vị ngữ) trong nòng cốt câu bình thường. Căn cứ vào đó có thể phân biệt những từ có thể đảm nhiệm vai trò các thành phần chính (danh từ, động từ, tính từ, đại từ ....) và các từ chỉ đảm nhiệm được vai trò của các thành phần phụ (số từ, phụ từ) hoặc chỉ đảm nhiệm vai trò nối kết các thành phần câu (quan hệ từ). Ngoài ra còn có một từ loại không đảm nhiệm vai trò cấu tạo một thành phần nào trong cấu trúc ngữ pháp cơ bản của câu mà chỉ hình thái hóa ý nghĩa của câu (tình thái từ). Từ tầm quan trọng, ý nghĩa thực tiễn và những cơ sở khoa học như đã nêu trên về từ loại mà chương trình Ngữ Văn THCS đã đưa kiến thức về từ loại vào để giảng dạy cho học sinh ở các khối lớp 6,7,8 giúp các em nắm chắc kiến thức về từ loại, biết sử dụng một cách hiệu quả trong ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết. Cụ thể: Tổng số tiết học về từ loại trong chương trình Ngữ văn THCS là 10 tiết trong đó lớp 6: 6 tiết, lớp 7: 2 tiết, lớp 8: 2 tiết. Ở chương trình Ngữ văn lớp 9, nội dung về từ loại sẽ được ôn tập lại trong khoảng 1 tiết của bài tổng kết về ngữ pháp. Cũng xuất phát từ chính những thực tế trên mà bản thân tôi đã suy nghĩ, đúc kết và hình thành nên sáng kiến kinh nghiệm: "Phương pháp dạy kiểu bài từ loại Tiếng Việt " *************** II/ THỰC TRẠNG VỀ VIỆC DẠY VÀ HỌC TỪ LOẠI TIẾNG VIỆT. Với sáng kiến kinh nghiệm này, tôi cũng muốn trình bày về thực trạng trước khi hình thành phương pháp giảng dạy ở hai phương diện: 1. Thực trạng học tập của học sinh về từ loại: Ở chương trình tiếng Việt THCS, trước khi tìm hiểu về từ loại tiếng Việt, học sinh đã được học khái niệm về từ, cấu tạo từ, các tiểu loại về từ. Cũng trong những tiết học về từ nói chung đó, các em cũng nắm được kiến thức về nghĩa của từ. Đánh giá một cách chung nhất, học sinh đã nhận thức được: Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ dựng để đặt câu. Như vậy, tìm hiểu và học tập về ngôn ngữ tiếng Việt sẽ phải bắt đầu từ "từ". Nắm chắc kiến thức về từ cũng có nghĩa là đã khẳng định được vấn đề nền tảng trong ngôn ngữ tiếng Việt. Tuy nhiên, khi tiếp cận với kiến thức về từ loại tiếng Việt, học sinh cũng gặp những khó khăn, hạn chế riêng. Trước hết đó là khả năng phân biệt ranh giới giữa các từ loại nhất là các từ loại thuộc nhóm "hư từ". Đây là một thực tế vì trong Việt ngữ học, có trường hợp đối với một số nhóm từ nào đó, sự nhận định về tính chất ngữ pháp - ngữ nghĩa của chúng là nhất trí nhưng sự phân định từ loại và thuật ngữ từ loại vẫn chưa có sự nhất trí. Ví dụ: Trường hợp 2 nhóm từ sau: + Nhóm thứ nhất: Gồm các từ như: những, có, chính, đích, ngay... + Nhóm thứ hai: Gồm các từ: à, ư, nhỉ, nhé, chứ, đi, thay... Hai nhóm này đều có chung đặc tính ngữ pháp, ngữ nghĩa như sau: - Không làm thành phần câu. - Không làm thành phần của cụm từ. - Không làm phương tiện liên kết các thành phần của cụm từ hoặc thành phần câu. - Biểu thị mối quan hệ giữa người nói với điều được nói đến ở trong câu. Tuy nhiên, hai nhóm từ này cũng có những đặc điểm khác nhau: + Nhóm 1: Có tác dụng nhấn mạnh ý nghĩa của một từ ngữ trong câu. + Nhóm 2: Các từ này lại liên quan đến ý nghĩa của cả câu Đối với 2 nhóm từ này cũng có 2 cách phân loại khác nhau. Cách phân loại thứ nhất: Gộp chung thành một từ loại và từ loại đó chia thành 2 tiểu loại, mỗi nhóm là một tiểu loại. Ví dụ: * Quan điểm của tác giả Đinh Văn Đức Trợ từ Tình thái từ Tiểu từ * Quan điểm của tác giả Nguyễn Minh Thuyết Trợ từ đứng trước Trợ từ Tiểu từ đứng sau ......... Cách phân loại thứ 2: Không gộp hai nhóm trên thành một từ loại và xem mỗi nhóm là một từ loại riêng. Đây chính là giải pháp của chương trình mới. Nhóm thứ nhất gọi là "trợ từ", nhóm thứ hai gọi là "tình thái từ". Thực ra thì cả hai cách phân loại trên đều có thể chấp nhận được. Điều quan trọng là chỗ giúp học sinh nhận thức, sử dụng các từ thuộc lớp từ loại này. Như vậy, để giúp học sinh phân biệt, nhận thức và sử dụng đúng từ loại tiếng Việt đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu, tìm hiểu để có phương pháp cụ thể, hữu ích cho thực trạng này. Một vấn đề trong thực tế học tập của học sinh về từ loại trước khi hình thành sáng kiến này, tôi nhận thấy, đó là khả năng vận dụng từ loại tiếng Việt trong ngôn ngữ đời sống và ngôn ngữ văn chương của các em. Vốn dĩ, ngôn ngữ tiếng Việt là thứ ngôn ngữ đa dạng, phong phú cả về hình thức diễn đạt lẫn ý nghĩa. Lứa tuổi học sinh THCS còn đang là lứa tuổi cần được học hỏi những kiến thức cơ bản để hoàn thiện về ngôn ngữ tiếng Việt của mình. Khả năng vận dụng từ loại tiếng Việt của các em còn có nhiều hạn chế. Cụ thể: Các từ loại với các tiểu loại và khả năng kết hợp khác nhau nên giữ chức vụ ngữ pháp khác nhau trong câu. Có những từ loại đã được định sẵn về chức vụ ngữ pháp như danh từ, động từ, tính từ, số từ... Nhưng cũng có những từ loại chức năng ngữ pháp có thể thay đổi như: đại từ, thán từ... bởi vậy mà học sinh đôi khi còn nhầm lần về khả năng kết hợp, chức vụ ngữ pháp của từ loại trong quá trình đặt câu dẫn đến hiệu quả giao tiếp của ngôn ngữ chưa cao mà cụ thể hơn là ảnh hưởng đến chất lượng học tập môn Ngữ văn. Hạn chế nữa của việc sử dụng từ loại tiếng Việt của học sinh còn ở chỗ: các em lúng túng khi sử dụng từ loại trong ngôn ngữ theo mục đích giao tiếp (mục đích nói). Hạn chế này đã làm giảm khả năng tìm hiểu ngôn ngữ tiếng Việt, tìm hiểu về sự phong phú đa dạng về tiếng Việt. Nguyên nhân chính là do các em chưa có kiến thức khái quát, chưa có sự so sánh đối chiếu về vị trí vai trò của các từ loại trong hệ thống từ loại tiếng Việt. Ví dụ: Khi đặt câu với mục đích để hỏi, học sinh chỉ nghĩ đến kiểu câu nghi vấn truyền thống mà trong câu cú sử dụng các từ nghi vấn để tạo thành cấu trúc nghi vấn như: sao, gì, nào, có, không, bao nhiêu... - Sao An không đi học? Đây là nhóm từ có chức năng chuyên biệt trong ngôn ngữ tiếng Việt. Trên thực tế còn có một từ loại nữa cùng có khả năng tạo câu nghi vấn đó là tình thái từ như các từ: à, ư, hả, hử, chứ, chăng... - An không đi học ư? Hoặc với chức năng để bộc lộ cảm xúc trong tiếng Việt đã có một từ loại mang tính chuyên biệt đó là "thán từ". Nhưng cũng có từ loại khác đảm nhiệm chức năng này: là tình thái từ như các từ: thay, sao, ạ, nhé... Như vậy, nếu không nắm được kiến thức khái quát về hệ thống từ loại trong tiếng Việt, các em sẽ làm mất đi khả năng đặc biệt của ngôn ngữ tiếng Việt. Đó là: sử dụng nhiều hình thức diễn đạt khác nhau để cùng đạt một mục đích giao tiếp, một khả năng tạo nên sự phong phú đa dạng đặc biệt của tiếng Việt. 2. Thực trạng việc giảng dạy các tiết học về từ loại tiếng Việt của giáo viên: Bên cạnh việc học tập về từ loại của học sinh thì thực tế giảng dạy của giáo viên cũng là một vấn đề cần bàn đến. Nếu đem so sánh với phân môn Văn học và phân môn Tập làm văn thì phân môn tiếng Việt luôn tạo cho giáo viên tâm lý thoải mái vì dung lượng kiến thức, bố cục bài dạy vừa phải, mạch lạc. Tuy nhiên cũng xuất phát từ thực tế này, giáo viên dễ nảy sinh tư tưởng chủ quan trong việc tìm hiểu về kiến thức cũng như chuẩn bị về phương pháp giảng dạy khiến những tiết học này dễ rơi vào tình trạng đơn giản đến mức đơn điệu, không tạo được cảm giác hứng thú cho cả người dạy và người học. Và cũng xuất phát từ tư tưởng trên mà mỗi giờ học về từ loại có thể bị giảm bớt tính thực hành, sự vận dụng hữu ích vốn từ vào trong thực tế ngôn ngữ của học sinh. Giáo viên cũng chưa đưa vào bài dạy của mình phần liên hệ mở rộng nên kiến thức về từ loại được truyền đạt cho học sinh chưa sâu sắc. Bởi vậy chưa thực sự phát huy khả năng sáng tạo của chính học sinh trong việc sử dụng từ loại tiếng Việt. Ví dụ: - Dạy bài tình thái từ có thể liên hệ mở rộng đến bài thán từ, đến các kiểu câu chia theo mục đích nói như câu trần thuật bộc lộ cảm xúc, câu nghi vấn... - Sau khoảng 2 - 3 bài về từ loại có thể cho học sinh thực hành bài tập sáng tạo viết đoạn văn có sử dụng các từ loại đó, vừa là để củng cố kiến thức vừa giúp học sinh sáng tạo từ các kiến thức đã học. - Giáo viên cũng có thể tăng cường tính tích hợp với các văn bản, kiến thức tập làm văn ở các bài tập phát hiện, bài tập sáng tạo theo từng phương thức biểu đạt... Những thực trạng của việc dạy và học về từ loại tiếng Việt như đã nêu trên cũng trở thành một trong những nguyên nhân thúc đẩy tôi đưa ra các giải pháp sáng kiến để giảm bớt đến mức thấp nhất những hạn chế trong việc dạy và học từ loại, giúp giáo viên có những giờ dạy thành công, học sinh có những giờ học sôi nổi, hào hứng và nắm chắc kiến thức, giúp các em chủ động vận dụng từ loại vào trong ngôn ngữ giao tiếp của mình để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất. ************** III. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN: 1. Định hướng chung a. Vấn đề về nội dung: Do đặc thù của bộ môn Tiếng Việt vừa là bộ môn khoa học vừa là một môn học công cụ, bởi vậy trước khi giáo viên hình thành phương pháp giảng dạy thì cần phải quan tâm đặc biệt đến nội dung giảng dạy, kiến thức để giảng dạy. Với từ loại tiếng Việt, từ rất nhiều năm nay đã được nghiên cứu và xây dựng thành một hệ thống tương đối hoàn chỉnh. Tuy nhiên, do nhu cầu thực tế của sử dụng từ loại trong ngôn ngữ tiếng Việt, nhìn nhận đánh giá từ loại ở quy mô, mức độ khác nhau, sự phân chia cũng có một số điều chỉnh nhỏ. Mặc dù vậy, sự phân chia này cũng khá ổn định. Trước hết, giáo viên cần phải nắm rõ về hệ thống từ loại trong Tiếng Việt. a1: Sự phân biệt thực từ và hư từ: Nhìn một cách tổng quát, các từ của Tiếng Việt trước hết được phân biệt theo các đặc điểm về ý nghĩa ngữ pháp và các đặc điểm hình thức trong hoạt động ngữ pháp thành hai phạm trù lớn là: thực từ và hư từ. * Thực từ: - Về các đặc điểm cơ bản: Thực từ có ý nghĩa từ vựng. Nghĩa của thực từ gắn với chức năng nhận biết và định danh các đối tượng của hiện thực: Có thể dựng thực từ để gọi tên các sự vật, hoạt động, trạng thái, tính chất.... Ví dụ: nhà, người, cười, vĩ đại.... - Thực từ có thể đảm nhiệm vai trò của thành tố phụ và cả vai trò của thành tố chính trong cấu tạo của cụm từ và của câu. * Hư từ: - Hư từ cũng có ý nghĩa nhưng nghĩa của hư từ không thể liên hệ tới một đối tượng nào trong thực tế. Do đó, hư từ không thể thực hiện được chức năng định danh. Hư từ chỉ làm dấu hiệu bổ sung một số ý nghĩa ngữ pháp cho thực từ. Ví dụ: Nó lại đến! (lại là hư từ) Từ lại làm dấu hiệu bổ sung ý nghĩa tái diễn tương tự của hành động cho từ đến. - Hư từ không thể đảm nhiệm vai trò thành phần chính trong cấu tạo của cụm từ và của câu. Hư từ chỉ có vai trò: + Hoặc đi kèm với thực từ làm thành tố phụ bổ sung ý nghĩa nào đó cho thực từ. Ví dụ: Mỗi người sẽ đọc để hiểu. + Hoặc dựng biểu thị quan hệ giữa các từ, các cụm từ, các câu. Ví dụ: Tôi và người bạn đang đọc quyển sách của nó. + Hoặc dùng làm dấu hiệu cho các ý nghĩa tình thái: Ví dụ: Ơi! Trời lại giông gió rồi đấy! Tuy có sự phân biệt thực từ và hư từ nhưng cả hai đều cần thiết và quan trọng đối với hoạt động ngôn ngữ, nhất là Tiếng Việt, một ngôn ngữ dựng hư từ làm một trong những phương thức ngữ pháp chủ yếu. Trong hoạt động nhận thức tư duy và giao tiếp bằng ngôn ngữ không thể không có thực từ, cũng không thể không có hư từ. Số lượng hư từ thường ít hơn thực từ nhưng hư từ lại có tần số sử dụng cao. Trong lịch sử phát triển của một ngôn ngữ, cũng như trong thực tế sử dụng ngôn ngữ hàng ngày có thể diễn ra sự chuyển hóa của một từ, từ thực từ sang hư từ và có thể ngược lại. Ví dụ: Trong Truyện Kiều từ "rằng" còn được dựng là một thực từ (động từ) có ý nghĩa là "nói": "Sinh rằng chị cũng nực cười, Khéo dư nước mắt khúc người đời xưa" Ngày nay từ "rằng" chỉ còn được sử dụng là một hư từ (Em nói rằng nó không đến.) Ngược lại từ ới vốn là một hư từ có thể dựng như một động từ chỉ hoạt động gọi, báo tin ( Có việc gì, anh cứ ới tôi một tiếng!). Tóm lại: Tuy có sự phân biệt thực từ và hư từ nhưng có thể diễn ra sự chuyển hóa linh hoạt trong sử dụng. Nhìn tổng thể, hệ thống từ loại Tiếng Việt có thể biểu hiện qua sơ đồ sau: Thực từ Danh từ Số từ Động từ Tính từ Hư từ Đại từ Phó từ Lượng Chỉ từ từ Q.hệ từ Trợ từ Thán từ Tình thái từ Một vấn đề nữa về nội dung mà khi giảng dạy kiểu bài này, mỗi giáo viên cần phải quan tâm đó là những tiêu chí ý nghĩa ngữ pháp khái quát và đặc điểm về hình thức ngữ pháp như đã nêu ở trên. Cụ thể, với bất kỳ từ loại nào, giáo viên cũng cần quan tâm và hướng dẫn học sinh quan tâm đến: 1. Đặc điểm cơ bản của từ ngữ. 2. Các tiểu loại cơ bản. Về đặc điểm cơ bản của từ ngữ, giáo viên giúp học sinh xác định được chức năng của từng từ loại, khả năng kết hợp của từng từ loại đó, chức vụ ngữ pháp của từng từ loại, khi tồn tại, khi xuất hiện trong cụm từ hoặc trong câu văn. Ví dụ: Đặc điểm của số từ: - Số từ dựng để chỉ số lượng hay thứ tự sự vật. - Có khả năng kết hợp với danh từ làm thành tố phụ chỉ lượng vật (đi trước danh từ) hoặc chỉ thứ tự sự vật (đi sau danh từ) - Trong câu, số từ cũng có khả năng thực hiện chức vụ của các thành phần câu Ví dụ: - Cụm từ: ba con trâu, nhà mười bảy... - Câu: Nước Việt Nam ta là một. Đối với nội dung các tiểu loại cơ bản, giáo viên cần lưu ý, vì thời lượng cho mỗi tiết học về từ loại chỉ có 45 phút trên lớp, thậm chí mỗi tiết học như thế còn tìm hiểu về hai từ loại như: số từ và lượng từ, trợ từ và thán từ bởi vậy giáo viên phải cung cấp nội dung này cho học sinh một cách ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ nhất. Ví dụ 1: Các tiểu loại cơ bản của thán từ gồm: - Thán từ bộc lộ tình cảm: a, ái, ơ, ơi, ô hay... - Thán từ gọi đáp: này, ơi, võng, dạ, ừ ........ Ví dụ 2 : Các tiểu loại của danh từ gồm: - Danh từ chung: làng tôi, nước, biển .... - Danh từ riêng: Bạch Đằng, Đống Đa, Lam Sơn.... Thực ra, tìm hiểu các vấn đề về nội dung của từ loại Tiếng Việt cũng là định hướng cơ bản đầu tiên cho giáo viên có thể dạy tốt nhất các kiểu bài này, giúp học sinh nắm được kiến thức một cách nhanh nhất, chắc chắn nhất. Tuy nhiên, vấn đề về nội dung cũng chỉ là một phần làm nên sự thành công của một giờ dạy. Ngoài việc quan tâm đến vấn đề về nội dung, giáo viên cần phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề về phương pháp giảng dạy các kiểu bài này. Trờn thực tế, các tiết học về từ loại có nội dung kiến thức rõ ràng, dễ hiểu. Bởi vậy, việc xây dựng một giờ dạy và học thành công kiểu bài này lại phụ thuộc khá nhiều vào vấn đề phương pháp giảng dạy. b. Vấn đề phương pháp giảng dạy: b1: Quy trình soạn bài: Giáo viên sẽ bắt đầu từ việc soạn bài dạy. Một bài dạy về từ loại câu phải tuân thủ các bước của bài soạn giảng từ ngữ cụ thể. b1.1: Bước tìm hiểu bài dạy: Đây còn được gọi là bước phân tích sư phạm bài dạy, tức là giáo viên nhìn từ góc nhìn sư phạm, xem xét bài cần dạy. Nó gồm các bước nhỏ: 1) Đọc kỹ các bài dạy về từ loại. Xem thêm tài liệu tham khảo. 2) Chỉ ra đơn vị kiến thức trong bài về từng từ loại. 3) Chỉ ra: - Tính kế thừa trong bài dạy. Tức là xem những bài học trước đó, học sinh đã được học những tri thức nào, để giáo viên có thể đi từ cái học sinh đã biết đến cái học sinh cần biết trong bài dạy này. - Giáo viên cũng cần liên hệ giúp học sinh hiểu rằng sau bài học về từ loại này, học sinh còn có những dịp nào trở lại các tri thức đã học ở bài này. Đây cũng là điều kiện cần thiết để bài dạy được triển khai theo hướng tích hợp của việc đổi mới phương pháp giảng dạy trong giờ học. Môn Tiếng Việt cũng tương tự như môn Toán, các đơn vị kiến thức được sắp xếp trong một hệ thống rất chặt chẽ, từ bài này tiến tới bài khác. Do tính hệ thống của kiến thức mà dạy kiểu bài này, giáo viên cần xác định được phía trước và phía sau kiến thức của bài học, những gì đã biết, những gì sẽ biết. Bởi vậy, xác định tính kế thừa và kế tiếp về kiến thức là một yêu cầu có tính sư phạm, rất cần thiết. 4) Xem xét để chỉ ra được chỗ mạnh, yếu của bài soạn trong sách giáo khoa, để biết khai thác chỗ mạnh và bổ sung chỗ yếu của SGK. Giáo viên cũng cần có liên hệ đến đặc điểm của trường, lớp mình với những kiến thức về từ loại sẽ học trong bài (Ví dụ như tật nói sai chính tả, từ địa phương phạm vi quá hẹp) 5) Sau các bước trên, giáo viên phải xác định được các phương pháp dạy cho từng bài về từng loại. Giáo viên có thể tìm ra một trình tự sư phạm hợp lý nhất trong sự triển khai các tri thức về từ loại cần phải dạy. Cũng trong bước này, giáo viên cần xác định những phương tiện dạy học cần chuẩn bị trước cho giờ giảng. Ứng dụng công nghệ thông tin và đổi mới phương pháp giảng dạy, do đặc trưng của một giờ dạy về từ loại, giáo viên có thể soạn bài bằng các giáo án điện tử, sử dụng đèn chiếu, hình ảnh minh họa... để giờ dạy thêm sinh động, có hiệu quả tốt hơn. b1.2: Soạn bước định hướng bài giảng: Sau ít phút giải lao, học sinh trong trạng thái phân tán tâm lý rất cao. Bước vào tiết học mới, cần thiết phải định hướng giúp học sinh nhập tâm vào nội dung bài học. Giáo viên có thể dựng hình thức kiểm tra bài cũ để bắt buộc học sinh phải chú ý đến bài học. Ví dụ như dạy tiết "Danh từ” của lớp 6 giáo viên có thể đưa ra câu hỏi kiểm tra bài cũ cho học sinh như: ?) Thế nào là từ? ?) Xác định rõ các từ trong câu ca dao sau: Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn Từ câu hỏi kiểm tra bài cũ này mà giáo viên dẫn dắt giúp học sinh hiểu rằng: trong một cụm từ , câu thơ, câu văn xuất hiện nhiều kiểu từ loại khác nhau. Từ "bầu bí" "giống" "giàn" của câu ca dao trên thuộc kiểu từ loại nào trong Tiếng Việt thì bài học ngày hôm nay chúng ta sẽ cùng tìm hiểu. Nhưng cũng có thể, giáo viên bắt đầu bằng vài câu giới thiệu liên quan đến kiến thức trong bài dạy. Ví dụ: Dạy bài "Tình thái từ" có thể bắt đấu bằng lời giới thiệu: "Trong từ loại Tiếng Việt của chúng ta, có một từ loại thuộc nhóm hư từ mà sự có mặt của nó trong câu lại tạo ra sắc thái ý nghĩa riêng cho từng câu sử dụng theo mục đích nói. Từ loại ấy có tên gọi là "tình thái từ" mà chúng ta cùng tìm hiểu trong tiết học ngày hôm nay" Tùy từng bài dạy về từ loại cụ thể mà giáo viên lựa chọn cách nào cho phù hợp, thức tỉnh nhận thức cho học sinh, tạo hứng thú và tâm thế sẵn sàng đón nhận tri thức của bài học. b1.3: Soạn phần tổ chức cho học sinh lĩnh hội bài mới. - Giáo viên trước hết cần phải soạn hệ thống câu hỏi dẫn dắt vấn đề. Lưu ý: Câu hỏi phải có tác dụng gây, nêu được vấn đề. Tình huống có vấn đề là một khái niệm sư phạm rất quan trọng. Không phải hễ cứ nêu câu hỏi nào là cũng tạo được tình huống có vấn đề. Chỉ những câu hỏi nào có tác dụng kích thích tâm lý học sinh hứng thú tham gia tìm hiểu bài mới được coi là đã tạo được tình huống có vấn đề. - Soạn các bài tập nhằm củng cố đơn vị kiến thức vừa truyền thụ. - Soạn hệ thống bài luyện tập cho toàn bài trong đó dành phần quan trọng cho bài tập ứng dụng kiến thức vừa học vào thực hành ngôn ngữ, bởi đây chính là mục đích cơ bản nhất của bộ môn Tiếng Việt. - Soạn phần tổng kết toàn bài và hướng dẫn học sinh về nhà học Bước một giáo viên làm tốt bao nhiêu thì bước bước ba sẽ có hiệu quả tương ứng bấy nhiêu. Chính bước một là bước thể hiện đầy đủ nhất trách nhiệm cũng như trình độ sư phạm của người thầy. Như vậy, với các bước tiến hành soạn bài như trên, giáo viên đã có đầy đủ, chi tiết về tri thức, phương pháp, cách thức sẵn sàng tiến hành cho một giờ dạy kiểu bài về từ loại. Đây là một việc làm đòi hỏi sự tỉ mỉ, công phu của giáo viên nhưng với kiểu bài dạy về từ loại thì sự mạch lạc, rõ ràng trong cả nội dung và cách thức giảng dạy sẽ là điều kiện thuận lợi để giáo viên tiến hành soạn từng bài dạy và giáo án có tính khả thi cao. Tuy nhiên, việc tiến hành các tiết dạy này cũng cần tiến hành theo những quy trình nhất định, hiện thực hóa sự chuẩn bị của giáo viên và đưa học sinh vào những tình huống chủ động, sáng tạo để lĩnh hội tri thức. Qua thực tế giảng dạy, bản thân tôi cũng rút ra được quy trình cụ thể của việc dạy các bài từ loại tiếng Việt như sau: b2: Quy trình giảng dạy: Thực tế thì việc dạy tri thức về từ ngữ là gồm các khái niệm về từ loại, các tiểu loại, khả năng kết hợp, chức vụ ngữ pháp của chúng trong cụm từ, trong câu. Tri thức về từ loại giúp học sinh nắm chắc kiến thức về các loại từ, nhận biết từ loại, sử dụng chúng trong hoạt động ngôn ngữ của mình. Nói chung nhất, quá trình giảng dạy về từ loại cũng gồm hai công đoạn: - Công đoạn tổ chức cho học sinh lĩnh hội tri thức về từ loại.(1) - Công đoạn vận dụng, thực hành tri thức về từ loại.(2) Ở công đoạn (1), thông thường dựng lối quy nạp. Theo lối này thì học sinh sẽ bắt đầu từ sự quan sát, tiếp xúc với một loạt các sự kiện ngôn ngữ hay được gọi là ngữ liệu mẫu. Qua tiếp xúc với ngữ liệu mẫu đó, học sinh tự so sánh đối chiếu và học sinh sẽ tìm ra các sự tương đồng hoặc khác biệt, từ đó mà khái quát, tổng hợp thành khái niệm và các quy tắc ngôn ngữ. Lối quy nạp này rất phù hợp với lứa tuổi học sinh trung học cơ sở, khi các em chưa mấy phát triển năng lực trừu tượng hóa. Học sinh sẽ tiến hành thao tác quy nạp theo sự hướng dẫn của giáo viên, giáo viên sẽ lựa chọn những ngữ liệu mẫu về từ loại rồi đưa ra những câu hỏi để dẫn dắt học sinh tìm ra khái niệm, đặc điểm về từ loại, tìm ra các tiểu loại của từ loại. Chọn được ngữ liệu mẫu và soạn hệ thống câu hỏi dẫn dắt là hai công việc chủ yếu khi làm giáo án dạy từ loại tiếng Việt. b2.1. Chọn mẫu quy nạp: Gọi là mẫu vì đó là những sự kiện ngôn ngữ được lựa chọn có định hướng làm sáng tỏ khái niệm ngôn ngữ. Một mẫu chuẩn phải đáp ứng đủ các yêu cầu : - Nó chứa đầy đủ các dấu hiệu cơ bản khái niệm về từ loại cần dạy trong tiết học. - Nó được rút ra từ thực tế ngôn ngữ chứ không phải do người dạy tự bày đặt ra. Người dạy tự đặt ra mẫu có thể dễ thỏa mãn yêu cầu nêu trên nhưng lại khó tránh khỏi tính chất giả tạo, khiên cưỡng.Thông thường người ta thường lấy mẫu trong các văn bản tiêu biểu của các tác giả tên tuổi như Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Tạ Duy Anh, Nam Cao, Nguyên Hồng..... Ví dụ: Trong bài "Tình thái từ" sách Ngữ văn 8- tập I đó chọn mẫu: "Mẹ tôi vừa kéo tay tôi, xoa đầu tôi hỏi, thì tôi òa lên khúc rồi cứ thế nức nở. Mẹ tôi cũng sụt sùi theo" - Con nín đi! (Nguyên Hồng) - Mẫu chọn phải ngắn gọn và có tần số sử dụng cao trong bài dạy về từ loại thế mới tiết kiệm được thời gian khi dạy, đỡ phải thay đổi mẫu mới. Ngắn cũn có thể dễ dàng đưa lên màn hình, bảng phụ trong phần chuẩn bị bài của giáo viên. Học sinh cũng quan sát một cách dễ dàng hơn với những ngữ liệu mẫu ngắn. - Mẫu về từ loại phải có nội dung lành mạnh về mặt tư tưởng, tình cảm. Ví dụ: Bài dạy: Quan hệ từ: (Sách giáo khoa Ngữ văn 7) A. (Mẫu trong sách giáo khoa) - Đồ chơi của chúng tôi cũng chẳng có nhiều. (Khánh Hồi) - Bởi tôi đã ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm. (Tô Hồi) B. (Mẫu tuỳ chọn của giáo viên) Vì tôi biết rõ, nhắc đến mẹ tôi, cơ tôi chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi kinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi, một người đàn bà đã bị cái tội là góa chống, nợ nần cùng túng quá, phải bỏ con cái đi tha phương cầu thực. (Nguyên Hồng) Để xác định, nhận biết về quan hệ từ trong các câu văn mẫu trên thì quả thực mẫu (B) quá dài, học sinh khó quan sát, giáo viên cũng phải mất nhiều thời gian hơn cho việc viết bảng, soạn bài bằng vi tính. Như vậy mẫu (A) theo sách giáo khoa mang tính sư phạm cao hơn. b2.2. Soạn hệ thống câu hỏi quy nạp: - Trước hết, đó là câu hỏi quan sát nhằm định hướng tri giác đối tượng. Giáo viên bắt đầu từ những hiểu biết đã có về từ. Ví dụ: Em hiểu thế nào là từ? (Học sinh sẽ trả lời được: từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ dựng để đặt câu). Học sinh lấy ví dụ về từ như: nhà, đi, đấu tranh.... Vậy mỗi từ có ý nghĩa gì? Chức năng ngữ pháp của chúng ra sao? Dựa vào kiến thức về nghĩa của từ học sinh sẽ giải thích được nghĩa của các từ nhà, đi, đấu tranh .... trong cách giải thích về nghĩa của từ nhà sẽ khác với nghĩa nói chung của từ đi, đấu tranh. Khả năng kết hợp của những từ đó cũng sẽ khác nhau. Vậy từ nhà mang đặc điểm của từ loại danh từ trong Tiếng Việt. - Câu hỏi tổng hợp, khái quát hóa. Đây là bước sau cùng của quá trình quy nạp. Sau khi giáo viên cho học sinh quan sát, phân tích thì ta sẽ nâng lên thành nhận xét khái quát về đặc điểm, chức năng của từ loại. Ví dụ, tiếp bài Danh từ, ta có: - Những từ như từ “nhà”, “Cửu Long”... là danh từ thì em hiểu danh từ là gì ? Học sinh sẽ có những nhận thức, kết luận đúng đắn về từ loại, về đặc điểm ý nghĩa, về chức năng của từng từ loại trong tiếng Việt. b2.3. Luyện tập thực hành: Ý nghĩa của phần luyện tập thực hành là vừa củng cố khái niệm về từ loại vừa tổ chức cho học sinh vận dụng vào đời sống ngôn ngữ. Vận dụng vào đời sống là mục đích của việc học tập tiếng Việt và cũng là kiểm tra hiệu quả sư phạm của bài dạy. Giáo viên cần giúp học sinh phân biệt các loại bài tập sau: 1) Bài tập nhận diện: Đây là các bài tập quen thuộc có các đoạn văn, câu văn, câu thơ chứa các hiện tượng ngôn ngữ vừa biết để học sinh nhận diện. Ví dụ: Bài "Tình thái từ" Trong các câu dưới đây từ nào(trong các từ in đậm) là tình thái từ, từ nào không phải là tình thái từ? - Em thích trường nào thì thi vào trường ấy. - Nhanh lên nào anh em ơi! - Làm như thế mới đúng chứ! - Tôi đã khuyên bảo nó nhiều lần rồi chứ có phải là không đâu. ...... 2) Bài tập tái hiện: Loại bài tập này bắt buộc học sinh phải nhớ và hiểu khái niệm từ loại. Ví dụ: Bài tình thái từ tiếp theo Giải thích ý nghĩa của các tình thái từ trong các câu sau: - Bác trai đã khá rồi chứ? - Con chó là của cháu nó mua đấy chứ! Với bài tập này, học sinh cần phải nhớ lại chức năng của tình thái từ, các loại tình thái từ để giải quyết. Dạng bài tập nhận diện và tái hiện thường có tác dụng củng cố khái niệm về từ loại vừa học. 3) Bài tập sáng tạo một phần: Ví dụ: Bài" Quan hệ từ " Tìm quan hệ từ có thể dựng thành cặp với các quan hệ từ sau đây? Nếu ..... ................ .............. Vì ......................... .............. Hễ ........................ .............. Hoặc, đặt câu với các cặp quan hệ từ vừa tìm được? 4) Bài tập sáng tạo hoàn toàn. Ví dụ: Viết đoạn văn tự sự trong đó có sử dụng trợ từ, thán từ, tỡnh thỏi từ: Học sinh có thể viết: Ơi ! Thế là một ngày nặng nề cũng đã trôi qua ! Nhưng cũng chính ngày hôm qua đã giúp tôi nhận ra tình yêu vô bờ bến mà mẹ đã dành cho tôi. Tôi đã là con người sống vô tình ư? Có lẽ đúng như thế .... Nói chung, nên dành bài tập sáng tạo toàn phần cho học sinh làm ở nhà. Vấn đề đặt ra cho các giáo viên là sử dụng phần luyện tập trong sách giáo khoa như thế nào ? Thông thường, giáo viên dựng vào các bước vào cuối tiết dạy về từ loại. Nhưng cũng có thể dựng xen vào khi giảng xong từng đơn vị kiến thức, coi như là một thao tác luyện tập củng cố từng khái niệm rồi mới chuyển sang nội dung khác của bài học. Cần nhấn mạnh thêm rằng: Để tiết học về từ loại phong phú, linh hoạt, thầy chủ đạo, trị chủ động nắm bắt kiến thức, giáo viên có thể tự ra bài tập để luyện tập, không nhất thiết chỉ căn cứ vào SGK. Bài tập do giáo viên tự soạn bao giờ cũng sát với thực tế học sinh hơn, sát với ưu điểm, nhược điểm của từng đối tượng học sinh, từng địa phương, sát với tình hình riêng biệt của từng lớp. Dạy kiến thức về từ loại là dạy cho các em những kiến thức cơ bản nhất, quan trọng nhất để giúp các em có một vốn từ phong phú, trực tiếp đóng góp vào việc tạo từ mới sau này của các em. Từ trong tiếng Việt hiện đại đang phát triển với xu thế mới. Khi đã có kiến thức cơ bản nhất về từ loại, dễ dàng để các em có thể hình thành ngôn ngữ theo mục đích giao tiếp riêng của bản thân mình. Ngôn ngữ của các em cũng có độ chuẩn xác cao. c. Tham khảo phần chuẩn bị bài dạy của giáo viên. Tiết 27 Tình thái từ (SGK Ngữ văn 8 - tập I) I. Tìm hiểu bài dạy: * Đơn vị kiến thức trong bài: - Chức năng của tình thái từ. - Cách sử dụng tình thái từ. Giáo viên tìm hiểu bài dạy và chỉ ra được tính kế thừa và kế tiếp của tiết học. Cụ thể: Mặc dù đây không phải là bài học đầu tiên về từ loại trong hệ thống từ loại nói chung và những tiết học về từ loại trong chương trình Ngữ văn lớp 8 nói riêng, nhưng giáo viên vẫn có thể kế thừa kiến thức về từ loại thuộc nhóm "thực từ" như đã học ở lớp 6, 7 và nhóm "hư từ" đã học 1 tiết ở lớp 8 ( bài trợ từ, thán từ). Tình thái từ cũng là một từ loại thuộc nhóm hư từ tham gia cấu tạo câu để tạo nên sắc thái ý nghĩa nhất định trong câu văn. Như vậy, giáo viên có thể kế thừa những kiến thức về từ loại đã học giúp học sinh tiếp cận với kiến thức của bài học này. Đồng thời giáo viên cũng cần có định hướng về vị trí của bài dạy trong toàn bộ hệ thống các bài học về từ loại tiếng Việt. Đây là bài học kết thúc toàn bộ kiến thức về từ loại mà học sinh được tiếp cận ở THCS. Bởi vậy giáo viên cần có những phương pháp giảng dạy phù hợp. Nắm chắc kiến thức về từ loại sẽ giúp các em có phần lớn các kiến thức về câu, kiến thức để tạo lập đoạn văn, văn bản trong các tiết học sau. II. Phương pháp dạy: Nội dung bài khá rõ ràng. Đơn vị kiến thức ngắn gọn và mạch lạc giúp giáo viên chủ động định hướng phương pháp giảng dạy. Tuy nhiên khi dạy bài này giáo viên cũng cần phải lưu ý: Giúp học sinh phân biệt tình thái từ với các từ đồng âm khác nghĩa, khác từ loại. Chẳng hạn phân biệt nào tình thái từ với nào đại từ nghi vấn, nào thán từ; phân biệt chứ tình thái từ với chứ quan hệ từ; phân biệt đi tình thái từ với đi động từ … Giáo viên cũng cần quan tâm đến việc giúp học sinh sửa sai cách dùng tình thái từ, ý thức sử dụng tình thái từ phù hợp với tình huống giao tiếp, thể hiện tính lịch sự lễ phép trong giao tiếp. Đó cũng là một cách giáo dục văn hóa giao tiếp bằng ngôn ngữ cho học sinh. Ví dụ như việc sử dụng từ "ạ". Thực tế cho thấy, một số học sinh do thiếu sự giáo dục chu đáo của gia đình nên không có được thói quen lịch sự. Từ "ạ" là một từ được dựng thông thường nhưng nó lại có xu hướng thiếu vắng trong lời nói của một số học sinh khi nói chuyện với người lớn. Cũng không phải là những học sinh đó không hiểu được giá trị của từ "ạ" mà là do thói quen. Bởi vậy bài học cũng góp phần bồi dưỡng thói quen giao tiếp có văn hóa và cũng là mối quan tâm thường xuyên của giáo dục ngôn ngữ trong trường học. Phần I: Chức năng của tình thái từ: Dạy theo phương pháp quy nạp. Từ ví dụ mẫu, cho học sinh quan sát tìm hiểu rồi rút ra các kết luận về tình thái từ và các tiểu loại của tình thái từ. Phần II: Sử dụng tình thái từ. Có thể dạy theo phương pháp diễn dịch hoặc quy nạp. Nhưng để học sinh nắm bắt kiến thức một cách chủ động, không áp đặt thì giáo viên nên sử dụng phương pháp quy nạp. Tuy nhiên nên có dạng bài tập vận dụng ngay sau khi học sinh nắm được kiến thức cơ bản để củng cố kiến thức nhanh. Phần III: Luyện tập: Đây là phần chứa hệ thống bài tập với đầy đủ các nhiệm vụ nhận biết, tái hiện, sáng tạo trong đó có cả dạng bài tập liên hệ. Giáo viên có thể cung cấp thêm các bài tập đã chuẩn bị sẵn cho học sinh thực hành để hệ thống hóa toàn bộ kiến thức về từ loại như: - Xác định từ loại trong đoạn thơ, đoạn văn tiêu biểu. - Gợi ý giúp học sinh lập bảng hệ thống từ loại tiếng Việt. … Như vậy ngoài phương pháp giảng dạy tiếng Việt truyền thống trong bài, giáo viên cần chú ý đến tính tích hợp với các văn bản và các kiểu loại văn bản học trong chương trình; chú trọng đến việc đổi mới phương pháp dạy học: thầy chủ đạo, trị chủ động trong việc lĩnh hội tri thức, sử dụng hoạt động nhóm và các hình thức thực hành khác nhau để giải quyết các bài tập; chú ý đến phương pháp so sánh tổng hợp kiến thức. Ngoài ra giáo viên cần sử dụng phương tiện dạy học hiện đại như giáo án điện tử, đèn chiếu… III. Nhận xét về sách giáo khoa: - Đơn vị kiến thức rõ ràng mạch lạc. Tuy nhiên hệ thống ngữ liệu mẫu cần có độ chuẩn xác và hấp dẫn hơn. Giáo viên có thể thay đổi cho phù hợp. Ví dụ: Ngữ liệu mẫu (a) sách giáo khoa trang 80 thay bằng: - Bác trai đã khá rồi chứ? (Tắt đèn- Ngô Tất Tố) Ngữ liệu mẫu (d) sách giáo khoa trang 80 thay bằng: - Kiếp ai cũng thế thôi, cụ ạ !
- Xem thêm -