Tài liệu Một số biện pháp bồi dưỡng nâng cao chất lượng giáo viên ở trường thcs hua nà skkn loại a cấp tỉnh

  • Số trang: 20 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 139 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 20010 tài liệu

Mô tả:

Một số biện pháp bồi dưỡng nâng cao chất lượng giáo viên ở trường THCS Hua Nà_SKKN loại A cấp tỉnh
PHẦN MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài Đại hội XI của Đảng xác định "Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục. Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội". Điều 2 Luật Giáo dục đã ghi: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo làm người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước” nghĩa là giáo dục, đào tạo ra những con người có tri thức, có nhân cách, những người có đủ “đức, trí, thể, mĩ”. Công việc này không ai có thể làm được ngoài những nhà giáo dục và quản lý giáo dục mà đội ngũ giáo viên trong nhà trường là nhân tố trung tâm của sự phát triển giáo dục. Vì vậy người lãnh đạo, quản lý nhà trường phải hết sức coi trọng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, mạnh về chất lượng. Bồi dưỡng đội ngũ Giáo viên là thực hiện quan điểm về “ Giáo dục là quốc sách” và thực hiện Nghị quyết Trung ương IV, khóa 8 của Đảng cũng đã khẳng định “Khâu then chốt đó thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải chăm lo đào tạo, bồi dưỡng tiêu chuẩn hóa đội ngũ giáo viên cũng như cán bộ quản lý giáo dục và chính trị, tư tưởng, đạo đức và nâng cao năng lực chuyên môn”. Như vậy người thầy giáo có một vai trò hết sức quan trọng. Đội ngũ giáo viên là lực lượng trực tiếp thực hiện mục tiêu, kế hoạch giảng dạy, giáo dục của nhà trường, là người tạo nên uy tín, chất lượng và hiệu quả của nhà trường. Phương hướng và tư tưởng chính trị đó hoàn toàn do đội ngũ người Thầy quyết định. Vì vậy ta có thể khẳng định việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là một việc làm cực kỳ quan trọng. 1 Trường trung học cơ sở Hua Nà là một trường mới được thành lập. Trường đóng trên địa bàn xã mới được chia tách, là xã nằm trong diện 30a của chính phủ. Nhân dân trong xã còn nghèo, trình độ dân trí chưa cao, còn phó mặc con em cho nhà trường. Cơ sở vật chất của tuy mới được xây dựng nhưng còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Đội ngũ giáo viên tuy đủ theo qui định nhưng trình độ chuyên môn không đồng đều, vẫn còn 2 giáo viên chưa chuẩn về trình độ đào tạo. Một số ít, nhận thức về vai trò của giáo viên trong việc nâng cao chất lượng giáo dục còn hạn chế. Xuất phát từ những lý do khách quan, lý do chủ quan như đã nêu trên, để nâng cao chất lượng dạy và học, tôi mạnh dạn lựa chọn sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp bồi dưỡng nâng cao chất lượng giáo viên ở trường THCS Hua Nà - Huyện Than Uyên - Tỉnh Lai Châu”. II. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 1. Phạm vi nghiên cứu Đội ngũ giáo viên ở trường Trung học cơ sở xã Hua Nà, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, nghiên cứu trong 2 năm học ( 2011- 2012; 2012 - 2013) 2. Đối tượng nghiên cứu Một số biện pháp bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở Hua Nà – Huyện Than Uyên – Tỉnh Lai Châu. III. Mục đích nghiên cứu Nhằm xây dựng đội ngũ giáo viên có tư cách đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn và năng lực sư phạm, lòng nhân ái và lý tưởng nghề nghiệp. Đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở . IV. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu Bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong trường Trung học cơ sở. + Thông qua hoạt động của nhóm, tổ chuyên môn. + Qua công tác tự bồi dưỡng và bồi dưỡng tập chung. + Nâng cao công tác thi đua khen thưởng. 2 PHẦN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Cơ sở khoa học của việc xây dựng và bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở trường Trung học cơ sở 1. Cơ sở lý luận Thế kỷ XXI là thế kỷ của nền văn minh tri thức – tin học. Trong đó cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ. Thế giới đang bước vào thời kỳ hội nhập và xu thế toàn cầu hóa mà không một nước nào cưỡng lại được. Đất nước ta đang ở thời kỳ có nhiều thuận lợi cũng không ít khó khăn, thách thức. Mặt khác nước ta đang bước vào giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hóa. Muốn vậy phải phát triển mạnh nền giáo dục đào tạo nhằm tạo ra nguồn lực mới, nguồn vốn người có hàm lượng chất xám cao để phát triển kinh tế – xã hội tạo đà cho công nghiệp hoá - hiện đại hóa đất nước. Vì vậy trong các văn kiện của Đại hội Đảng đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” phát triển giáo dục là nhằm “nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài” để xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Bác Hồ đã từng nói “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có những con người xã hội chủ nghĩa”. Đó là những con người có nhân cách, có tri thức, sức khỏe, kỹ năng nghề nghiệp cao, tự chủ sáng tạo, có kỷ luật, yêu Chủ nghĩa xã hội. Thực tế cho thấy hiện nay cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới đã phát triển những bước nhảy vọt đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ – thông tin. Nhưng khoa học kỹ thuật có phát triển đến đâu thì đó cũng là những sản phẩm do con người phát minh, sáng chế tìm ra. Để có được những con người như thế thì phải có một nền giáo dục phát triển tương xứng với thời đại của nó. Công việc này không ai có thể làm được ngoài những nhà giáo dục và quản lý giáo dục mà đội ngũ giáo viên đóng vai trò quyết định. Bởi vì người thầy đã đào tạo nên những con người có nhân cách, có tri thức, có lý tưởng cao đẹp, những con người có đủ “ đức, trí, thể, mĩ, ” để xây dựng đất nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Người thầy giáo là người tổ chức, hướng dẫn gợi mở để người học tiếp thu một cách chủ động sáng tạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Hiện nay cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới phát triển mạnh mẽ đặc biệt là khoa học công nghệ – thông tin. Điều này tác động không nhỏ tới người 3 dạy và người học. Để xứng đáng với sự tôn vinh của xã hội, đáp ứng được yêu cầu đào tạo phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước đòi hỏi người thầy giáo phải có phẩm chất đạo đức, có năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm, có sức khỏe để biến các mục tiêu giáo dục thành hiện thực, góp phần đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Đạt được mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”. Cho nên đội ngũ giáo viên trường Trung học cơ sở là bộ phận chủ yếu tổ chức quá trình giáo dục nhằm tạo ra một sản phẩm đặc biệt đó là con người có hàm lượng chất xám cao, những người có đủ “Đức, trí, thể, mĩ” gắn bó với lí tưởng độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội... Với vị trí, vai trò, nhiệm vụ hết sức quan trọng như trên đội ngũ giáo viên phải là người có nhân cách – có phẩm chất đạo đức trong sáng, có năng lực chuyên môn nghiệp vụ cao, có lòng nhân ái mới đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội, của đất nước. Như chúng ta biết lao động sư phạm của người giáo viên là một loại lao động đặc biệt không giống với các loại lao động tạo ra sản phẩm ở các ngành nghề khác. Lao động sư phạm của người giáo viên vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật và tính nhân đạo cao, là lao động “trí tuệ” lao động “chất xám”. Sản phẩm lao động của người giáo viên là những con người toàn diện. Đặc biệt lao động của người giáo viên không được phép có “phế phẩm”. Bác Hồ đã dạy rằng “Nghề dạy học trước hết phải đem cả con người và cuộc đời mình ra mà dạy sau đó mới dùng lời để dạy”. Nghĩa là người thầy giáo muốn dạy học sinh trở thành những con người toàn diện trước hết người thầy phải dạy cho học sinh bằng chính nhân cách của mình. Như vậy người thầy giáo phải là người có đạo đức cách mạng, có lý tưởng cao đẹp, có tình cảm cộng đồng trong sáng, kiến thức vững, quý nghề – yêu trẻ hết lòng “Vì học sinh thân yêu”. Tâm huyết với nghề nghiệp, gần gũi, sâu sát yêu mến học sinh, làm cho học sinh tin và cảm phục cái “tâm” của người thầy. Mặt khác người giáo viên phải có một phương pháp dạy học tốt tạo hứng thú, sức hấp dẫn cho học sinh chủ động, sáng tạo trong học tập. Trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học, người giáo viên phải tìm ra cho mình một phương pháp truyền thụ “ngắn nhất” nhưng hiệu quả nhất, phải biết kết hợp nhiều yếu tố như ngôn ngữ, cử chỉ, giọng nói, điệu bộ, nét 4 mặt để truyền thụ kiến thức cho học sinh. Không những dạy cho học sinh kiến thức mà phải hướng dẫn cho học sinh cách học và con đường chiếm lĩnh và tự chiếm lĩnh tri thức, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Cho nên vấn đề đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là rất cần thiết và cấp bách rất cần các nhà quản lý giáo dục quan tâm. Vì thế trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học nếu có đủ những yếu tố nói trên, người giáo viên chắc chắn sẽ thành đạt trong sự nghiệp “trồng người” của mình. Nếu cả một tập thể giáo viên đều có đủ những yếu tố nói trên thì sẽ phát huy được hết sức mạnh tiềm năng, trí tuệ, sức mạnh tổng hợp thì chất lượng giáo dục sẽ được nâng lên. Do đó công tác xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trong trường trung học cơ sở cần phải đặt lên hàng đầu và phải được làm thường xuyên, liên tục. 2. Cơ sở thực tiễn. Việc nâng cao chất lượng cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên với định hướng là vấn đề then chốt cũng cho thấy yêu cầu cao đối với các nhân tố quan trọng có tầm quyết định đến sự đổi mới chất lượng của nền giáo dục nước ta. Thực tế sự tụt hậu của nền GD & ĐT không tách khỏi trình độ và kỹ năng quản lý của các nhà quản lý, và của cả ở chất lượng của đội ngũ giáo viên. Mặc dù ngành GD & ĐT cũng đã nỗ lực với những biện pháp khá mạnh tay, tuy nhiên sự thiếu đồng bộ và chưa thực sự kiên quyết cũng là một trong những nguyên nhân khiến chưa có sự chuyển biến tích cực. Trong bối cảnh đó, định hướng của Đại hội XI sẽ trở thành đòn bẩy thúc đẩy sự chuyển biến thực sự, bền vững cho nền GD & ĐT Việt Nam. Đội ngũ giáo viên trường Trung học cơ sở hiện nay hầu hết đã được đào tạo chính qui trình độ cao đẳng trở lên, song chất lượng không đồng đều. Một số giáo viên ra trường năng lực chuyên môn và năng lực sư phạm còn non, kinh nghiệm giảng dạy ít, phương pháp dạy chưa phù hợp nên hiệu quả chưa cao. giáo viên ở một số bộ môn còn thiếu như Mỹ thuật, Âm nhạc. Tất cả những khó khăn bất cập nói trên đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng giáo dục. Vì vậy xây dựng bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đòi hỏi người cán bộ quản lý nhà trường trực tiếp là hiệu trưởng phải hết sức quan tâm, đặt nhiệm vụ đó vào vị trí trọng tâm trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. 5 3. Cơ sở pháp lý. Điều 14 Chương I Luật giáo dục qui định “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục. Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện, nêu gương tốt cho người học”. Nhiệm vụ của người giáo viên được qui định rõ “giáo viên là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác”. Như vậy bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong trường trung học cơ sở thuộc về cán bộ quản lý nhà trường đứng đầu là hiệu trưởng nhằm xây dựng đội ngũ giáo viên nâng cao chất lượng giáo dục lên một bước. Cho nên người cán bộ quản lý nhà trường phải coi đây là một nhiệm vụ quan trọng quyết định chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. II. Thực trạng giáo dục và đội ngũ giáo viên của trường trung học cơ sở xã Hua Nà - Than Uyên - Lai Châu 1. Đặc điểm tình hình. Trường trung học cơ sở Hua Nà được thành lập ngày 15 tháng 8 năm 2008. nằm trên địa bàn xã Hua Nà là một xã mới được chia tách và thành lập. a. Năm học 2012 – 2013 trường có 8 lớp với 164 học sinh. b. Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên của trường: 23, trong đó: + Ban giám hiệu: 2 + Giáo viên : 18 Trong đó: Đại học : 13 Cao đẳng : 5 TH (10 + 3): 2 + Hành chính phục vụ: 3 c. Về tổ chức: + Chi bộ: 7 Đảng viên trong đó 7 đảng viên chính thức, 0 đảng viên dự bị. Cấp uỷ: 02 đồng chí (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng) + Công đoàn: 23 đoàn viên; BCH: 3 đồng chí ( 3 nữ). + Chi đoàn giáo viên: 12 đoàn viên, BCH gồm: 3 đồng chí + Đội ngũ giáo viên phân thành 2 tổ chuyên môn : 1. Tổ Tự nhiên: 10 giáo viên + 1 Hiệu trưởng 6 2.Tổ Xã hội: 8 giáo viên + 1 Phó hiệu trưởng + 3 nhân viên 2. Thuận lợi và khó khăn. a. Thuận lợi: Đội ngũ giáo viên trường trung học cơ sở Hua Nà là một tập thể đoàn kết thống nhất, giúp đỡ lẫn nhau, nhiệt tình trong công tác, tâm huyết với nghề nghiệp, có tính cộng đồng cao. Những thầy cô giáo lớn tuổi có tay nghề vững, có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy cũng như trong cuộc sống, Lực lượng giáo viên trẻ, năng động, ham hoạt động, hăng say và có chí tiến thủ. Hoạt động dạy và học có nề nếp, kỷ cương. Chất lượng giáo dục toàn diện được giữ vững và từng bước được nâng lên. Được sự quan tâm giúp đỡ của địa phương và của Phòng Giáo dục và Đào tạo trong mọi hoạt động của nhà trường. b. Khó khăn Đội ngũ giáo viên trẻ mới ra trường kinh nghiệm giảng dạy còn ít, trình độ chuyên môn không đồng đều, vẫn còn giáo viên dưới chuẩn. Một số ít nhận thức về nghiệp vụ, trách nhiệm còn hạn chế, trong cuộc sống đôi lúc chưa thật tế nhị nên dễ có những va vấp. Một số Giáo viên tuổi đã cao nên ý thức tự bồi dưỡng không cao, nhiều khi còn ỷ lại cho lớp trẻ. Giáo viên nữ nhiều đang ở tuổi sinh đẻ, nuôi con nhỏ nên thời gian đầu tư cho chuyên môn còn hạn chế. Cơ sở vật chất của nhà trường tuy mới được được xây dựng nhưng còn ngổn ngang. Khuôn viên nhà trường chật hẹp không đủ cho các hoạt động thể dục thể thao, hoạt động ngoài giờ lên lớp. Một số môn thiếu giáo viên như môn Mĩ thuật, Ngoại ngữ. 3 . Thực trạng đội ngũ giáo viên trường trung học cơ sở Hua Nà năm 2011 – 2012, 2012 – 2013. Bảng 1: Giới tính, độ tuổi Giới tính Tổng số Nam Nữ Độ tuổi Trên 40 tuổi 7 Từ 30 – 40 Dưới 30 tuổi 16 5 12 2 7 7 20 5 15 4 9 7 Bảng 2: Trình độ đào tạo Môn Tổng số Đảng viên Đại học Cao đẳng Toán 5 2 4 1 Lý 1 1 1 0 Sinh 1 1 Kỹ thuật CN 1 Văn 4 2 3 0 Sử 2 1 1 1 Địa 2 GDCD 1 Anh văn 1 Thể dục 1 1 Âm nhạc 1 1 Trung học 1 1 1 2 1 1 Bảng 3: Xếp loại chuyên môn Kết quả XL cuối Năm TS học GV năm Tốt Khá Kết quả GV dạy giỏi Đạt Cấp Cấp Cấp yêu cầu tỉnh huyện trường 2010 - 2011 14 6 6 2 1 10 2011- 2012 16 8 6 2 1 12 4 16 2012- 2013 ( Tính đến thời 20 điểm tháng 3/2013) 8 Ghi chú Nguyên nhân dẫn đến xếp loại chuyên môn chưa cao: Nhìn vào bảng thống kê về trình độ chuyên môn ta thấy giáo viên xếp loại về chuyên môn khá và đạt yêu cầu chiếm tới 50%, giáo viên đạt hội giảng của các cấp chưa nhiều. Một phần là do một số giáo viên mới ra trường nhận thức về tư tưởng chính trị, tình yêu nghề nghiệp còn chưa sâu sắc, tuổi nghề còn non trẻ, việc vận dụng kiến thức, sử dụng phương pháp còn nhiều hạn chế, thiếu kinh nghiệm trong giảng dạy nên cũng không tránh khỏi những khó khăn. Bên cạnh những nguyên nhân khách quan còn có những nguyên nhân chủ quan như bản thân mỗi giáo viên chưa có chí tiến thủ, nhận thức chưa đúng đắn về vai trò nhiệm vụ nên chưa tự giác trong học tập, trau dồi kiến thức, chuyên môn, đổi mới phương pháp. Việc chuẩn bị bài trước khi lên lớp của giáo viên đôi khi chưa kĩ lưỡng, thiếu sự nghiên cứu bài nên khi hướng dẫn học sinh còn lúng túng, chưa khắc sâu được kiến thức và đưa được kiến thức nâng cao vào bài học. Cách dạy của một số Giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc một cách máy móc vào sách giáo viên, chưa sát với đối tượng học sinh, ít sáng tạo, chưa sinh động, chưa cuốn hút được học sinh. Từ thực trạng của giáo viên trung học cơ sở trong huyện nói chung và những số liệu ở Trường trung học cơ sở Hua Nà nói riêng đặt ra cho ngưòi cán bộ quản lý phải quan tâm nhiều hơn đến việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, mạnh về chất lượng mới đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển đất nước và mới hoàn thành được các mục tiêu giáo dục. Trên cơ sở đó thấy rõ về thực trạng đội ngũ giáo viên ở trường trung học cơ sở. Trong mấy năm gần đây Ban giám hiệu Trường trung học cơ sở Hua Nà đã rất chú ý quan tâm đến việc bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên của trường. Sau đây là một số kinh nghiệm về bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mà bản thân tôi đã thực hiện. III. Các biện pháp đã tiến hành giải quyết vấn đề bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở trường trung học cơ sở xã Hua Nà 1. Một số công tác bồi dưỡng để nâng cao chất lượng 1.1. Bồi dưỡng nâng cao nhận thức tư tưởng chính trị 9 Hàng năm nhà trường phải tổ chức cho giáo viên học tập và học tập nghiêm túc luật giáo dục - điều lệ trường phổ thông các nội qui, qui chế chuyên môn, các qui định về kỷ cương nề nếp để cho mỗi giáo viên hiểu rõ trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của mình. Vì vậy cần phải tiến hành thường xuyên, liên tục để mọi giáo viên nhớ và thực hiện đúng. Đồng thời tổ chức học tập các chỉ thị nghị quyết, các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Các Văn bản pháp quy về giáo dục nhằm nâng cao nhận thức về mọi mặt cho giáo viên từ đó làm cho mỗi giáo viên vững vàng hơn, tự tin hơn và trách nhiệm hơn trong công tác. Khuyến khích và tạo các điều kiện về sách báo, phương tiện nghe nhìn để giáo viên đọc báo, nghe đài, xem ti vi để nâng cao nhận thức, mở mang, nắm bắt được những thông tin cần thiết phục vụ cho sự nghiệp giáo dục. Xây dựng mối quan hệ tình bạn, tình đồng chí, trân thành giữa các thành viên trong nhà trường, tăng cường mối quan hệ giữa các thành viên trong tập thể nhà trường như lòng yêu nước, yêu mến và tôn trọng đồng nghiệp, học sinh, quan tâm hợp tác giáo dục, lo lắng công việc chung của nhà trường, tinh thần trách nhiệm đối với xã hội, ý thức tổ chức, tôn trọng lãnh đạo. 1.2. Bồi dưỡng lòng nhân ái, năng lực sư phạm - Bồi dưỡng cho giáo viên lòng thương yêu học sinh, gắn bó với nghề nghiệp, làm cho mỗi giáo viên thấy được trách nhiệm của người thầy “Tất vả vì học sinh thân yêu”. Thực hiện phương châm “Kỷ cương, tình thương và trách nhiệm”. Thấy được lòng nhân ái là cái gốc của đạo lý làm người, với giáo viên thì đó là phẩm chất đầu tiên cần có, là điểm xuất phát của mọi sáng tạo sư phạm. - Bồi dưỡng cho giáo viên năng lực ứng xử các tình huống trong giảng dạy và giáo dục. - Bồi dưỡng cho giáo viên năng lực thiết kế giáo án môn học, năng lực ra đề thi, chấm thi, trả bài. - Đối với giáo viên chủ nhiệm cần bồi dưỡng năng lực tổ chức các hoạt động tập thể, năng lực thuyết phục, cảm hoá học sinh. 1.3. Bồi dưỡng tình yêu nghề nghiệp. Người Hiệu trưởng, Hiệu phó cần làm cho mỗi giáo viên gắn bó với nhà trường, đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, gắn bó cùng nhau xây dựng nhà trường vững 10 mạnh “càng yêu người bao nhiêu, càng yêu nghề bấy nhiêu”. Có yêu nghề thì người giáo viên mới dốc hết tâm huyết năng lực, trí tuệ, tình cảm của mình cho sự nghiệp “trồng người”. Đó chính là tâm đức, là trách nhiệm cao cả của người thầy giáo. 1.4. Bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Trong mấy năm gần đây trường trung học cơ sở Hua Nà đã chú ý đẩy mạnh công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên bằng nhiều hình thức. + Thứ nhất là bồi dưỡng thông qua hoạt động của nhóm tổ chuyên môn. - BGH nhà trường lựa chọn những giáo viên có năng lực chuyên môn tốt để làm cốt cán tổ chuyên môn. Đây là một hoạt động mang tính chất thường xuyên, một hoạt động chính để nâng cao hiệu quả giảng dạy. Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng tại tổ mang lại hiệu quả cao phù hợp với điều kiện của nhà trường. Tổ trưởng chuyên môn, giáo viên dạy giỏi các cấp là những cốt cán trong công tác bồi dưỡng. Cụ thể trong hoạt động này các nhóm tổ, tổ chức hoạt động theo các chuyên đề, trao đổi, thảo luận những vướng mắc trong phương pháp dạy, những vấn đề khó trong từng bài dạy để mọi giáo viên tham gia và cùng thống nhất phương cách hay nhất, tối ưu nhất. Trong sinh hoạt tổ thì ban giám hiệu có một người cùng tham gia với tổ đó để giải quyết những vấn đề nếu tổ không giải quyết được và phổ biến thêm kế hoạch sắp tới cần làm. Dự giờ, thăm lớp rút kinh nghiệm, tổ chức hội giảng nhân dịp các ngày lễ lớn như 20/11; 22/12; 26/3 v.v... Khi dạy chuyên đề thì trường để các tổ tự đăng ký tiết dạy, những tiết dạy chuyên đề không lan man chỉ tập trung vào những phân môn còn vướng mắc và khó khăn khi dạy. Sau mỗi tiết giảng nhóm tổ họp đóng góp ý kiến rút kinh nghiệm, chỉ ra những hạn chế, sai sót trong cách dạy, cách truyền thụ kiến thức, tác phong, trình bày bảng và đánh giá, xếp loại tiết dạy theo các tiêu chuẩn đã được qui định. Cả tổ thảo luận cùng tìm hướng giải quyết vấn đề như: Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh, phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực, rèn luyện đạo đức cho học sinh …, sau đó đề nghị lên nhà trường thống nhất và áp dụng với thực tế trường mình. Do đó muốn buổi sinh hoạt chuyên môn đạt chất lượng thì bản thân mỗi giáo viên cần phải cố gắng hơn. Thông qua các hoạt động này trình độ chuyên môn của giáo viên được điều chỉnh, bổ sung và được nâng lên rõ rệt. + Thứ hai là tự bồi dưỡng 11 - Giáo viên tự bồi dưỡng chuyên môn thông qua dự giờ đồng nghiệp trong trường hoặc ở các trường trong huyện. - Khuyến khích giáo viên tự mua thêm sách tham khảo quí, hiếm và tự học qua sách tham khảo, báo chí, tìm hiểu trên mạng ghi chép những kiến thức mình thấy có ích và cần thiết cho bản thân, các bài giải đề thi học sinh giỏi v.v... vào sổ tự bồi dưỡng. Cuối mỗi học kỳ nhà trường tiến hành kiểm tra kết quả tự bồi dưỡng của mỗi giáo viên và đánh giá, coi đây là một tiêu chí để bình xét danh hiệu thi đua. + Thứ ba là hình thức bồi dưỡng tập trung - Tạo điều kiện cho giáo viên đi dự các lớp tập huấn chuyên môn, dự giờ học hỏi chuyên môn ở các trường lân cận, học chuyên đề do Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ chức. Thường xuyên tiếp cận với chuyên môn của Phòng Giáo dục và Đào tạo để trao đổi kinh nghiệm, bồi dưỡng thêm cho giáo viên như: Kiến thức khoa học về bộ môn và các kiến thức liên quan. Phương pháp giảng dạy bộ môn với từng bài, kiểu bài. Sự sáng tạo, khả năng đúc rút và phổ biến kinh nghiệm. Khả năng tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về chuyên môn cho mình và đồng nghiệp. Chất lượng bài dạy, giờ dạy. Chất lượng học tập của học sinh. Để làm tốt được công việc này nhà trường phối hợp tham mưu với phòng Giáo dục thường xuyên cung cấp những tư liệu, tài liệu, thiết bị cần thiết liên quan đến nội dung kiến thức và phương pháp giảng dạy bộ môn. Phát huy, ủng hộ sự sáng tạo của giáo viên trong giảng dạy, vận dụng linh hoạt phương pháp giảng dạy. Tạo điều kiện để giáo viên đúc rút kinh nghiệm giảng dạy. Bồi dưỡng khả năng nắm bắt mục đích yêu cầu từng bài, kiểu bài; có đủ và vững vàng kiến thức để dạy tất cả các khối lớp. Đánh giá đúng chất lượng giảng dạy của giáo viên, kết quả học tập của học sinh. - Cũng như trong nhiều nhà trường, đội ngũ giáo viên của nhà trường đang gặp khó khăn về trình độ tin học. Vốn tin học của một số đồng chí còn hạn chế (như chưa biết sử dụng máy vi tính, chưa biết thiết kể bài giảng điện tử,…) đã cản trở rất lớn trong việc vận dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, giáo dục và nhiều hoạt động khác. Do 12 đó phải tổ chức bồi dưỡng năng lực tin học cho giáo viên, để giáo viên biết sử dụng máy vi tính hỗ trợ cho giảng dạy và các công tác khác. Tổ chức học lí thuyết sau đó hướng dẫn thực hành. Bản thân tôi đã soạn giảng bài giảng điện tử, lên lớp và một số giờ dạy có sử dụng máy chiếu để sử dụng một số hình ảnh của máy chiếu nhằm làm tiết học sinh động gắn với thực tiễn. Anh chị em giáo viên dự giờ, học tập kinh nghiệm. Sau đó cử những đồng chí là nòng cốt chuyên môn như tổ trưởng, giáo viên dạy giỏi cấp huyện thực hiện soạn giảng trước để đóng góp ý kiến, rút kinh nghiệm để làm tốt hơn. + Tạo mọi điều kiện về thời gian, về chế độ chính sách cho giáo viên có trình độ cao đẳng đi học tiếp để đạt trình độ đào tạo trên chuẩn. Ngoài ra nhà trường rất coi trọng xây dựng đội ngũ giáo viên cốt cán các môn học được đi học tập, rút kinh nghiệm ở các trường bạn, tham gia thi giáo viên giỏi cấp huyện. Tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi. Với cách làm này mấy năm qua một số giáo viên mới ra trường đã thực sự trưởng thành, tay nghề được nâng lên, chuyên môn vững vàng được học sinh và tập thể giáo viên tín nhiệm, tin tưởng. Năm học này theo nhận định trường đã đạt danh hiệu đơn vị lao động tiên tiến và đề nghị tặng giấy khen. + Thứ tư là phân công giáo viên có năng lực chuyên môn tốt giúp đỡ giáo viên có năng lực chuyên môn đạt yêu cầu. Giáo viên được phân công bồi dưỡng là giáo viên có uy tín trong trường, là nòng cốt chuyên môn. Giáo viên được phân công bồi dưỡng phải xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cụ thể từng tuần từng tháng sau đó duyệt với nhà trường. Sau đó dự giờ giúp đỡ về phương pháp, hình thức tổ chức lớp học, về kiến thức, về công tác chủ nhiệm lớp… Cũng có thể hành giảng dạy ngay trên lớp của giáo viên cần giúp đỡ để họ thấy được cùng đối tượng nhưng vận dụng tốt phương pháp và dạy phù hợp với đối tượng thì hiệu quả mang lại cao hơn. Sau đó ban giám hiệu dự giờ, kiểm tra xem mức độ tiến bộ của giáo viên cần giúp đỡ theo thời gian một tháng một lần. + Thứ năm là tổ chức cho giáo viên viết sáng kiến kinh nghiệm. Hướng dẫn giáo viên chọn nội dung cần tập trung vào các lĩnh vực như: Phát hiện và bồi dưỡng sinh giỏi, về các khía cạnh của giáo dục như về phương pháp giáo dục đạo đức, về giải bài tập, về xây dựng tập thể lớp về phương pháp giảng dạy v.v.... Cuối năm thành lập hội đồng chấm sáng kiến kinh nghiệm của trường, xếp loại và 13 chọn những sáng kiến kinh nghiệm có tính khả thi đã được áp dụng trong nhà trường gửi về Phòng Giáo dục và Đào tạo để xem xét, đánh giá công nhận và khen thưởng. Ngoài ra nhà trường còn tạo điều kiện cho cán bộ giáo viên đi học các lớp vi tính – tin học trong dịp hè, hướng dẫn cho giáo viên sử dụng máy chiếu để vận dụng công nghệ thông tin vào trong tiết dạy. Nhờ những biện pháp bồi dưỡng trên đây mà trình độ tay nghề, trình độ chuyên môn, nhân cách của thầy giáo được nâng lên một bước rõ rệt. 2. Biện pháp thi đua khen thưởng Để xây dựng đội ngũ giáo viên, Hiệu trưởng cần biết động viên tinh thần chủ động, tích cực của mỗi giáo viên, tạo bầu không khí cởi mở, phấn khởi, tin cậy lẫn nhau, giúp nhau hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời biểu dương khen thưởng kịp thời. - Tổ chức tốt hoạt động nhân ngày 20/11, tọa đàm giữa cán bộ quản lý với giáo viên nhằm ôn lại truyền thống nhà trường, trao đổi kinh nghiệm, tâm sự. Qua đây cũng để thể hiện sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường đối với giáo viên từ đó nâng cao tình thân ái, gắn bó, ý thức trách nhiệm cùng nhau xây dựng nhà trường. Song song với việc động viên tinh thần thì hiệu quả công tác cao của giáo viên cũng phải được động viên bằng vật chất để kích thích người lao động làm việc sáng tạo với năng suất cao hơn nữa. Muốn vậy đầu năm học nhà trường cần xây dựng được định mức về tiền thưởng thật rõ ràng tùy thuộc vào tài chính của nhà trường. Khuyến khích để cho giáo viên và tổ chuyên môn đăng ký danh hiệu thi đua. Cuối kỳ và năm học tổ chức đánh giá, xếp loại thi đua trên cơ sở hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ được giao cho cá nhân và tập thể. Khen thưởng không được bình quân chủ nghĩa, mà theo các mức để thưởng cho đúng, ứng với các loại khác nhau là các mức tiền thưởng khác nhau. Có như thế mới động viên, khuyến khích được mọi người phấn đấu vươn lên. Chẳng hạn, giáo viên đạt danh hiệu lao động giỏi thưởng 100.000đ, giáo viên đạt danh hiệu lao động tiên tiến là 70.000đ, giáo viên tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi bồi dưỡng có kết quả (có học sinh đạt học sinh giỏi Huyện) được nhà trường thưởng 100.000đ/học sinh đạt giải khuyến khích; 120.000đ/học sinh đạt giải ba, 150.000đ/ học sinh đạt giải nhì và 200.000đ/ học sinh đạt giải nhất… Bên cạnh đó nhà trường cũng đưa các biện pháp cứng rắn để sử lí các trường hợp Giáo viên vi phạm các qui định và điều lệ của nhà trường trung học cơ sở. 14 Tất cả các hình thức khen thưởng và sử lí kỉ luật này đều được Hội nghị giáo viên công chức đầu năm học thông qua. IV. Hiệu quả sau khi áp dụng công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trường trung học cơ sở xã Hua Nà * Chất lượng Giáo viên Năm học Giáo viên dạy Giáo viên giỏi Lao động Lao động giỏi cấp trường cấp Huyện giỏi tiên tiến 2010 - 2011 11 1 2 10 2011 - 2012 12 1 2 11 16 4 2012 – 2013 ( Tính đến 20/3/2013) * Chất lượng học sinh Năm Học lực Hạnh kiểm học G 2010- 2/152 34/152 92/152 2011 =1,3% =22,3% =60,6% =15,8% =52,6% =32,7% =13,1% 0,6% 2011- 4/155 31/155 99/155 93/155 43/155 2012 = 2,6% =20% =63,9% =13,5% = 60% =27,7% =12,3% K TB Y 24/152 21/155 T K TB 80/152 51/152 20/152 Y 1= 19/155 Qua 2 bảng trên đã phản ánh chất lượng giáo dục, chuyên môn của trường qua các năm học. Đồng thời cũng cho thấy rõ chất lượng đội ngũ giáo viên từng bước được nâng lên và chất lượng giáo dục cũng ngày càng tăng. Đó là những kết quả đáng phấn khởi. Kết quả này có được là do công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên của Ban giám hiệu trường trung học cơ sở Hua Nà - Than Uyên đã quan tâm đúng mức, đúng hướng. Hy vọng trong những năm tới trường trung học cơ sở Hua Nà - Than Uyên có đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và ngày càng phát triển đi lên, hoàn thành tốt nhiệm vụ và mục tiêu giáo dục của Đảng đáp ứng được yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. 15 PHẦN KẾT LUẬN I. Những bài học kinh nghiệm Sau khi nghiên cứu và áp dụng vào đơn vị thì bản thân tôi đã đúc rút ra bài học kinh nghiệm sau: - Trong công tác quản lý: + Người Hiệu trưởng phải gương mẫu trong mọi công việc, luôn tâm huyết với nghề, luôn luôn phấn đấu, không ngừng học hỏi để nâng cao chuyên môn cũng như trong công tác quản lí chỉ đạo. + Để bồi dưỡng giáo viên, Hiệu trưởng phải biết động viên tinh thần chủ động, tích cực của mỗi giáo viên, tạo bầu không khí cởi mở, phấn khởi, tin cậy lẫn nhau, giúp nhau hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời biểu dương khen thưởng kịp thời. + Phối kết hợp tốt với các đoàn thể (Chi bộ, Công đoàn, Đội, Đoàn Thanh niên, ...), tổ khối để chỉ đạo tốt các hoạt động, bồi dưỡng nâng cao chất lượng trong nhà trường. - Trong công tác chuyên môn: Chỉ đạo dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng trong chương trình giáo dục trung học cơ sở, vận dụng các Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo khuyến khích khả năng tự học của học sinh. Tăng cường ứng dụng Công nghệ thông tin hợp lý, tổ chức dạy học sát đối tượng, sử dụng hợp lý. Bồi dưỡng cho Giáo viên dưới nhiều hình thức. II. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm Xây dựng và bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở trong trường trung học cơ sở trong điều kiện cơ sở vật chất còn khó khăn là một việc rất quan trọng nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường . III. Khả năng ứng dụng, triển khai + Đã được áp dụng có hiệu quả đơn vị trường trung học cơ sở xã Hua Nà. + Sáng kiến kinh nghiệm có thể áp dụng trong trường trung học sơ sở. IV. Phần kiến nghị - Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo: Có cơ chế tuyển dụng giáo viên phù hợp để cho các trường chủ động trong việc phân công nhiệm vụ cho giáo viên. 16 + Chỉ đạo thiết bị trường học cung cấp kịp thời tài liệu – sách vở, dụng cụ thí nghiệm đủ nhu cầu giảng dạy và học tập nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. 17 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc khóa 7, 8, 9, 10, 11. 3. Nghị quyết TW 2 khóa 8. 4. Luật Giáo dục năm 2007. 5. Điều lệ trường phổ thông. 6. Các giáo trình của Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục và Đào tạo. 7. Nguyễn Bá Sơn. Một số vấn đề về khoa học quản lý. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội năm 2000. 8. Các số liệu trong báo cáo hàng năm của Trường THCS Hua Nà. 18 MỤC LỤC Phần mở đầu I. Lý do chọn đề tài 1 II. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 2 III. Mục đích nghiên cứu 2 IV. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu 2 Phần giải quyết vấn đề I. Cơ sở khoa học của việc xây dựng và bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở trường Trung học cơ sở 3 1. Cơ sở lí luận 3 2. Cơ sở thực tiễn 5 3. Cơ sở pháp lí 6 II. Thực trạng giáo dục và đội ngũ giáo viên của trường trung học cơ sở xã Hua Nà - Than Uyên - Lai Châu 6 1. Đặc điểm tình hình 6 2. Thuận lợi và khó khăn 7 3. Thực trạng đội ngũ giáo viên trường THCS Hua Nà năm 2011 – 2012 7 III. Các biện pháp đã tiến hành giải quyết vấn đề xây dựng, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở trường trung học cơ sở xã Hua Nà 9 1. Một số công tác bồi dưỡng để nâng cao chất lượng. 9 2. Biện pháp thi đua khen thưởng 14 IV. Hiệu quả sau khi áp dụng công tác xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên 15 trường trung học cơ sở xã Hua Nà Phần kết luận I. Những bài học kinh nghiệm 16 II. Ý nghĩa của SKKN 16 III. Khả năng ứng dụng triển khai. 16 19 IV. Phần Kiến nghị 16 Tài liệu tham khảo 18 Mục lục 19 20
- Xem thêm -