Tài liệu Hình tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn của lỗ tấn

  • Số trang: 79 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 428 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39837 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI ----- ----- LÊ THỊ MỸ HẢO HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA LỖ TẤN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: SƯ PHẠM NGỮ VĂN Hệ đào tạo: Chính quy Khoá học: 2011 - 2015 ĐỒNG HỚI, NĂM 2015 TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI ----- ----- LÊ THỊ MỸ HẢO HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA LỖ TẤN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: SƯ PHẠM NGỮ VĂN Hệ đào tạo: Chính quy Khoá học: 2011 - 2015 NGƯỜI HƯỚNG DẪN ThS. NGUYỄN THỊ QUẾ THANH ĐỒNG HỚI, NĂM 2015 L ic m n Xin kính gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo – Th.S Nguyễn Thị Quế Thanh đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận. Xin chân thành bày tỏ lòng kính biết ơn sâu sắc tới Quý Thầy, Cô giáo Khoa Khoa học Xã hội, Quý Thầy, Cô giáo của Trường Đại học Quảng Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em bồi dưỡng tri thức và hoàn thành khóa học của mình. Xin được bày tỏ lòng tri ân sâu nặng tới gia đình và bạn bè đã chia sẻ, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian qua. Trong quá trình thực hiện khóa luận này do điều kiện thời gian cũng như năng lực còn hạn chế nên chắc chắn còn tồn tại nhiều thiếu sót, mong nhận được sự góp ý của Quý Thầy, Cô giáo để đề tài hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn! Tác giả Lê Thị Mỹ Hảo LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn của cô giáo – Th.S Nguyễn Thị Quế Thanh. Các tài liệu, những nhận định trong khoá luận là hoàn toàn trung thực. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này. Đồng Hới, tháng 6 năm 2015 Tác giả khóa luận Lê Thị Mỹ Hảo MỤC LỤC MỞ DẦU .................................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................. 1 2. Lịch sử vấn đề ...................................................................................................... 2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................................... 4 4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................... 4 5. Đóng góp của khóa luận ....................................................................................... 5 6. Bố cục khóa luận .................................................................................................. 5 NỘI DUNG................................................................................................................. 6 CHƯƠNG 1. GIỚI THUYẾT CHUNG .................................................................... 6 1.1. Khái niệm .......................................................................................................... 6 1.1.1. Nhân vật văn học ......................................................................................... 6 1.1.2. Hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học ............................................... 6 1.1.2.1. Hình tượng nhân vật .............................................................................. 6 1.1.2.2. Hình tượng nhân vật nữ ......................................................................... 7 1.2. Lỗ Tấn – bậc thầy về truyện ngắn ........................................................................ 8 1.2.1. Vài nét về tiểu sử .......................................................................................... 8 1.2.2. Sự nghiệp văn học....................................................................................... 10 1.2.3. Giới thuyết về truyện ngắn và truyện ngắn của Lỗ Tấn ................................. 12 CHƯƠNG 2. HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NỮ THỂ HIỆN TRONG QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI .............................................................. 16 2.1. Số phận bất hạnh ............................................................................................. 17 2.1.1. Bất hạnh trong hôn nhân và gia đình.......................................................... 17 2.1.2. Bất hạnh bởi những hủ tục phong kiến ...................................................... 24 2.2. Phẩm chất tốt đẹp ............................................................................................ 30 2.2.1. Lòng nhân hậu và đức hi sinh .................................................................... 30 2.2.2. Niềm tin cuộc sống và khát khao hạnh phúc .............................................. 33 2.2.3. Ý thức phản kháng..................................................................................... 38 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 .......................................................................................... 42 CHƯƠNG 3. HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NỮ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT ........................................................................................................ 44 3.1. Nghệ thuật miêu tả........................................................................................... 44 3.1.1. Miêu tả ngoại hình ..................................................................................... 44 3.1.2. Miêu tả hành động ..................................................................................... 50 3.1.3. Miêu tả cảnh vật ........................................................................................ 54 3.2. Ngôn ngữ nhân vật .......................................................................................... 57 3.2.1. Ngôn ngữ đối thoại .................................................................................... 58 3.2.2 Ngôn ngữ độc thoại .................................................................................... 62 3.3. Giọng điệu ....................................................................................................... 64 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 .......................................................................................... 68 KẾT LUẬN .............................................................................................................. 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 72 MỞ DẦU 1. Lý do chọn đề tài Văn học Trung Quốc có bề dày lịch sử hàng ngàn năm. Từ lâu, chúng ta được tiếp xúc với các tác phẩm văn học Trung Quốc như: Vọng Lư sơn bộc bố, Tĩnh dạ tứ, Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng của Lí Bạch, Mao ốc vị thu phong sở phá ca, Thu hứng của Đỗ Phủ, Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Cố hương, Thuốc của Lỗ Tấn… Và cái tên Lỗ Tấn đã trở nên rất gần gũi quen thuộc của nhiều thế hệ độc giả Việt Nam. Lỗ Tấn là một trong số không nhiều nhà văn có đề tài hấp dẫn độc giả bao thế hệ. Lỗ Tấn không chỉ là gương mặt tiêu biểu của văn học hiện đại Trung Hoa mà còn là nhà văn lớn của thế giới. Sáng tác của Lỗ Tấn đã góp phần giúp dân tộc mình thoát khỏi “liệt căn tính quốc dân” và trở thành đề tài lớn của nhiều nhà nghiên cứu văn học. Tìm hiểu về nhà văn Lỗ Tấn, chúng tôi nhận thấy đề tài người phụ nữ xuất hiện khá nhiều trong sáng tác của Lỗ Tấn, đặc biệt là qua hai tập truyện ngắn “Gào thét” và “Bàng hoàng”. Lỗ Tấn là nhà văn có cái nhìn tiến bộ về phụ nữ. Hình ảnh người phụ nữ hiện lên trong tác phẩm của ông đầy bi kịch nhưng cũng tiềm ẩn sức mạnh của sự phản kháng. Lỗ Tấn trân trọng, lên tiếng đòi quyền bình đẳng, tự do cho họ và gián tiếp chỉ ra con đường giải phóng phụ nữ cũng là để giải phóng nhân dân. Nghiên cứu đề tài “Hình tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn của Lỗ Tấn” giúp chúng tôi nhận thức rõ hơn về hình ảnh người phụ nữ Trung Quốc nói chung và phụ nữ trong sáng tác của Lỗ Tấn nói riêng. Đề tài này sẽ là nguồn tư liệu phục vụ cho việc học tập và giảng dạy sau này. Mặt khác, trong quá trình nghiên cứu đề tài, người viết sẽ học tập ở Lỗ Tấn một tấm lòng cao cả, tinh thần chiến đấu mạnh mẽ, can đảm. Với tất cả những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Hình tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn của Lỗ Tấn” làm khóa luận tốt nghiệp của mình. Chúng tôi hy vọng rằng đây sẽ là một tài liệu bổ ích giúp bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu thế giới nhân vật vô cùng phong phú và hấp dẫn trong truyện ngắn của Lỗ Tấn. Đồng thời giúp cho độc giả cũng như bản thân người thực hiện đề tài thêm lòng kính yêu, quý trọng những tinh hoa nghệ thuật được chắt lọc từ cuộc đời và tâm huyết của nhà văn Lỗ Tấn, cũng từ đó việc học tập và nghiên cứu về Lỗ Tấn sẽ trở nên dễ dàng hơn. 1 2. Lịch sử vấn đề Là nhà văn hiện thực vĩ đại của Trung Quốc, Lỗ Tấn đã để lại cho dân tộc Trung Hoa nói riêng và nhân loại nói chung một sự nghiệp sáng tác đồ sộ, phong phú, đặc biệt là truyện ngắn với hai tập truyện tiêu biểu Gào thét và Bàng hoàng. Với những giá trị vốn có của nó đã có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá, nhận xét về truyện ngắn của ông và hầu như ở các công trình nghiên cứu đó đều có sự thống nhất đặt ông ở vị trí “bậc thầy của truyện ngắn”. Xem xét tình hình nghiên cứu truyện ngắn của Lỗ Tấn, có những công trình nghiên cứu giá trị nội dung, có công trình nghiên cứu nghệ thuật biểu hiện. Riêng về hình tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn của Lỗ Tấn có một số công trình nghiên cứu đề cập đến nhưng chưa thực sự hệ thống, trong đó điển hình như: Trong Lỗ Tấn – Tác phẩm và tư liệu, Anh Đức đã nói lên cảm xúc của mình khi lần đầu tiên đọc Lễ cầu phúc. “Giữa cảnh tượng tưng bừng của lễ cầu phúc ấy, Lỗ Tấn dẫn ta tới gặp một người vô phúc nhất, là chị Tường Lâm, với cái câu hỏi rùng rợn của chị: Ông à… ông là người có chữ nghĩa, tôi muốn hỏi một điều: con người ta chết rồi thì liệu còn linh hồn nữa không ông?” [17, 359]. Lỗ Tấn đã dành mối quan tâm đặc biệt đến những con người có số phận bất hạnh trong xã hội. Và qua đó ta hiểu được “bao trùm lên tất cả truyện ngắn Lỗ Tấn là tình yêu thương con người, là tinh thần nhân đạo và nhân bản thấm đậm nơi ông” [17, 356]. Lương Duy Thứ trong Bài giảng Văn học Trung Quốc đã nhắc đến nỗi đau day dứt tâm hồn thím Tường Lâm cho đến khi chết có thể nói là “muốn làm nô lệ mà không được”. Trong giáo trình này, Lương Duy Thứ cũng đã khẳng định: “Lỗ Tấn đã nêu lên một vấn đề có ý nghĩa: yêu cầu giải phóng cá tính và tự do hôn nhân không thể giải quyết đơn độc và tách rời yêu cầu giải phóng xã hội. Cho nên, cô nữ sinh Tử Quân đã dũng cảm đứng lên đấu tranh giành tình yêu tự do và hôn nhân tự chủ” [18, 311]. Trong Lỗ Tấn – Linh hồn dân tộc Trung Hoa hiện đại, Trần Lê Hoa Tranh cũng đã đi vào tìm hiểu bi kịch của người phụ nữ qua truyện ngắn tiêu biểu của Lỗ Tấn. Ở công trình này, tác giả đã khẳng định bằng ngòi bút của mình Lỗ Tấn không ngần ngại hào hứng xây dựng hình ảnh người phụ nữ mới của Trung Quốc tương lai độc lập, tự tin, không lệ thuộc vào người khác, có quyền làm chủ vận mệnh của mình. Trần Lê 2 Hoa Tranh cũng nhận định về những người phụ nữ biết đấu tranh cho quyền lợi của mình: “Ái là người phụ nữ mạnh mẽ, đốp chát và triệt để. Cô quyết tâm đi tìm lẽ công bằng cho cuộc hôn nhân đã tan vỡ của mình. Cô là hình tượng phụ nữ đầu tiên của Lỗ Tấn dám đứng lên chống lại sự bất công, áp bức của lễ giáo phong kiến, sự đè nén vô nhân đạo, sự tôn vinh chế độ nam quyền” [19, 60]. Và cũng ở công trình này, tác giả Trần Lê Hoa Tranh tiếp tục nhấn mạnh về số phận bất hạnh của người nông dân trong đó có hình ảnh của người phụ nữ: “Hình ảnh chị Tư Thiền và chị Tường Lâm đều là chân dung những người phụ nữ nông dân bất hạnh nhất trong văn học hiện đại Trung Quốc: chồng chết, ở vậy nuôi con, con chết, họ cô đơn ngay giữa đồng loại của mình vì không tìm được sự cảm thông” [19, 59]. Trong Lí luận văn học Mác – Lênin tập III, Phương Lựu cho rằng: “viết “Lễ cầu phúc”, nếu không liên hệ với mấy nghìn năm đen tối của thống trị phong kiến, vạch ra sự đàn áp của những thứ tôn pháp lễ giáo, đạo đức, mê tín trong chế độ phong kiến đối với người phụ nữ bình thường, mà chỉ căn cứ vào cuộc sống trước mắt, từ tình cảm bơ vơ của một người phụ nữ nghèo khổ, rồi viết những chuyện như chị Tường Lâm lo sợ, cúng tiền “quyên” ngạch cửa để chuộc tội, bị Lỗ Tấn khinh miệt… thì dẫu có viết bi thảm hơn nữa, ý nghĩa câu chuyện nhất định cũng nghèo nàn” [8, 669]. Đọc một vài truyện ngắn tiêu biểu của Lỗ Tấn, trước mắt người đọc hiện ra không phải chỉ là một vài mẫu đoạn nhỏ trong đời người, mà buộc chúng ta phải liên tưởng đến một giai đoạn lịch sử. Trong giáo trình Văn học thế giới tập 2, khi giới thiệu về tập Bàng hoàng tác giả có viết: “Hai loại nhân vật được chú ý khắc họa nhiều nhất ở trong tuyển tập này là phụ nữ và trí thức” [22, 235]. Ngoài ra, tác giả còn đưa ra nhận xét: “Lễ cầu phúc và Ly hôn là hai tác phẩm xuất sắc của Lỗ Tấn viết về người phụ nữ nông thôn. Thím Tường Lâm cũng như cô Ái là những người phụ nữ nông dân vốn mạnh mẽ, khát khao hạnh phúc song cuối cùng đều chịu thất bại trước uy quyền của lễ giáo và pháp luật phong kiến” [22, 235]. Qua đó cho thấy, tác giả đã miêu tả hết sức sinh động những xung đột, mâu thuẫn của nhân dân và xã hội phong kiến, đồng thời nói lên không khí ngột ngạt của xã hội đương thời. Từ những tư liệu trên cho thấy, các công trình nghiên cứu về truyện ngắn của Lỗ Tấn thì rất nhiều, tuy nhiên chúng tôi chưa nhận thấy một công trình nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về hình tượng nhân vật nữ. Chúng tôi chọn đề tài “Hình 3 tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn của Lỗ Tấn” để góp thêm tiếng nói vào việc nghiên cứu về nhà văn lỗi lạc này. Hi vọng khóa luận tốt nghiệp của chúng tôi sẽ đóng góp một hướng tiếp cận mới khi nghiên cứu về truyện ngắn của Lỗ Tấn. Trong quá trình triển khai đề tài chúng tôi sẽ tiếp thu có chọn lọc ý kiến của các thế hệ đi trước. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Hình tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn của Lỗ Tấn. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Sáng tác của Lỗ Tấn rất phong phú và đa dạng. Do điều kiện nên chúng tôi chỉ khảo sát hai tập truyện ngắn Gào thét và Bàng hoàng. 4. Phương pháp nghiên cứu Để hoàn thành đề tài này chúng tôi vận dụng phối hợp các phương pháp sau: 4.1. Phương pháp lịch sử - xã hội Khi nghiên cứu văn học chúng ta cần phải đặt vấn đề nghiên cứu vào thời điểm mà hiện tượng văn chương đó ra đời và phát triển, xuất phát từ lịch sử - xã hội để khai thác những nội dung lịch sử - xã hội của tác phẩm văn học. Có như vậy mới đảm bảo tính khách quan khoa học, chống khuynh hướng nghệ thuật vị nghệ thuật và xuất phát từ lập trường phục vụ chính trị, phục vụ đấu tranh xã hội. 4.2. Phương pháp so sánh, đối chiếu Người viết sử dụng phương pháp này để so sánh, đối chiếu hình tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn của Lỗ Tấn với các nhà văn khác nhằm chỉ ra những điểm tương đồng cũng như sự sáng tạo, sự mới mẻ của Lỗ Tấn. 4.3. Phương pháp phân tích – tổng hợp Trên cơ sở những tư liệu đã được khảo sát, người viết tập trung đề cập vào những vấn đề cần thiết nhất, có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Để làm sáng rõ các luận điểm cần triển khai trong khóa luận, chúng tôi sẽ đi vào phân tích các dẫn chứng bằng một số tác phẩm tiêu biểu, sau đó tiến hành tổng hợp, khái quát và đi đến khẳng định vấn đề. 4 Ngoài những phương pháp nêu trên, người viết còn sử dụng một số phương pháp bổ trợ khác như phương pháp khảo sát, phương pháp diễn dịch kết hợp quy nạp, phương pháp chứng minh luận điểm… Những phương pháp này sẽ có tác dụng làm cho những vấn đề đưa ra sẽ được giải quyết một cách rõ ràng, sâu sắc hơn và hoàn thiện hơn. 5. Đóng góp của khóa luận Qua khóa luận này, người viết muốn chỉ ra những đóng góp cũng như vị trí của Lỗ Tấn đối với nền văn học hiện đại Trung Quốc. Phân tích những đặc trưng hình tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn của ông. Đồng thời đưa ra cách tiếp cận mới về nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn của Lỗ Tấn. Có được những đóng góp trên, khóa luận sẽ là một tài liệu bổ ích cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy truyện ngắn của Lỗ Tấn ở Việt Nam. 6. Bố cục khóa luận Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận được cấu trúc thành ba chương như sau: Chương 1: Giới thuyết chung Chương 2: Hình tượng nhân vật nữ thể hiện trong quan niệm nghệ thuật về con người Chương 3: Hình tượng nhân vật nữ nhìn từ phương diện nghệ thuật 5 NỘI DUNG CHƯƠNG 1 GIỚI THUYẾT CHUNG 1.1. Khái niệm 1.1.1. Nhân vật văn học “Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật. Nó mang tính ước lệ, không đồng nhất với con người có thật, ngay khi tác giả xây dựng nhân vật với những nét rất gần với nguyên mẫu có thật. Nhân vật là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người; nó có thể được xây dựng trên cơ sở quan niệm ấy” [1, 242]. Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học. Nhân vật có thể có tên riêng như Thúy Kiều, Kim Trọng, Xuân Tóc Đỏ, Chí Phèo, Bá Kiến, A Phủ, Mị… hoặc không có tên riêng mà nhà văn đặt ra một cách ước lệ như “thằng bán tơ” (trong Truyện Kiều của Nguyễn Du), “chị vợ nhặt” (trong Vợ nhặt của Kim Lân)… Nhân vật không nhất thiết phải mang hình hài của con người mà có thể đội lốt vật, muông thú, cây cỏ hay lốt của những sinh thể hoang đường, có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một người cụ thể nào cả, mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm. Là phương tiện nghệ thuật nhằm khai thác những nét thuộc đặc tính con người, nhân vật có ý nghĩa trước hết ở các loại văn tự sự và kịch, ở sân khấu, điện ảnh, điêu khắc, đồ họa. Các thành tố tạo nên nhân vật gồm: tinh thần của cá nhân, tư tưởng, các lợi ích đời sống, thế giới cảm xúc, ý chí, các hình thái ý thức và hành động. Nhân vật là phương tiện khái quát tính cách số phận con người. 1.1.2. Hình tượng nhân vật trong tác phẩm văn học 1.1.2.1. Hình tượng nhân vật Theo góc độ văn học và nghệ thuật, hình tượng được hiểu là sự phản ánh hiện thực một cách khái quát về nghệ thuật dưới hình thức những hiện tượng cụ thể, sinh động, điển hình, nhận thức trực tiếp bằng cảm tính. Hình tượng văn học trong tác phẩm luôn là phương tiện hình thức để nhà văn bộc lộ giá trị tư tưởng và phong cách nghệ thuật của mình. Mỗi nhà văn khi cầm bút phải không ngừng sáng tạo tìm tòi để xây dựng hình tượng nhân vật tiêu biểu đặc sắc. 6 Không phải tác phẩm văn học nào cũng có hình tượng văn học, không phải nhân vật nào trong tác phẩm văn học đều trở thành hình tượng nhân vật văn học. Để trở thành hình tượng nhân vật phải là: “tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình” [7, 161]. Nghĩa là nhân vật văn học ấy phải có sức tập trung khái quát cao. Nhân vật ấy phải có những nét chung nhất của tầng lớp, giai cấp… mà mình đại diện. Và bối cảnh xã hội mà nhân vật ấy xuất hiện phải là bối cảnh điển hình của một vùng, một nơi nào trong một thời điểm nhất định. Như vậy, hình tượng nhân vật là nhân vật điển hình trong tác phẩm văn học, mang đậm nét khái quát của tầng lớp, giai cấp của nhân vật ấy, đồng thời là nhân vật có những nét riêng đặc biệt, xuất hiện trong bối cảnh điển hình mà tác phẩm văn học ấy thể hiện. 1.1.2.2. Hình tượng nhân vật nữ Khi nhắc đến hình tượng nhân vật nữ, chúng ta chợt nhớ đến hai câu thơ bất hủ của Nguyễn Du: Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung. Nàng Kiều của Nguyễn Du, người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, chị Dậu của Ngô Tất Tố hay nàng Anna Karenina của Lev Tonstoi, Tachiana của Pushkin… mỗi người đều đau những nỗi đau riêng của mình, không có nỗi đau nào giống với nỗi đau nào. Tất cả đều là những phận đàn bà bạc mệnh. Đã từ lâu trong văn học thế giới cũng như văn học Trung Quốc, thân phận người phụ nữ luôn giữ một vị trí trung tâm và là đối tượng chính để tác giả thể hiện quan niệm nhân sinh của mình. Từ trong bản chất, văn chương bao giờ cũng gần gũi với nữ giới hơn là nam giới và bởi thế, nhân vật bi kịch của văn học thường là nhân vật nữ, những số phận và nạn nhân đau đớn của biết bao thế lực, cả hữu hình lẫn siêu hình. Hiểu ở một ý nghĩa có tính chất khái quát hơn, thân phận người phụ nữ cũng chính là thân phận của con người nói chung. Và quả thật, chúng ta không hiểu được văn chương tồn tại để làm gì, nếu không nói lên được một cách trung thực tiếng nói của thân phận con người… Các tác giả đã thể hiện sự bênh vực, cảm thông chia sẻ với người phụ nữ trước thế lực của xã hội phong kiến – một xã hội trọng nam khinh nữ, để lại bao thiệt thòi cho họ. Điều này ảnh hưởng lớn đến nhân vật nữ trong sáng tác của Lỗ Tấn. 7 Nhân vật nữ trong văn học ngày càng phong phú và đa dạng. Bên cạnh những đức tính dịu dàng, cần cù chịu khó, họ còn là những người bản lĩnh, có niềm tin, luôn khát khao hạnh phúc và có tinh thần phản kháng mạnh mẽ. Đó cũng chính là thông điệp mà Lỗ Tấn đã gửi gắm qua hình tượng nhân vật nữ trong truyện ngắn của ông. Người viết đề tài này cũng mong muốn với khả năng của mình giúp cho người đọc có được sự cảm thông và chia sẻ đối với số phận bất hạnh của người phụ nữ, đồng thời cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ Trung Quốc nói riêng và người phụ nữ toàn thế giới nói chung. 1.2. Lỗ Tấn – bậc thầy về truyện ngắn 1.2.1. Vài nét về tiểu sử Lỗ Tấn tên thật là Chu Thụ Nhân, tự là Dự Tài, sinh ngày 25 tháng 9 năm 1881 trong một gia đình nho học tại phủ thành Thiệu Hưng thuộc tỉnh Chiết Giang. Năm 1881 tức là sau chiến tranh nha phiến bốn mươi năm, sau Hồng Dương cách mạng ba mươi năm, bấy giờ bản thân phong kiến Trung Quốc đã hủ bại suy đồi, thế lực xâm nhập của đế quốc như Anh, Pháp đã bắt đầu lan rộng nhiều nơi trong nước, nhân dân đã thêm bần cùng thống khổ vì chịu sự bóc lột đè nén của cả hai phía. Lỗ Tấn trưởng thành cũng là lúc triều đình Mãn Thanh càng ngày càng suy yếu đổ nát. Trung Quốc dần dần trở thành một nước nửa thuộc địa. Từ sáu tuổi đến mười bảy tuổi, ông đã đọc đủ các sách kinh sử, có vốn cựu học chắc chắn. Năm mười sáu tuổi cha chết, cảnh nhà sa sút, bị người xung quanh khinh rẻ, Lỗ Tấn bắt đầu có ý đoạn tuyệt với quê hương. Năm mười tám tuổi, nhờ bà mẹ chạy cho được tám đồng bạc đi đến Nam Kinh, thi vào Thủy sư học đường, sau chuyển sang Khoáng lộ học đường. Bốn năm tốt nghiệp, được tuyển đi du học Nhật Bản. Trong bốn năm Lỗ Tấn học ở Nam Kinh ấy, Trung Quốc xảy ra ba việc lớn: Chính biến Mậu Tuất năm 1898, Nghĩa hòa đoàn đấu tranh phản đế và liên quân tám nước đánh Bắc Kinh năm 1990, ký điều ước Tân Sửu năm 1901. Một người thanh niên mới ngoài hai mươi tuổi có học thức, có chí khí như Lỗ Tấn mà gặp những biến cố ấy chắc phải suy nghĩ nhiều lắm. Ở Nhật Bản học lớp dự bị hai năm rồi vào học thuốc ở trường y học Tiên Đài. Được hai năm, bỏ học thuốc, bắt đầu có quyết tâm quay sang công tác văn nghệ. Bấy giờ thanh niên Trung Quốc lưu học ở Nhật Bản đông lắm, và tại đó, hai phe chính trị đối lập của Trung Quốc, phe cách mạng của Tôn Trung Sơn và phe bảo hoàng của 8 Lương Khải Siêu đều có cơ quan tuyên truyền, công kích nhau kịch liệt. Tất nhiên là Lỗ Tấn đứng về phía phe cách mạng. Ông có gia nhập Quang phục hội là một đoàn thể cách mạng. Ở Nhật Bản cả thảy tám năm, đến năm 1909, Lỗ Tấn về nước. Vì gia đình nghèo túng, gửi thư mong ông về giúp đỡ sự sống cho gia đình nên ông phải về. Về nước rồi, ông làm giáo sư trong mấy trường trung học tỉnh nhà, dạy về vật lý học, hóa học. Đến năm 1911 thì có cuộc Cách mạng Tân Hợi, Lỗ Tấn cũng có tham gia hoạt động ít nhiều tại nơi mình ở. Năm 1912, sau khi chính phủ lâm thời thành lập tại Nam Kinh, ông nhận lời mời của Thái Nguyên Bồi, bộ trưởng Bộ Giáo dục, đi làm một chức viên trong bộ ấy theo chính phủ dời lên Bắc Kinh, ở đó cho đến năm 1926. Trong khi làm chức viên ở Bộ Giáo dục, Lỗ Tấn có kiêm làm giảng sư ở mấy trường đại học tại Bắc Kinh. Năm 1917, nhân việc Trương Huân "phục tích", ông phẫn mà từ chức ở Bộ Giáo dục trong hai tuần lễ. Trương Huân thất bại, ông lại phục chức. Tháng 8 năm 1925, nhân Chương Sĩ Chiêu, bộ trưởng Bộ Giáo dục đàn áp học sinh, Lỗ Tấn phản đối ra mặt, bị Chương Sĩ Chiêu cách chức, nhưng sang đầu năm sau, sau khi Chương Sĩ Chiêu hạ dã, ông được phục chức, làm việc ở Bộ Giáo dục như cũ. Ngày 18 tháng 3 năm 1926, học sinh và công nhân Bắc Kinh có một cuộc biểu tình, bị chính phủ Đoàn Kỳ Thụy thẳng tay đàn áp, bắn chết và bị thương hơn hai trăm người. Chúng đổ cho cuộc biểu tình ấy là cuộc bạo động của Đảng cộng sản mà Lỗ Tấn là một người trong đám lãnh đạo, ra sức trát nã. Ông phải lánh nạn trong mấy bệnh viện ngoại quốc, đến tháng 5 mới trở về nhà. Và liệu không thể yên thân được, tháng 8 ông bèn lìa Bắc Kinh, đi Phúc Kiến, làm giáo thụ ở trường Hạ Môn đại học. Ở Phúc Kiến cũng không yên thân, tháng giêng năm 1927, ông đi đến Quảng Châu, làm chủ nhiệm văn học hệ ở trường Trung Sơn đại học. Ngày 12 tháng 4, Tưởng Giới Thạch làm phản Cách mạng, giết tại đó hơn ba ngàn người vừa đảng viên cộng sản, vừa công nông tri thức. Ông chạy cứu cho những học sinh bị bắt mà không được, bèn từ chức. Ở Quảng Châu, Lỗ Tấn thấy mình cũng có nguy cơ bị hại, tháng 10 trở lên Thượng Hải. Năm ấy ông đã 47 tuổi. Tháng 9 năm 1927, Lỗ Tấn rời khỏi Quảng Châu, tháng 10 ông định cư ở Thượng Hải, ông chuyên viết báo, viết sách mà không dạy học nữa. Lúc bấy giờ chính là lúc Tưởng Giới Thạch đàn áp Cách mạng nghiêm ngặt tàn khốc lắm, mà Lỗ Tấn lại 9 cứ hoạt động phản đối và cứ hay viết báo công kích, cho nên có ba lần sợ nguy hiểm đến tính mạng, phải tạm lánh mình trong mấy tô giới. Năm 1932, Nhật Bản đánh Thượng Hải, nhà trọ Lỗ Tấn ở ngay trong vòng lửa đạn, cũng phải dời ở tô giới Anh. Năm 1936, ông lâm bệnh, ngày 19 tháng 10 qua đời tại nhà số 9 phố Đại Lục Thân Thôn, Thượng Hải, hưởng thọ 56 tuổi. 1.2.2. Sự nghiệp văn học Lỗ Tấn là nhà văn tiêu biểu của văn học Trung Quốc. Ông suốt đời trung thành với lí tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân khỏi áp bức bóc lột của đế quốc và phong kiến. Ông đã tình nguyện làm người “thầy thuốc” chữa bệnh tinh thần cho nhân dân. Ông có ý thức dùng sức mạnh của văn học nghệ thuật để cải tạo xã hội, thức tỉnh nhân dân, giúp họ trút bỏ những khuyết điểm, nhược điểm về tinh thần, truyền cho họ niềm tin và nghị lực để đứng lên trong cuộc đấu tranh chống áp bức. Ngòi bút của Lỗ Tấn là ngòi bút hiện thực tỉnh táo. Ông dũng cảm vạch trần tội ác, bản chất xấu xa của giai cấp bóc lột. Ông cũng phê phán một cách sâu sắc những “bệnh tật”, khuyết điểm tinh thần của nhân dân, của dân tộc với thái độ “ai kì bất hạnh, nộ kì bất tranh” (thương họ bất hạnh, giận họ không đấu tranh). Để đấu tranh chống kẻ thù, tự phê phán dân tộc mình, Lỗ Tấn đặc biệt thành công trong nghệ thuật châm biếm. Lỗ Tấn cũng là một nhà văn có ý thức kế thừa truyền thống nghệ thuật của dân tộc, kết hợp với sự tiếp thu tinh hoa của văn học thế giới. Điều đó khiến cho phong cách nghệ thuật của ông vừa hiện đại vừa rất “Tàu” [4, 103]. Đi sâu tìm hiểu sự nghiệp văn học của Lỗ Tấn ta thấy toàn bộ sáng tác của ông chủ yếu là ba tập truyện ngắn, 17 tập tạp văn (bình luận chính trị, xã hội, văn nghệ). Tất cả đều tập trung phê phán các căn bệnh tinh thần khiến cho quốc dân mê muội, tiêu biểu là các truyện AQ chính truyện, Thuốc, Lễ cầu phúc, Cố hương, Nhật kí người điên, Khổng Ất Kỷ, Tiếc thương những ngày đã mất... Nếu Nga có Tchékhov, Pháp có Maupassant, Mỹ có O’Henry, Nhật Bản có Kawabata thì Trung Quốc tự hào có Lỗ Tấn. Lỗ Tấn là chủ tướng của cách mạng văn hóa Trung Quốc. Ông không chỉ là nhà văn lớn, mà còn là nhà tư tưởng, nhà cách mạng vĩ đại. Lỗ Tấn kiên cường bất khuất, chưa một phút chịu khom lưng uốn gối. Đó chính là tính cách vô cùng quý báu của nhân dân thuộc địa và nửa thuộc địa. Lỗ Tấn là 10 một anh hùng dân tộc: nhiệt tình nhất, trung thực nhất, kiên quyết nhất, đúng đắn nhất, xông xáo mưu lược nhất trước kẻ thù trên mặt trận văn hóa. Ông đại diện cho số đông của toàn dân tộc. Phương hướng của Lỗ Tấn chính là phương hướng của nền văn hóa mới dân tộc Trung Hoa. Truyện của Lỗ Tấn giàu tính sáng tạo, độc đáo, phong cách nổi bật, đầy đặn mà chắt lọc, thâm thúy mà nhẹ nhàng, khôi hài mà hùng biện. Sự hình thành phong cách đó xuất phát từ việc ông biết tiếp thu những tinh hoa của văn học cổ điển trong và ngoài nước trên nhiều mức độ khác nhau. Lỗ Tấn khâm phục cách biểu hiện tinh tế sâu sắc mà chất phác của nghệ thuật truyền thống Trung Quốc. Các sáng tác thuộc trường phái hiện thực của Nga, Ba Lan và của các nước vùng Bancăng có ảnh hưởng lớn đối với ông. Khi bàn về nghệ thuật sáng tác của các nhà văn trong và ngoài nước, ông ca ngợi phương pháp “tả đôi mắt” và “vẽ linh hồn”. Ông cho rằng nhà văn cần phải tập trung miêu tả đặc trưng tính cách nhân vật với một lượng câu chữ vô cùng tiết kiệm: “Nếu có vẻ cả bộ tóc, thì dù tinh tế như thật, cũng chẳng có ý nghĩa gì” [15, 542]. Lỗ Tấn rất giỏi về thủ pháp vẽ rồng điểm mắt, chỉ sơ sài vài câu là đã lột tả được tư tưởng tình cảm của nhân vật, và cũng vẽ ra được diện mạo và hình dáng của họ, để lại những ấn tượng mạnh mẽ trong bạn đọc. Với ý nghĩa đó, Lỗ Tấn còn đòi hỏi bản thân phải “mô tả được linh hồn người Trung Quốc thời hiện đại”. Khi đề cập đến thủ pháp nghệ thuật của mình, Lỗ Tấn giải thích rằng: “Tôi hết sức tránh hành văn lôi thôi. Nếu thấy đủ truyền đạt ý tứ của mình cho kẻ khác rồi thì thôi, không cần thêm thắt, kéo dài nữa. Tuồng cũ Trung Quốc không có bối cảnh, trên tờ giấy hoa năm mới mua cho trẻ con xem, chỉ có vài người chủ yếu, tôi tin sâu sắc rằng, với mục đích của tôi, phương pháp đó rất thích hợp, cho nên tôi không tả gió trăng, đối thoại cũng quyết không kéo dài” [15, 541]. Ở đây, Lỗ Tấn phản đối sự dài dòng và lôi thôi, chứ tuyệt đối không bài trừ những chi tiết làm nền. Cách mô tả ấy không tách rời các thủ pháp truyền thống của nghệ thuật cổ điển Trung Quốc. Đó là đặc điểm trong cấu tứ nghệ thuật của truyện ngắn. Ông phản ánh chân thực những tư tưởng và cuộc đời của một người Trung Quốc nào đó trong một thời kỳ lịch sử nhất định. Điều này đã thể hiện được phong độ và khí chất của một nhà văn hiện thực nghiêm túc. 11 Ngoài ra, bằng sự khái quát cao độ, bằng việc chắt lọc những tình huống từ cuộc sống thường nhật, Lỗ Tấn đã nhằm đạt được mục đích “lôi hết bệnh tật của họ ra, làm cho mọi người chú ý tìm cách chạy chữa” [15, 541]. Lỗ Tấn hiểu biết hiện thực vô cùng sâu sắc. Ông đòi hỏi sáng tác nghệ thuật phải mang lại những ấn tượng mới cho mọi người, đồng thời nói rõ ý nghĩa của những điều mới mẻ. Không phải chỗ nào cũng phơi bày sự kỳ dị, tìm cái mới lạ mà nhiều khi Lỗ Tấn cũng đi sâu vào bản chất cuộc sống. Trước khi bắt đầu sáng tác, bản thân ông đã phân tích một cách chi tiết xã hội và lịch sử Trung Quốc. Trong nhiều vấn đề, ông đã hiểu biết khá sâu sắc và rõ ràng. Tư tưởng cách mạng dân chủ triệt để đã rèn luyện và củng cố thêm khả năng quan sát của ông. Vì thế, ông có thể từ đỉnh cao của sự phát triển lịch sử, khái quát được hiện thực cuộc sống, từ những hiện tượng thường thấy, khai thác được những ý nghĩa tiềm ẩn, nói ra những điều người khác chưa nói, khiến tác phẩm có nội dung sâu đậm, thể hiện một sức mạnh tư tưởng có thể rung động lòng người. 1.2.3. Giới thuyết về truyện ngắn và truyện ngắn của Lỗ Tấn Truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết đến các phương diện của đời sống con người và xã hội: đời tư, thế sự hay sử thi. Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng: “tác phẩm truyện ngắn thích hợp với việc người tiếp nhận đọc nó liền một mạch không nghỉ” [1, 345]. Truyện ngắn có thể kể về cả một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện, mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời. Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một không gian, thời gian hạn chế. Chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người. Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản và hiện tượng. Bút pháp trần thuật của truyện ngắn thường là chấm phá. Truyện ngắn là một thể loại gần gũi với đời sống hằng ngày, súc tích, dễ đọc, lại thường gắn với hoạt động báo chí, do đó có tác dụng ảnh hưởng kịp thời cho đời sống. Nhiều nhà văn lớn đã đạt đến đỉnh cao của lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật chủ yếu bằng những truyện ngắn xuất sắc của mình. Lỗ Tấn cũng là một nhà văn đã đạt đến đỉnh cao đó. Đọc truyện ngắn của Lỗ Tấn ta bắt gặp một tài năng nghệ thuật độc đáo. Ông đã biến 12 ngòi bút của mình thành một loại vũ khí sắc bén, góp phần tham gia vào cuộc đấu tranh của dân tộc, giúp ông thực hiện hoài bão lớn của cuộc đời. Ông đã dùng ngòi bút ấy vạch trần bản chất xấu xa của chế độ phong kiến, đưa tội ác của bọn chúng ra ánh sáng, đồng thời mổ xẻ thói hư tật xấu của xã hội mê muội. Cũng chính nhờ tinh thần chiến đấu mạnh mẽ, nội dung tư tưởng sâu sắc và nghệ thuật độc đáo được thể hiện qua truyện ngắn của mình, Lỗ Tấn xứng đáng ở vị trí bậc thầy về truyện ngắn. Là một bậc thầy của truyện ngắn thế giới, Lỗ Tấn thấy rõ đặc điểm của truyện ngắn và đánh giá cao tác dụng của nó. Ông cho rằng những tác phẩm trở thành tấm bia kỉ niệm của một thời đại thường có ít trên văn đàn, mà dẫu có thì chín phần mười là những trước tác lớn. Một thiên truyện ngắn có thể trở thành một tòa lâu đài chứa đựng cả tinh thần thời đại thì thật là ít. Khi nghiên cứu tác phẩm Lỗ Tấn, nhà văn Liên Xô Fadée có nói: “Lỗ Tấn là một danh thủ truyện ngắn. Ông giỏi biểu hiện ngắn gọn, rõ ràng một tư tưởng trong một số hình tượng, một sự biến to lớn trong một giai đoạn ngắn, một điển hình trong một nhân vật cá biệt” [8, 669]. Trong sự đối nghịch gay gắt giữa bạch thoại và văn ngôn vào thời Ngũ Tứ, Lỗ Tấn là người đầu tiên viết tiểu thuyết bằng bạch thoại. Sau này, khi nhớ về quá trình đó, ông từng nói: “Ở Trung Quốc, tiểu thuyết không được coi là văn học. Người viết tiểu thuyết không được gọi là nhà văn, cho nên không ai muốn góp mặt với đời bằng con đường này. Tôi cũng không có ý đưa tiểu thuyết vào “văn uyển”, chẳng qua là lợi dụng sức mạnh của nó để cải tạo xã hội mà thôi” [15, 540]. Mục đích sáng tác ban đầu của Lỗ Tấn và nguyện vọng tham gia văn nghệ của ông là thống nhất với nhau. Ông viết gần ba mươi thiên tiểu thuyết, thể hiện đầy đủ những đặc điểm lịch sử của thời kỳ từ đêm trước cuộc Cách mạng Tân Hợi đến trước cuộc nội chiến lần thứ nhất. Trong thời kỳ đó, sự yếu đuối bất lực của giai cấp tư sản bộc lộ rõ ràng. Từ Ngũ Tứ bắt đầu nổi lên phong trào cách mạng dân chủ mới do giai cấp vô sản lãnh đạo, nhưng giai cấp công nhân tạm thời chưa liên hiệp với giai cấp nông dân. Đông đảo nhân dân vẫn phải sống cuộc đời nô lệ. Đó là thời đại đau thương, là thời đại đan xen giữa hi vọng và thất vọng. Tác phẩm của Lỗ Tấn đã tập trung vạch trần tội ác của phong kiến, phản ánh được bộ mặt đời sống nhân dân dưới hai tầng áp bức bóc lột về kinh tế và nô dịch về tinh thần, miêu tả được số phận của trí thức đang quằn quại trong những mâu thuẫn xã hội gay gắt. Tất cả các tác phẩm ấy sau này được tập hợp thành hai tập truyện ngắn Gào thét và Bàng hoàng. Không giống với cái gọi là tiểu thuyết chính trị, tiểu thuyết xã hội mà các trí thức lớp trên thời kỳ dân chủ cũ đề xướng, 13 bằng ngôn ngữ nghệ thuật tuyệt vời, Lỗ Tấn đã chứng minh hùng hồn rằng bạch thoại phải là ngôn ngữ mới của văn học dân tộc. Và với những thành tựu kinh tế mở rộng trận địa cho bạch thoại, ngay từ buổi đầu đã gắn chặt văn học nghệ thuật với số phận của nhân dân. Qua đó thể hiện được tư tưởng và đời sống của nhân dân bị áp bức, trong sáng tạo hình tượng cụ thể bộc lộ những vấn đề xã hội sâu sắc, nêu một tấm gương xuất sắc cho sáng tác văn học hiện đại. Lỗ Tấn có ba tập truyện: Gào thét (xuất bản 1923), Bàng hoàng (xuất bản 1926) và Chuyện cũ viết lại (xuất bản 1936). Gào thét và Bàng hoàng thông qua các nhân vật và sự kiện cụ thể đã khắc họa trọn vẹn một thời đại. Trong thời đại đó, thế lực phong kiến tuy ngày càng tan rã nhưng tạm thời hãy còn mạnh, quần chúng nhân dân bị tai họa nặng nề nhưng vẫn chưa giác ngộ rộng rãi, tầng lớp trí thức đầy những hoài nghi và hi vọng trên con đường tìm kiếm. Tuy lực lượng giai cấp công nhân Trung Quốc thời cận đại chưa được phản ánh trong các tác phẩm của Lỗ Tấn nhưng xuất phát từ cuộc sống quen thuộc của mình, ông đã tìm tòi, khảo sát sâu sắc lực lượng cách mạng Trung Quốc. Ông tuyên án tử hình các thế lực phong kiến, chỉ rõ sự yếu hèn bất lực của giai cấp tư sản, đòi hỏi trí thức phải thoát ra khỏi sự “trống rỗng” và “dao động”, cải tạo tư tưởng và cuộc sống của mình, đồng thời lại gửi gắm một niềm tin hi vọng tha thiết với nông dân. Những người nông dân xuất hiện trong tác phẩm của ông dù còn lạc hậu, song vẫn giữ được tính cách kiên nhẫn trong đau khổ. Ở họ vẫn ẩn chứa sức mạnh cách mạng tiềm tàng, sẽ có ngày bùng nổ. Chủ nghĩa hiện thực của Lỗ Tấn đã bắt rễ sâu vào tư tưởng cách mạng dân chủ triệt để, do đó mà luôn luôn tự giác đi cùng nhịp bước với các nhà cách mạng tiền bối. Bởi vậy trong sự mổ xẻ hiện thực một cách nghiêm khắc, vẫn luôn lấp lánh một ánh sáng của lý tưởng. Thời đại cách mạng dân chủ mới đang đến, đã để lại ấn tượng sâu sắc trong sáng tác của Lỗ Tấn. Gào thét gồm 14 câu chuyện viết từ năm 1918 đến 1922. Đặt tên cho tập truyện là Gào thét, tác giả muốn góp một tiếng hô to để cổ vũ, trợ chiến cho những chiến sĩ cách mạng, làm cho họ hăng hái xông lên. Đây là “tiếng thét trợ uy cho lòng đồng cảm với những người nhiệt tình”. Tác phẩm tràn đầy nhiệt tình chống phong kiến. Từ khuynh hướng chung đến mô tả cụ thể đều thống nhất với tinh thần Ngũ Tứ, thể hiện sắc thái của cách mạng văn hóa và cách mạng tư tưởng. 14
- Xem thêm -