Đăng ký Đăng nhập
Trang chủ Giáo dục - Đào tạo Cao đẳng - Đại học Khoa học xã hội Skkn một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục học sinh khó khăn ...

Tài liệu Skkn một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục học sinh khó khăn khuyết tật học tập tại trường tiểu học lam sơn 3

.DOC
18
18
62

Mô tả:

I. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Để xây dựng đất nước Việt Nam thành một quốc gia dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh theo hướng chủ nghĩa xã hội thì nhân tố “con người” là vô cùng quan trọng. Nó tạo nên động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, là nhân tố trung tâm có tác dụng quyết định đối với toàn bộ hệ thống khác tạo nên đà phát triển chung. Hiện nay, với nhịp độ phát triển của cuộc sống mới, bên cạnh sự phát triển nhiều mặt của xã hội, nhiều hiện tượng xã hội nảy sinh ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển, đến quá trình học tập của trẻ em. Trẻ em chậm phát triển về trí tuệ, thể lực cũng là một trong các vấn đề được xã hội đặc biệt quan tâm. Đối với gia đình: con cái thành đạt là hạnh phúc của cha mẹ. Đối với nhà trường, để có được 100% học sinh đi học chuyên cần, hoàn thành nội dung môn học, hoàn thành nhiệm vụ của người học sinh là một trong chỉ tiêu lớn mà kế hoạch năm học đã đề ra. Với học sinh có khó khăn về học tập, cha mẹ đôi khi không biết mình phải làm gì, làm như thế nào, lúng túng và có các biện pháp dạy con không phù hợp. Với nhà trường, sự khó khăn càng nhiều hơn bởi các em học hòa nhập với cả một tập thể, nếu không có các giải pháp phù hợp dẫn đến kết quả giáo dục các em không đạt mà hiệu quả hoạt động của cả một tập thể cũng không cao. Hiện nay, học sinh khó khăn về học tập được quan tâm ở nhiều khía cạnh và mức độ khác nhau. Sự quan tâm đó thể hiện sự công bằng, tính nhân văn của Đảng và nhà nước ta. Về mặt lí thuyết, đã nhiều công trình nghiên cứu về đối tượng học sinh này. Các nhà giáo dục học cũng viết nhiều tài liệu đề ra các giải pháp để giáo dục học sinh khó khăn trong học tập. Tuy nhiên trên thực tế, mỗi học sinh khó khăn có một cách giáo dục khác nhau bởi sự khác nhau tâm lí, về hoàn cảnh, về thể lực đòi hỏi các bậc làm cha mẹ, các thầy cô giáo phải có hình thức giáo dục phù hợp. Trong những năm qua, chất lượng giáo dục ở trường tiểu học Lam Sơn 3 luôn đứng đầu trong các trường Tiểu học của thị xã. Số lượng học sinh ngày một tăng, không có học sinh lưu ban, bỏ học. Tuy chất lượng giáo dục đại trà được duy trì song số học sinh gặp khó khăn về học tập có phần tăng lên.Tình trạng trên do có nhiều nguyên nhân. Vậy, những nguyên nhân nào dẫn đến học sinh gặp khó khăn về học tập, có thể khắc phục nguyên nhân đó đến đâu để giúp các em học tập hiệu quả hơn. Đó cũng chính là lí do để tôi chọn đề tài: Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao hiệu giáo dục học sinh khó khăn, khuyết tật về học tập tại trường Tiểu học Lam Sơn 3- Thị xã Bỉm Sơn” làm đề tài Sáng kiến kinh nghiệm của mình. 2. Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu đề tài nhằm tìm ra nguyên nhân dẫn đến học sinh gặp khó khăn, khuyết tật trong học tập. 1 Nghiên cứu để tìm ra các giải pháp chỉ đạo giáo viên dạy học sinh khó khăn, khuyết tật về học tập học hiệu quả. 3. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khó khăn, khuyết tật học tập tại trường Tiểu học Lam Sơn 3. Phương pháp giáo dục học sinh khó khăn, khuyết tật. 4. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, thu thập, xử lí thông tin: Tìm hiểu các tài liệu liên quan đến đề tài làm cơ sở lí luận, có hiểu biết sâu về vấn đề đang nghiên cứu; thu thập, phân tích thông tin từ đó có cơ sở thực tế nhằm khẳng định lí do chọn đề tài là đúng đắn, cần thiết để giải quyết vấn đề. Phương pháp phân tích, đàm thoại, thảo luận: Kịp thời tiếp thu ý kiến, kinh nghiệm của giáo viên và các nhà quản lí để có giải pháp cụ thể dạy học cho từng đối tượng học sinh khó khăn; Phương pháp thực nghiệm: Qua quá trình chỉ đạo; Từ thực tế giờ dạy, hồ sơ của giáo viên, bài kiểm tra, kết quả đánh giá định kì; hồ sơ học tập của học sinh khó khăn khuyết tật để có sự kiểm chứng hiệu quả của các giải pháp. 2 II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Cơ sở lý luận của đề tài: Muôn đời nay người ta thường tiếp xúc với trẻ em nhưng mãi thế kỷ XX tâm lý học mới phát hiện ra “Trẻ em”. Đến những năm 20 của thế kỷ này, tâm lý học lần đầu tiên lấy trẻ em bình thường làm đối tượng nghiên cứu. Và sau 40 năm của bước ngoặt này, tâm lý học sư phạm bắt đầu lấy trẻ em đang học ở trường phổ thông làm đối tượng nghiên cứu theo cung cách trong “phòng thí nghiệm”. 1.1 Khái niệm về khó khăn, khuyết tật học tập. - Khuyết tật học tập là thuật ngữ dùng để chỉ các trường hợp có khó khăn đặc thù trong các kĩ năng học đường với biểu hiện chung như: không chậm phát triển trí tuệ nhưng việc lĩnh hội và vận dụng một hoặc một số kỹ năng học tập cơ bản (nghe, nói, đọc, viết, tính toán và suy luận) có hạn chế, khó khăn, kém hoặc chậm phát triển so với yêu cầu phát triển của độ tuổi và không thể khắc phục bằng các phương pháp hướng dẫn thông thường. - Khó khăn học tập: là năng lực học tập nào đó trong các năng lực nghe, nói, đọc, viết, tính toán, suy luận gặp hạn chế, dẫn tới việc tiếp thu các nội dung kiến thức, kĩ năng liên quan kém hoặc chậm trễ. Việc khó khăn nắm nội dung kiến thức và kĩ năng của các kĩ năng học đường được quy định trong chương trình giáo dục phổ thông cụ thể cho từng giai đoạn và khối lớp. 1.2 Nguyên nhân gây khó khăn học tập: Có thể phân loại các nguyên nhân gây ra khó khăn học tập thành 2 nhóm: khó khăn học tập có nguyên nhân từ trẻ và khó khăn học tập có nguyên nhân môi trường xung quanh trẻ như gia đình và nhà trường. Trên thực tế, hầu hết các trường hợp có khó khăn học tập đều là kết quả của sự tác động của 2 nhóm nguyên nhân nói trên. Liên quan đến nhóm khó khăn học tập có nguyên nhân từ trẻ, khiếm khuyết học tập là một trong những nguyên nhân cần chú ý. Khiếm khuyết học tập là một rối loạn về tiến trình tâm lý liên quan đến việc hiểu và sử dụng ngôn ngữ làm cho trẻ bị hạn chế về nghe, suy nghĩ, nói, đọc, viết, đánh vần và làm toán. Khiếm khuyết học tập được biểu hiện bằng sự không đồng nhất giữa khả năng (thường được đo bằng chỉ số thông minh) và thành quả học tập. Bên cạnh đó, các nguyên nhân khác cũng thường được nhắc đến là: - Giảm tập trung: biểu hiện thường gặp là Hội chứng tăng động kém tập trung. - Chậm phát triển tâm thần. - Giảm các giác quan, đặc biệt là tình trạng giảm hoặc mất thính lực. - Rối loạn cảm xúc. 3 - Bệnh mãn tính cũng ảnh hưởng đến khả năng học của trẻ qua sự mệt mỏi, đau mãn tính, tác dụng phụ của thuốc, nghỉ học để đi khám hoặc trong đợt bệnh cấp tính, rối loạn cảm xúc do tình trạng bệnh kéo dài, trí thông minh thấp (ở những bệnh liên quan đến thần kinh), tình trạng chuyển lớp học và áp lực từ sự mong đợi của cha mẹ và thầy cô. - Tính khí bất thường. Nhóm khó khăn học tập có nguyên nhân từ môi trường xung quanh trẻ bao gồm các vấn đề về gia đình, xã hội và trường học. Các vấn đề về gia đình và xã hội thường gặp bao gồm cha mẹ ly thân hoặc ly dị, trẻ bị lạm dụng hoặc bị bỏ bê, tình trạng bệnh hoặc chết của người thân trong gia đình, cha (mẹ) có vấn đề về tâm thần (hoặc tâm lý), cha mẹ lập gia đình sớm, sử dụng chất gây nghiện và kinh tế kém. Ngoài ra, các tiến trình trong trường học cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng học tập của trẻ. Lượng kiến thức được giảng dạy, số lượng bài tập về nhà, cách giảng dạy của giáo viên, những hướng dẫn, những hình thức thưởng phạt là những nguyên nhân quan trọng tác động đến khả năng học tập của học sinh.[1] 1.3 Một số biểu hiện của học sinh gặp khó khăn, khuyết tật học tập: Các biểu hiện dễ sao lãng, dễ quên (mất tập trung chú ý), kiềm chế cảm xúc kém, hay có hành vi bột phát, dễ bị kích thích (tăng động). Các biểu hiện khó khăn trong việc hình thành mối quan hệ với người khác: từ nhỏ đã không quan tâm tới mẹ và những người xung quanh, ở trường lớp, không chơi với các bạn, ít quan tâm tới bạn và cô, chơi một mình, ngôn ngữ có những hạn chế khi hay lặp lại từ ngữ, dùng sai ngữ cảnh, sở thích hạn chế, lặp đi lặp lại một số hành vi, hoạt động. Các biểu hiện về cảm giác bản thể kém, khả năng phối kết hợp các vận động cơ thể hạn chế, vận động tinh và vận động thô kém. Tuy các em có những khiếm khuyết nhưng trong các em vẫn có những nét tích cực tiềm ẩn mà các nhà giáo dục, cha mẹ học sinh phải có trách nhiệm khơi dậy, kích thích nó lên. Đúng như Ma-ka-ren-cô đã nói: “Không có những đứa trẻ không thể sửa chữa được mà chỉ có sự giáo dục tổ chức không đúng đắn, những thầy giáo thờ ơ, những bậc cha mẹ vô trách nhiệm”. 2. Thực trạng học sinh khó khăn học tập 2.1 Tình hình chung Trong những năm gần đây, số học sinh gặp khó khăn nhiều về học tập liên quan đến biểu hiện khuyết tật học tập có phần gia tăng. Năm học 20162017, trường TH Lam Sơn 3 có 632 học sinh(254 học sinh nữ); Số lớp có học sinh gặp khó khăn học tập là 11 lớp/15 lớp; Số học sinh toàn trường có các biểu hiện trên khoảng 22 em. Cụ thể thường gặp ở những học sinh như: Học sinh tăng động, giảm chú ý: 2 em. Học sinh khó khăn về nhìn- đọc: 4 em Học sinh khó khăn về nghe-viết: 2 em Học sinh dễ quên, mất tập trung chú ý: 12 em 4 Học sinh khó khăn trong giao tiếp: 2 em Bảng 1: Bảng thống kê số học sinh chưa hoàn thành, chưa đạt theo các nội dung đánh giá giữa học kì 1(2016-2017): Số lượng Môn Tỉ lệ (Chưa HT, chưa đạt) Môn Toán 12/22 54% Tiếng Việt 8/22 36% 1.Tự phục vụ, tự quản 13 Năng lực 2.Hợp tác 10 3.Tự học, GQVĐ 22 1.Chăm học, chăm làm 15 2.Tự tin, trách nhiệm 20 Phẩm chất 3.Trung thực, kỉ luật 4 4.Đoàn kết, yêu 2 thương Trong số 22 em được tìm hiểu thì tỷ lệ xếp loại về kiến thức chưa hoàn thành nội dung một trong số các môn học là 20/22 em; có 10 em xếp loại năng lực chưa đạt ở tất cả các chỉ số; có 2 em xếp loại phẩm chất chưa đạt ở tất cả các chỉ số. 2.2 Những biểu hiện khó khăn về học tập của học sinh. Các em có nhiều biểu hiện khó khăn trong học tập tuy nhiên ở nhiều mức độ khác nhau. Nhiều học sinh có những biểu hiện thường xuyên, lặp lại nhiều lần, khó rèn luyện sửa chữa, ảnh hưởng đến kết quả học tập. Cụ thể: Khó khăn về đọc: Một số học sinh không biết đọc trơn, phải đọc đánh vần, tốc độ đọc chậm, độ chính xác kém, không theo dõi được bạn đọc, đọc thường thêm hoặc bỏ hoặc thay từ, đảo từ, bỏ dòng, lặp lại dòng( Em An -1B; Dương-3C; Đạt- 4A). Học sinh đọc hiểu kém( khoảng 9/22 em khó khăn học tập được khảo sát). Khó khăn về viết: Một số học sinh không nghe-viết được, chỉ nhìn chép(Dương 2C; Đạt - 4A); một số nghe viết được nhưng chữ viết khó đọc, không đọc được( Nhi 2C); một số viết nhảy dòng, viết cách quãng; tốc độ viết chậm; không biết viết câu văn, đoạn hoặc bài văn. Thông thường những học sinh khó khăn về đọc thường gặp khó khăn về viết( Dương 2C; Đạt 4A). Khó khăn về tính toán: Trong số 22 em có những khó khăn về học tập có 12 em có những khó khăn về tính toán. Các em thường ghi nhớ kém, không biết đếm, đọc viết số; không thực hiện được phép tính đặc biệt các pháp tính cộng trừ nhân chia có nhớ, các qui tắc về dấu phẩy…, không biết giải thích suy luận( Toán giải có nhiều phép tính, tính giá trị biểu thức); không biết về hình học. Khó khăn trong giao tiếp: Học sinh khó khăn học tập thường có tâm lí chán học, học không tập trung, không thích giao tiếp hoặc không hợp tác(Dúng 5 4A; Ly-2B). … Việc không có hứng thú học tập của các học sinh này làm cho kết quả học tập của các em ngày càng bị hạn chế. 2.3 Một số nguyên nhân dẫn đến học sinh gặp khó khăn, khuyết tật học tập: Qua quá trình theo dõi thường xuyên kết quả học tập trên lớp, kết quả đánh giá chỉ số về năng lực phẩm chất học sinh cho thấy học sinh khó khăn học tập tại trường tiểu học Lam Sơn 3 có một số nguyên nhân sau: Khó khăn về đọc: Do phải sử dụng nhiều giác quan để phân tích, tổng hợp âm, vần; do khả năng xử lí thông tin yếu dẫn đến học sinh không phân tích kịp. Kết quả học sinh đọc chậm. Một số học sinh có khả năng suy luận phán đoán nhưng không theo kĩ năng suy luận cơ bản dẫn đến học sinh bỏ hoặc nhảy cóc từ, câu do gặp phải từ khó. Khó khăn về viết: Những học sinh này có trí nhớ rất kém: không nhớ hình dạng chữ, vị trí chữ trong vở viết, không nhớ cấu trúc từ, câu nên thường viết sai cấu trúc từ, câu, sai chính tả. Khó khăn về tính toán: Khả năng ghi nhớ của các em kém, năng lực suy luận yếu, nhận thức không gian tưởng tượng kém, không nhận biết được các mối quan hệ vị trí phải trái trước sau… Khó khăn trong giao tiếp: Các em không tự bộc lộ bản thân, chỉ thích chơi với một, hai người, có tâm lí sợ sai, sợ cái mới, bị động. Những em này thường được người lớn quá quan tâm che chở. Nguyên nhân tâm lí từ hoàn cảnh gia đình: Những học sinh này thường gặp khó khăn học tập tại một thời điểm do bị sang chấn tâm lí từ hoàn cảnh khách quan, các kiến thức cơ bản dần bị mất di không đáp ứng được yêu cầu học ngày càng cao ở các lớp trên dẫn đến kết quả học tập thấp.[2] 2.4 Kết quả của thực trạng học sinh khó khăn, khuyết tật học tập. Đối với nhà trường, nhiều học sinh khó khăn, khuyết tật học tập sẽ đồng nghĩa với việc chưa hoàn thành nhiệm vụ giáo dục. Số học sinh chưa hoàn thành nội dung môn toán là 12 em, môn Tiếng việt là 6 em trong đó đa số các em có liên quan đến khuyết tật học tập; số học sinh gặp khó khăn liên quan đến yếu tố hoàn cảnh gia đình thấp. Đối với học sinh: Việc thiếu hụt tri thức, phẩm chất năng lực kém sẽ dẫn tới lạc hậu, không đáp ứng với thời đại, từ đó sẽ gây ra chán nản bi quan, hình thành ở trẻ sự phát triển lệch lạc, một gánh nặng cho gia đình và cả xã hội. Đối với nhà trường: Học sinh khó khăn khuyết tật học tập không phải là học sinh khuyết tật được học hòa đồng, do đó giáo viên, nhà trường phải có các giải pháp để giúp các em khắc phục hạn chế, khiếm khuyết, được đánh giá với tất cả các học sinh khác. Đối với gia đình: Học sinh khuyết tật học tập không có biểu hiện khuyết tật bên ngoài, chỉ bộc lộ trong quá trình học tập. Chính vì vậy, phụ huynh có tâm lí e ngại khi đưa con đi khám bác sĩ, làm hồ sơ theo dõi cho con vì sợ ảnh 6 hưởng đến sự phát triển tâm lí sau này của các em cũng như sự đánh giá của cộng đồng đối với những học sinh này. 3. Giải pháp giải quyết vấn đề. Qua việc nghiên cứu thực trạng học sinh khó khăn, khuyết tật học tập, từ những nguyên nhân trên tôi đã có những biện pháp chỉ đạo giáo viên giáo dục giúp đỡ học sinh khó khăn, khuyết tật học tập. Cụ thể: - Nâng cao tinh thần trách nhiệm của tập thể giáo viên, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm. Thực hiện tốt chỉ đạo chuyên môn như chuyên đề chuyên sâu, sinh hoạt chuyên môn tổ khối. - Chỉ đạo dạy học theo hướng đổi mới phương pháp, dạy học phù hợp với đối tượng học sinh. - Chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác chủ nhiệm lớp. - Chỉ đạo tổ chức tốt các hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa. - Chỉ đạo giáo viên phối hợp với gia đình, các đoàn thể để có phương pháp giáo dục phù hợp. 3.1 Phát huy tinh thần trách nhiệm trong việc phát hiện giúp đỡ học sinh khó khăn khuyết tật học tập. Các khó khăn trong học tập của học sinh thường được bộc lộ ngay từ năm học lớp 1. Giáo viên cùng với gia đình có thể phát hiện thông qua các hoạt động học tập trên lớp, tại gia đình, dưới hình thức cá nhân, trong hoạt động nhóm, tập thể. Sau một thời gian nhận lớp, giáo viên cần báo cáo thực trạng học sinh khó khăn khuyết tật với ban giám hiệu nhà trường. Với những thông tin cần thiết, ban giám hiệu cùng với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên bộ môn và gia đình cần có những đánh giá, tổng hợp những đặc điểm của khó khăn khuyết tật học tập, từ đó ban giám hiệu xây dựng kế hoạch hỗ trợ và chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân học sinh để thường xuyên theo dõi và điều chỉnh phương pháp giáo dục phù hợp. 3.2 Chỉ đạo dạy học theo hướng tích cực hóa phù hợp với đối tượng học sinh. Giúp học sinh học nội dung và học kỹ năng học tập phù hợp là một nhiệm vụ quan trọng của giáo viên đối với học sinh khó khăn khuyết tật học tập. Khi chương trình học tập ở mỗi khối lớp, giai đoạn càng ngày càng nâng cao, việc điều chỉnh mục tiêu học tập là cần thiết, phương pháp dạy học đối với các em này mang tính chất cá nhân, xây dựng mục đích học tập cần chú ý phù hợp với mức độ phát triển của từng em trên cơ sở đối chiếu với yêu cầu của chương trình học tập. Khi dạy kỹ năng, cần phải chú ý đến đặc trưng trong phong cách học tập của học sinh vốn được quy định bởi đặc trưng trong năng lực nhận thức, hoạt động xử lí thông tin, giúp học sinh làm chủ kĩ năng học tập, biết cách học tập phù hợp với khả năng của bản thân là điều rất quan trọng và ý nghĩa. 7 Ví dụ: Nếu kĩ năng đọc của học sinh mới ở mức nhận biết mặt chữ - đọc âm của con chữ, cần tiếp tục phát triển đến cấp độ nhận biết vần – âm, sau đó ghép vần, đọc đánh vần. Nếu học sinh đọc bỏ từ bỏ câu , đọc lặp lại cần khoanh hoặc gạch chân dưới từ, cụm từ, câu cần đọc tiếp theo, nếu học sinh không biết ngắt nghỉ cần khoanh hoặc gạch chéo ranh giới ý của câu…Do dạy hòa đồng nên mỗi giáo viên cần tạo điều kiện thời gian dành cho những học sinh này nhiều hơn hoặc phân công học sinh đọc tốt ngồi cạnh và giúp đỡ các em theo hướng trên. Trong lĩnh vực viết, nếu kĩ năng viết của học sinh chỉ đạt mức viết được nét, cần xác định nội dung giúp đỡ các em về con chữ, sau đó nâng cao dần cấp độ âm, vần, cấp độ viết từ, câu, đoạn và bài văn. Với học sinh khó khăn về tính toán, cần dùng đồ dùng trực quan kết hợp với giải thích, sơ đồ hóa… Đối với học sinh khó khăn, khuyết tật, những giờ học thuyết trình một chiều làm chúng trở nên chán nản, mệt mỏi.Vì vậy giáo viên cần đổi mới phương pháp, cần tổ chức những tiết học đa dạng về hình thức, thực hành và trải nghiệm, khám phá, giải quyết vấn đề, làm việc cá nhân, làm việc nhóm,.. là việc làm hết sức cần thiết, nhằm thu hút sự tập trung chú ý của học sinh , đa dạng yêu cầu hoạt động: quan sát, nghe, nói, viết cũng giúp học sinh này tăng khă năng chú ý. Khi giáo viên hướng dẫn cả lớp, những học sinh này có thể không ý thức rằng cô cũng đang nói với mình. Hơn thế, có những em không ngừng nói chuyện, có những em tiếp tục chú ý vào những âm thanh bên ngoài lớp. Cần khởi động tiết học để tạo hứng thú cho các em, thể hiện sự quan tâm đến đối tượng học sinh này qua những cử chỉ thân mật như đặt tay lên vai, tươi cười khi nói với các em… tạo sự thân thiện cởi mở và giúp các em cảm thấy yên tâm khi học. Với học sinh khó khăn khuyết tật, các em thường ghi nhớ kém, khó hình dung những công việc cần làm trong tiết học, quên giữa chừng, không nhớ việc cần làm tiếp, học sinh có thể có biểu hiện xao lãng, mất tập trung chú ý, dễ có tâm lí chán nản, lảng tránh thực hiện hoạt động mặc dù bản thân rất muốn làm.Việc duy trì ghi nhớ thông qua hướng dẫn trình tự công việc giúp các em có trách nhiệm học tập hơn. Cũng cần cho các em này thao tác và làm nhiều lần để các em ghi nhớ. Thu hút sự chú ý của đối tượng học sinh này trên lớp cũng là một việc quan trọng. Vì vậy, khi muốn hướng dẫn, giải thích trình tự hoạt động, trước tiên giáo viên phải thu hút sự chú ý của học sinh. Ở những học sinh khó khăn, khuyết tật học tập có trí nhớ công việc hạn chế, chúng không thể thu giữ các thông tin phức tạp được truyền tải đến cùng một lúc. Vì thế cần hướng dẫn chúng thật đơn giản, ngắn gọn, có trọng tâm, có thể hướng dẫn riêng bằng cách viết ra giấy, gạch chân, tô màu nội dung thật cụ thể …để tăng sự chú ý và ghi nhớ cho các em. 8 3.3 Tổ chức chuyên đề chuyên sâu hướng dẫn giáo viên theo dõi đánh giá sự tiến bộ của học sinh Ngoài tổ chức chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học, quản lí chuyên môn cần tổ chức buổi chuyên đề riêng nhằm chỉ đạo hướng dẫn giáo viên giúp đỡ học sinh khó khăn, khuyết tật học tập như: Cung cấp tới giáo viên các văn bản hướng dẫn của các ngành các câp liên quan đến đối tượng trên; Tổng hợp ý kiến của tất cả giáo viên dạy học sinh có biểu hiện khó khăn khuyết tật, giúp giáo viên chủ nhiệm thống kê những khó khăn của học sinh khi học tập rèn luyện, lập hồ sơ theo dõi sự tiến bộ của học sinh; Hướng dẫn giáo viên làm hồ sơ cho đối tượng học sinh trên( phụ lục 2); hướng dẫn cách đánh giá học sinh (trên yêu cầu vì tiến bộ của học sinh). Các buổi sinh hoạt chuyên môn tổ khối, nhà trường cần đưa nội dung này trở thành một trong các nội dung thảo luận. 3.4 Chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác chủ nhiệm lớp. Bên cạnh việc tác động trực tiếp lên năng lực nhận thức của học sinh khó khăn khuyết tật học tập cần có những thay đổi, điều chỉnh, thiết lập những điều kiện môi trường trong lớp hòa nhập đảm bảo phù hợp với đặc điểm của học sinh, giúp các em khắc phục khó khăn. Sắp xếp vị trí ngồi gần bảng, gần bàn giáo viên sẽ giúp các em nghe rõ lời giáo viên, ngược lại, giáo viên cũng dễ kiểm tra vở viết của các em. Để học sinh không trở nên căng thẳng khi ngồi ở một vị trí nào đó trong thời gian dài, thỉnh thoảng giáo viên nên thay đổi chỗ ngồi cho các em, cũng như nên thay đổi thành viên hoạt động nhóm. Có nhiều học sinh khuyết tật học tập có thể tính hậu đậu, hay đánh rơi, đánh đổ các vật dụng, đồ dùng, quên không đặt đồ dùng về vị trí cũ. Nguyên nhân có thể là do nhận thức vị trí, không gian kém khiến các em không nhớ vị trí đồ vật. giáo viên nên hướng dẫn học sinh cách sắp xếp đồ vật. Nếu học sinh kém phân biệt đồ vật của mình và bạn bè, giáo viên nên hướng dẫn các em dán hoặc đánh dấu biểu tượng vào đồ dùng của mình. Điều chỉnh cách trách phạt, khen thưởng, động viên cũng là một hình thức giúp đối tượng này học tập hứng thú hơn. Không nên trách phạt, thay vào đó là thưởng ít, thưởng nhiều hoặc không thưởng khiến các em hào hứng và tăng cảm giác thành công. Mạnh dạn cử các em có khó khăn học tập làm một chức vụ nào đó trong tổ nhóm để các em thấy mình cũng rất quan trọng đối với tập thể lớp từ đó tạo hứng thú học tập và niềm vui cho các em tới trường. Giáo viên chủ nhiệm cần động viên, khuyến khích học sinh trong lớp giúp đỡ bạn bằng nhiều cách khác nhau: phân công những em học sinh học tốt, nhiệt tình giúp đỡ các bạn, phát động phong trào thi đua: “Đôi bạn cùng tiến”, “ Sao chăm ngoan” để các em phấn đấu, phối kết hợp với đội thiếu niên Tiền Phong tổ chức các hoạt động theo chủ điểm của từng tháng nhằm tạo cho các 9 em sự vui vẻ, thoải mái và thích đến trường, coi mỗi ngày đến trường là một ngày vui. Với đối tượng học sinh này, giáo viên cần nắm vững tâm lí trẻ, tránh gò bó, áp đặt, mệnh lệnh, căng thẳng, ức chế tâm lí trẻ. Giáo viên nên vỗ về, tạo tâm thế thoải mái cho các em. Do trẻ có những khó khăn trong học tập nên khả năng nhận thức, diễn đạt suy nghĩ, tình cảm, mong muốn hạn chế, do sang chấn tâm lí không muốn bộc lộ, bộc bạch với ai nên giáo viên cần quan tâm trò chuyện giúp đỡ mọi lúc mọi nơi, cần kiên trì nhẫn nại. 3.5 Chỉ đạo tổ chức tốt hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa. Đối với mục đích hình thành khả năng ứng dụng cho học sinh khó khăn khuyết tật học tập, không chỉ giúp học sinh biết vận dụng những điều đã học mà còn phải biết cách giải quyết các vấn đề phức hợp, mới phát sinh, không chỉ ứng dụng các kĩ năng liên quan đến môn học mà cả các kĩ năng học tập, kĩ năng sống đã được trang bị. Giáo viên khi tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp cần quan tâm đến đặc điểm khó khăn của mỗi em để có hình thức tổ chức phù hợp. Với đối tượng tăng động, cần cho các em tham gia các hoạt động vui, sôi nổi, không đòi hỏi thực hiện nhiều hoạt động phức tạp cùng một lúc.Với học sinh có khó khăn về tâm lí, cần tổ chức cho các em hoạt động theo nhóm. Ví dụ: Khi tổ chức trò chơi, không để học sinh tăng động đứng theo dõi mà cần cho các em cùng tham gia ở một khâu của hoạt động nào đó và được các bạn cổ vũ khích lệ. Với học sinh hạn chế về giao tiếp cần phân công vào nhóm học sinh năng động, cần tạo cho các em ở vị trí trung tâm của các hoạt động để các em làm quen với sự chú ý của nhiều người… 3.6 Chỉ đạo làm tốt công tác phối hợp giữa nhà trường - gia đình và xã hội. Nhà trường có trách nhiệm động viên các bậc phụ huynh hiểu được mục tiêu cấp học, chia sẻ trách nhiệm với nhà trường, đặc biệt chú trọng bồi dưỡng những kiến thức tâm lý giáo dục và kỹ năng sư phạm để các bậc phụ huynh giáo dục con em mình có hiệu quả hơn. Trẻ tiểu học tin tưởng tuyệt đối vào giáo viên. Vì vậy giáo viên bậc tiểu học có vai trò đặc biệt quan trọng trong qúa trình giáo dục trẻ, “vừa là cô vừa là mẹ”. Mặt khác, đi học là bứơc ngoặt trong đời sống tâm lý trẻ. Trong giao tiếp, dạy dỗ ngay từ khi trẻ bước vào những bài học đầu tiên, giáo viên cần quy định những yêu cầu đòi hỏi học sinh về nề nếp, nhiệm vụ học tập, phương pháp học tập. Bên cạnh đó giáo viên phải hiểu trẻ, động viên, khuyến khích các em kịp thời, tránh trừng phạt và trách mắng trẻ hoặc thành kiến đối với trẻ.Cần phối hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh thông qua sổ liên lạc, thăm hỏi gia đình học sinh hoặc họp phụ huynh. Từ đó giúp cha mẹ học sinh nắm được yêu cầu giáo dục, đặc điểm tâm lý của trẻ. Đặc biệt nâng cao sự quan tâm của cha mẹ về nội dung chương trình con em họ đang học. Trên cơ sở đó giúp họ có điều kiện dạy 10 dỗ con. Cần quan tâm, giúp đỡ động viên chia sẻ với những gia đình học sinh có khó khăn về kinh tế. Với gia đình học sinh, giáo viên cần giúp cha mẹ các em thấy được những biểu hiện khó khăn trong học tập, hành vi, suy nghĩ.... để giúp các em khắc phục kịp thời, tránh nuông chiều, khắt khe hoặc qúa thờ ơ, lãnh đạm. Phải thay đổi nhận thức cũ kỹ, lạc hậu của phụ huynh và giúp họ thấy rằng: Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, không chỉ nhà trường mà gia đình, xã hội đều phải có trách nhiệm trong sự nghiệp gíao dục chung. Cần quan tâm, chăm sóc, giành khoảng thời gian nhất định để tạo điều kiện cho các em học tập. Quan tâm, mua sắm đầy đủ đồ dùng học tập cho con cái, dành cho các em không gian học tập tốt. Hướng dẫn chỉ đạo giáo viên tìm hiểu về hoàn cảnh học sinh khó khăn, khuyết tật học tập, nắm diễn biến tâm lí của các em để cùng với gia đình có sự cởi mở, gần gũi, thân mật trao đổi giúp các em có tâm lí an tâm học tập. Về hình thức bên ngoài, học sinh khó khăn học tập không có những khuyết tật có thể nhìn thấy được. Vì vậy khi các em học không tốt, phụ huynh thường có tâm lí cho rằng đó là do các em không chăm học. Thực tế không phải như vậy và giáo viên có nhiệm vụ giúp phụ huynh hiểu rõ vấn đề để có hình thức động viên giúp đỡ các em cải thiện tình hình học tập. Trường hợp nghi ngờ trẻ có khó khăn học tập, giáo viên cần trao đổi để phụ huynh đưa trẻ đến khám tại các bệnh viện để có thể được đánh giá một cách đầy đủ và chính xác. Hướng dẫn giáo viên tham mưu với các cấp lãnh đạo tạo điều kiện hỗ trợ về vất chất nhằm giúp gia đình các em bớt đi gánh nặng để các em được vui vẻ , vô tư đến trường như bao trẻ khác. Giáo viên cần phải phối hợp với hội khuyến học, hội chữ thập đỏ, hội phụ nữ... đến gia đình các em thăm hỏi, động viên, giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Từ đó tạo không khí vui vẻ, đầm ấm trong gia đình để các em thấy mình vẫn được mọi người quan tâm chăm sóc. 4. Hiệu quả của sáng kiến. Tìm hiểu về học sinh khó khăn khuyết tật học tập tại trường Tiểu học Lam Sơn 3 trong 2 năm học( 2015-2016; 2016-2017), qua quá trình chỉ đạo giáo viên thực hiện giáo dục giúp đỡ học sinh khó khăn khuyết tật học tập, đến nay đã có những hiệu quả tương đối tốt. Trong số 22 em khó khăn khuyết tật học tập được khảo sát, học sinh chưa hoàn thành nội dung môn học giữa học kì 2(20162017) đã giảm, một số năng lực của học sinh tăng lên, đạt được một số yêu cầu về chuẩn kiến thức kĩ năng môn học. Cụ thể: Bảng 2: Thống kê học sinh chưa hoàn thành nội dung môn học, chưa đạt PC-NL giữa kì 2- Năm học 2016-2017 Môn Môn Toán Tiếng Việt Số lượng (Chưa HT, chưa đạt) 5/22 4/22 11 Tỉ lệ 27% 17% Năng lực Phẩm chất 1.Tự phục vụ, tự quản 2.Hợp tác 3.Tự học, GQVĐ 1.Chăm học, chăm làm 2.Tự tin, trách nhiệm 3.Trung thực, kỉ luật 4.Đoàn kết, yêu thương 6 4 10 10 10 3 1 Bảng theo dõi kết quả trên cho thấy: - Có 3 học sinh lớp 1( năm học 2015-2016) chưa biết đọc trơn, chưa biết viết chính tả nghe-đọc đến nay đã đọc thông viết thạo, hiểu được văn bản đọc và theo kịp các bạn trong lớp 2. Một số học sinh đọc còn chậm nhưng không còn bỏ từ, bỏ câu hoặc đọc cách quãng. - Có 7/12 em khả năng tập trung chú ý đã tăng lên tương đối tốt biểu hiện: viết và làm kịp bài tập tối thiểu trên lớp, hiểu và trả lời tương đối đúng câu hỏi của cô; tham gia hoạt động nhóm và có kết quả, các bài kiểm tra đạt điểm 5 trở lên, các chỉ số tham chiếu về nội dung môn toán và Tiếng Việt đạt yêu cầu. - Có 5 em trong đầu năm học 2016-2017( lớp 3, 4) không có kĩ năng viết từ, câu, đoạn văn đến nay đã viết được các câu văn đơn giản đúng ngữ pháp, biết ráp nối các câu văn để được đoạn văn logic diễn tả đúng nội dung theo yêu cầu. - Có 7 em đã tiến bộ về toán ở các mức độ khác nhau như: 2 em lớp 1 biết đếm số( đếm thêm) và so sánh số; có 3 học sinh lớp 2, 3 biết đặt tính và giải toán bằng những phép tính và lời giải đơn giản, nhận biết được hình ở 2 vị trí( ngang và thẳng đứng). Có 2 em lớp 4 biết thực hiện dãy tính có 2 phép tính, biết tư duy để thực hiện phép chia đơn giản theo mẫu; biết đổi đơn vị đo theo từng bước vạch sẵn như qui tắc, biết làm toán hình có 3 bước tính đơn giản, xác định được vị trí hình và tưởng tượng được các yếu tố có liên quan. - Có 4 em được cải thiện kĩ năng giao tiếp biểu hiện như: trả lời câu hỏi đầy đủ câu; có bộc lộ ý kiến cá nhân khi được hỏi; nói to hơn, biết trả lời có/ không thay vì gật đầu… Một số học sinh khác có tâm lí thoải mái hơn, không né tránh khi được hỏi về bản thân, gia đình. Phụ huynh cũng cởi mở hơn khi nói chuyện với thầy cô. Có 2 phụ huynh đưa con đi khám thường xuyên tại các bệnh viện để có kết quả cụ thể về dạng khuyết tật não bộ của trẻ ảnh hưởng đến học tập, đã làm hồ sơ khuyết tật học tập cho các em. Trong đợt tổ chức đi dã ngoại có 7 em dạng khó khăn khuyết tật học tập tham gia, những trải nghiệm giúp các em có khoảnh khắc vui và đáng nhớ, ý thức kỉ luật của các em cao hơn. Sau buổi dã ngoại các em có tập trung học tập hơn, vui vẻ chan hòa với bạn hơn. Hiện nay trường vẫn còn có 1 em dạng tự kỉ tăng động( Hiếu 2C) cũng đã có tiến bộ nhiều trong giao tiếp, biết đọc viết nhưng việc tăng chú ý và duy trì thời gian ngồi học lâu cho em chưa đạt hiệu quả cao; có 1 học sinh( Dũng- 4A) rất hạn chế về nói, còn 2 học sinh lớp 5( Dũng-5B; Cường 4C) khả năng ghi 12 nhớ về toán còn nhiều hạn chế. Những em này vẫn đang được quan tâm đặc biệt, có chuyển biến nhưng chậm hơn. Đặc biệt có một số phụ huynh đã có những thay đổi nhận thức rõ rệt về tình trạng khó khăn trong học tập của con em mình: Phụ huynh cùng các em tham gia trải nghiệm kĩ năng sống để các em được cảm thấy tự tin cùng với các bạn của mình(em Hiếu 2C; em Ly-2B; em Hiếu 4B…); một số phụ hunh đã đưa con đi khám bệnh để được hướng dẫn chăm sóc giúp đỡ các em (em An-1B; em Đạt-4A). Hiện nay vẫn còn một vài học sinh có những khiếm khuyết học tập ở rất nhiều tiêu chí đánh giá( Đọc-Viết; làm toán tính; khả năng ghi nhớ rất kém), tuy nhiên phụ huynh có sự phối hợp nhưng chưa tích cực với nhà trường để giúp các em có sự chuyển biến được tốt hơn. III. KẾT LUẬN- KIẾN NGHỊ 13 1. Kết luận Hiện tượng học sinh khó khăn, khuyết tật học tập là một hiện tượng phổ biến trong tất cả các nhà trường, biểu hiện rõ nhất là ở cấp tiểu học; tuy nhiên trên thực tế không phải ai cũng có những hiểu biết đầy đủ về học sinh khó khăn, khuyết tật học tập. Nếu trẻ bị khó khăn khuyết tật học tập không được phát hiện sớm, không được quan tâm giáo dục hòa nhập trong môi trường bình thường thì khả năng phát triển kém, có thể sẽ mất đi cơ hội hòa nhập với xã hội, với cộng đồng. Xác định nguyên nhân gây khó khăn về học tập của học sinh để có giải pháp giúp đỡ đúng đắn là nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên. Chính vì vậy, các nhà quản lí chuyên môn cần quan tâm bồi dưỡng nâng cao ý thức trách nhiệm cho giáo viên trong công tác giáo dục giúp đỡ trẻ khó khăn khuyết tật học tập. Tích cực đổi mới phương pháp, dạy học phù hợp với đối tượng và tâm lí lứa tuổi, kiên trì nhẫn nại với mọi đối tượng học sinh đặc biệt là học sinh khó khăn khuyết tật là một trong các yêu cầu đánh giá chuẩn giáo viên. Bên cạnh đó, xây dựng môi trường học tập thân thiện giúp trẻ mạnh dạn tự tin khi đến trường cũng là một giải pháp quan trọng. Ở đó, học sinh được giáo dục kĩ năng sống, lòng nhân ái, được sự quan tâm của mọi người, trẻ sẽ được phát triển đầy đủ về trí tuệ, thể chất, tinh thần, giúp các em trở thành người có ích cho xã hội. 2. Kiến nghị Hiện nay nhà nước đã có chính sách hỗ trợ giáo viên dạy trẻ khuyết tật( khuyết tật vận động; khuyết tật các giác quan, trẻ tự kỉ…), tuy nhiên đối tượng học sinh khó khăn, khuyết tật học tập có những biểu hiện bên ngoài không rõ ràng( chỉ bộc lộ trong quá trình học tập, tiếp thu kiến thức) chưa được sự quan tâm đúng mức. Vì vậy đề nghị các cấp cần có chế độ chính sách mở rộng cho giáo viên dạy các đối tượng này. Xác định học sinh khó khăn khuyết tật học tập gặp nhiều khó khăn, vì vậy các cấp cần có văn bản hướng dẫn cụ thể các tiêu chí xác định để giáo viên lập hồ sơ theo dõi và gia đình có cơ sở đi khám bệnh( cả về sinh lí hoặc tâm lí). 14 Tìm tòi các biện pháp nhằm chỉ đạo giáo viên giúp đỡ trẻ khó khăn khuyết tật học tập hiệu quả có ý nghĩa rất lớn trong nhà trường. Hiện nay học sinh khó khăn khuyết tật học tập đều có ở tất cả các trường Tiểu học. Nhận thức đúng đắn về mức độ khó khăn của học sinh để có giải pháp giáo dục phù hợp tránh bệnh thành tích là yêu cầu cần thiết đối với các nhà trường. Đề tài này có thể vận dụng cho các trường tiểu học ở các mức độ khác nhau và có thể phát triển đề tài ở mức cao hơn. Trên đây chỉ là một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân tôi đã áp dụng và mang lại hiệu quả thiết thực, được đội ngũ giáo viên ủng hộ và thực hiện theo chỉ đạo nghiêm túc. Do điều kiện và khả năng có hạn nên đề tài còn nhiều điều chưa chỉ ra được và không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong được sự góp ý, xây dựng của đồng nghiệp và các cấp lãnh đạo để sáng kiến của tôi được hoàn thiện và đạt được hiệu quả cao hơn. XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thanh Hóa, ngày 25 tháng 5 năm 2017 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. Người viết Trương Thị Trang 15 MỤC L Ụ C Mục I 1 2 3 4 II 1 2 3 4 III Nội dung Phần mở đầu Lí do chọn đề tài Mục đích nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu Nội dung Cơ sở lí luận Thực trạng vấn đề Giải quyết vấn đề Hiệu quả sáng kiến Kết luận 16 Trang 1 1 1 2 2 3 3 4 6 11 13 TRƯỜNG TIỂU HỌC LAM SƠN 3 TT DANH SÁCH HỌC SINH GẶP KHÓ KHĂN VÀ KHUYẾT TẬT HỌC TẬP NĂM HỌC 2016-2017 ( Tháng 10 năm 2017) Họ tên Lớp Biểu hiện khó khăn trong học tập 1 2 3 4 Lê Mạnh Cường Lí Hoàng Anh Lê Quang Hà Mai Đăng Dương 1A 1B 2A 2C 5 Lê Trung Hiếu 2C 6 7 8 Nguyễn Phương Nhi Nguyến Đức Anh Nguyễn Phạm Li La 2C 2C 3A 9 3A 10 Nguyễn Ngọc Bảo Ngân Tống Thị Ly 11 Hoàng Thị Hồng Ngọc 3C 12 Hoàng Trung Hiếu 3C 13 Dương Hải Đạt 4A 14 Phạm Ngọc Dũng 4A 15 Phạm Ngọc Cường 4C 16 17 18 Nguyễn Minh Anh Nguyễn Thị Hảo Hảo Lê Ngọc Dũng 4C 4C 5B 2B Đọc đánh vần, ghi nhớ âm vần kém. Đọc đánh vần, ghi nhớ âm vần kém. Không làm được toán giải, viết câu văn Không ghi nhớ vần khó; Chưa đọc thông viết thạo, hay quên. Không viết lời giải; câu văn, diễn đạt không rõ ý. Viết sai chính tả, không viết được câu. Kĩ năng hiểu kém, không nhớ lâu. Không biết cộng trừ có nhớ, nhân chia không tốt. Không biết cộng trừ có nhớ, nhân chia không tốt Khả năng diễn đạt kém, kĩ năng đọc hiểu hạn chế. Làm tính kém, không ghi nhớ các qui tắc, bảng tính Tư duy toán kém, không tập trung. Chưa đọc thông viết thạo, hay quên; Chỉ nhìn chép, không nghe- viết. Văn viết kém; Không giao tiếp trên lớp Đọc chậm, tính toán kém, không tập trung Dễ quên , đặc biệt môn Toán. Dễ quên , đặc biệt môn Toán Thực hiện nhân chia và đọc hiểu kém. 17 Ghi chú Ghi nhớ kém KN đọc-viết kém KN viết- tư duy kém KT trí tuệ Tự kỉ(tăng động giảm chú ý). Kĩ năng viết kém Giảm tập trung chú ý. Trí nhớ kém Trí nhớ kém Nhút nhát, không giao tiếp. Ghi nhớ kém, không bền. Ghi nhớ kém, không bền. KT trí tuệ Tâm lí căng thẳng, không tự tin. Ghi nhớ không bền Ghi nhớ không bền Ghi nhớ kém Chú ý kém 19 20 21 22 Nguyễn Quang Trưởng Lê Trọng Hùng Nguyễn Hữu Thắng Trịnh Linh Nhi 5B 5C 5C 5C Tính chậm, toán giải kém Tư duy suy luận kém , trí nhớ kém Tư duy suy luận kém , trí nhớ kém Tư duy suy luận kém , trí nhớ kém Tư duy kém Tư duy kém Tư duy kém Tư duy kém TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Học sinh khuyết tật học hòa nhập cấp Tiểu học- Tác giả: Nguyễn Thị Cẩm Hường- NXBGD- 2015. 2. Nhận biết, phân biệt học sinh khuyết tật học tập và khuyết tật trí tuệ- Tác giả: Ths. Nguyễn Văn Hưng- Viện Khoa học giáo dục Việt Nam- Tài liệu thư viện điện tử. 3. Tài liệu BDTX chu kì 2013-2018- TH11: Tổ chức giáo dục hòa nhập cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn về học, về vận động.-Tác giả: Lê Văn Tạc- Tài liệu thư viện điện tử. 4. SKKN: Một số kinh nghiệm về giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trong trường Mầm non- Tác giả: Nguyễn Thị Yến Loan- Năm 2014-2015. 18
- Xem thêm -

Tài liệu liên quan