Tài liệu Phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

  • Số trang: 82 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 77 |
  • Lượt tải: 0
huynguyen816485

Tham gia: 12/10/2017

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VƯƠNG THỊ THU PHÁT TRIỂN KINH TẾ LÀNG NGHỀ GẮN VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI Ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ Mã số : 8340410 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Bùi Quang Tuấn HÀ NỘI, 2018 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực.Những kết luận trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác. Tác giả luận văn Vương Thị Thu DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Ý NGHĨA STT TỪ VIẾT TẮT 1 BOD Nhu cầu ôxy hóa sinh học 2 COD Nhu cầu ôxy hóa học 3 CNH Công nghiệp hóa 4 HĐH Hiện đại hóa 5 KTXH Kinh tế xã hội 6 QCCP Quy chuẩn cho phép 7 UBND Ủy ban nhân dân 8 CCN Cụm công nghiệp 9 NXB Nhà xuất bản MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ LÀNG NGHỀ GẮN VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 6 1.1.Đặc điểm và vai trò của làng nghề truyền thống trong phát triển kinh tế xã hội 6 1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế làng nghề 18 1.3 . Phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường sinh thái 22 1.4. Kinh nghiệm phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường trong và ngoài nước và bài học rút ra cho huyện Hoài Đức 28 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ LÀNG NGHỀ GẮN VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2011 – 2017 33 2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến vấn đề phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường tại các làng nghề ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. 33 2.2. Thực trạng phát triển kinh tế, thực trạng môi trường và bảo vệ môi trường ở các làng nghề trên địa bàn huyện Hoài Đức 41 2.3. Các chính sách liên quan đến vấn đề phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường 44 2.4. Đánh giá chung 46 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ LÀNG NGHỀ GẮN VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI TỪ NAY ĐẾN NĂM 2025 57 3.1. Bối cảnh và phương hướng của huyện Hoài Đức trong phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường 57 3.3. Các điều kiện thuận lợi để thực hiện giải pháp phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường của huyện Hoài Đức 73 KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam đang trong thời kỳ đổi mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tăng cường mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế về mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội. Nền kinh tế đã có nhiều chuyển biến, đạt nhiều kết quả quan trọng. Tổng sản phẩm quốc nội tăng nhanh, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được đảm bảo. Các báo cáo phát triển kinh tế của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng cho thấy GDP đang không ngừng tăng trưởng và đặc biệt Hà Nội đang có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nhất là giai đoạn từ năm 2010 đến nay. Hoài Đức là một huyện ngoại thành của thủ đô Hà Nội với 53 làng nghề trên toàn địa bàn huyện cũng không nằm ngoài sự phát triển chung của Thủ đô. Hoài Đức đang đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại, dịch vụ theo hướng bền vững. Cùng với sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội, thu nhập của người dân cũng tăng lên, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện đáng kể. Do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá diễn ra nhanh, kinh tế phát triển mạnh đặc biệt là kinh tế tại các làng nghề trên địa bàn huyện. Tuy nhiên sự phát triển ấy về cơ bản vẫn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, thiết bị thủ công, đơn giản, công nghệ lạc hậu, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp cộng thêm ý thức người dân ở một số làng nghề đối với việc bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ sức khoẻ con người còn hạn chế... đã tạo sức ép không nhỏ đến chính chất lượng môi trường sống của làng nghề và cộng đồng xung quanh. Có thể thấy rằng, ô nhiễm môi trường làng nghề là nguyên nhân chính gây ra các dịch bệnh cho người dân đang lao động và sinh sống tại chính làng nghề. Tỷ lệ người mắc bệnh tại các làng nghề đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây, tập trung vào một số bệnh, như: các bệnh ngoài da, bệnh đường hô hấp, bệnh tiêu hóa hay các bệnh về mắt… Ô nhiễm môi trường làng nghề còn gây ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động phát triển KTXH của chính làng nghề đó, gây ra những tổn thất kinh tế không nhỏ và dẫn đến những xung đột môi trường trong cộng đồng. 1 Trước tình hình đó, huyện Hoài Đức cần phải có những chủ trương, chính sách và biện pháp để giải quyết triệt để vấn đề nêu trên, đưa kinh tế làng nghề phát triển nhanh, bền vững những vẫn đảm bảo được môi trường sáng, xanh, sạch, đẹp. Chính vì vậy cần thiết phải có những công trình nghiên cứu khoa học, có đủ độ tin cậy làm cơ sở lý luận và nhận thức cho những giải pháp cụ thể để triển khai thực hiện. Xuất phát từ lý do đó, vấn đề “Phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội ” được chọn làm đề tài nghiên cứu của Luận văn này. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Vấn đề phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường nói chung và vấn đề phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường nói riêng không phải là vấn đề mới, tuy nhiên, trong thời gian qua, vì tính chất cấp thiết của nó nên đã có nhiều tác giả, nhiều đề tài, nhiều công trình khoa học nghiên cứu đề vấn đề này với mức độ, phạm vi khác nhau. Trần Minh Yến (2004) có công trình “Làng nghề truyền thống trong quá trình CNH, HĐH”. Nghiên cứu này đề cập đến một số lý luận cơ bản của Làng nghề Truyền thống, Tác giả tập trung phân tích thực trạng cũng như xu hướng vận động của Làng nghề truyền thống ở nông thôn nước ta, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, giải pháp phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn nhằm đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH đất nước. Đặng Thị Kim Chi (2005) và các cộng sự thực hiện đề tài KC 08-09 đã đưa ra các số liệu về báo động ô nhiễm làng nghề trong cả nước. Các nhà khoa học đã nhận định: Đề tài này đã mở ra hướng nghiên cứu mới về môi trường ở Việt Nam. Đó là nghiên cứu, cải thiện môi trường tại các CCN vừa và nhỏ nằm trong vùng nông thôn với đặc điểm riêng về truyền thống văn hóa, xã hội tồn tại ở quy mô làng, xã gắn với sản xuất nông nghiệp và hệ tư tưởng của người nông dân. Đây sẽ là cơ sở cho việc nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp bảo vệ môi trường cho những cơ sở sản xuất vừa và nhỏ, phù hợp với đặc điểm và điều kiện xã hội của Việt Nam. Báo cáo khoa học “Phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường; trường hợp huyện Gia Bình- Bắc Ninh” đã đánh giá tổng quát về thực trạng ô nhiễm 2 môi trường tại các làng nghề trên địa bàn huyện Gia Bình- Bắc Ninh từ đó đề ra giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường để phát triển làng nghề bền vững. Trong số các đề tài liên quan, nội dung chủ yếu đề cập tới vấn đề tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung gắn với bảo vệ môi trường trên phạm vi cả nước, chưa có đề tài nào bàn sâu về vấn đề làm thế nào để giải quyết vấn đề phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường tại các làng nghề ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Do đó trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố, tác giả đi sâu tìm hiểu về vấn đề phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát: Mục tiêu của đề tài là đánh giá thực trạng phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện Hoài Đức, từ đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội từ nay đến năm 2025. Mục tiêu cụ thể:  Hệ thống hoá lý luận và tìm hiểu kinh nghiệm thực tiễn về vấn đề phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường tại các làng nghề.  Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường tại các làng nghề, chỉ ra những kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế này.  Đề xuất quan điểm và một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường tại các làng nghề huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội từ nay đến năm 2025. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu:Đối tượng nghiên cứu là vấn đề phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường. Phạm vi nghiên cứu 3 - Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. - Về thời gian: Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường từ năm 2010 cho đến nay. -Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu phát triển kinh tế theo một số nội dung chủ yếu có liên quan đến môi trường và bảo vệ môi trường ở các làng nghề huyện Hoài Đức. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận Luận văn áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin; Phương pháp thu thập thông tin Sử dụng liệu thứ cấp: Dựa trên những nguồn số liệu có sẵn để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, tác giả lấy số liệu từ các nguồn sau: Thu thập số liệu thứ cấp từ các cổng thông tin điện tử của huyện Hoài Đức, phòng Tài nguyên - Môi trường huyện Hoài Đức và các báo cáo của Bộ ngành, cơ quan, ban ngành liên quan. Phương pháp phân tích xử lý số liệu  Phân tích thống kê Luận văn sử dụng phương pháp phân tích thống kê để từ đó có thể xem xét tình hình phát triển kinh tế tại các làng nghề, sự phát triển làng nghề gắn với bảo vệ môi trường.  Phân tích so sánh Luận văn sử dụng phương pháp phân tích so sánh để so sánh tình hình phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường giữa các địa phương trong và ngoài nước.  Phân tích tổng hợp Luận văn sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp để rút ra các bài học thực tiễn từ đó đưa ra giải pháp, chính sách hiệu quả. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Luận văn có một số ý nghĩa như sau: 4 - Hệ thống hóa lý luận về phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường huyện Hoài Đức. - Mô tả được thực trạng và đề xuất các giải pháp trong việc phát triển làng nghề gắn với bảo vệ môi trường huyện Hoài Đức. - Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần cho việc hoạch định chủ trương, chính sách phát triển kinh tế gắn với vấn đề bảo vệ môi trường tại các làng nghề, góp phần nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện Hoài Đức. 7. Cơ cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, cụ thể như sau: - Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường. - Chương 2: Thực trạng vấn đề phát triển kinh tế làng nghề gắn với bảo vệ môi trường ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2018. - Chương 3: Giải pháp phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường tại các làng nghề huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, từ nay đến năm 2025. 5 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ LÀNG NGHỀ GẮN VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1.1. Đặc điểm và vai trò của làng nghề truyền thống trong phát triển kinh tế xã hội 1.1.1. Một số khái niệm 1.1.1.1. Khái niệm “làng nghề” và các khái niệm liên quan Có nhiều khái niệm về “làng”, tuy nhiên nói chung “làng” hay “ngôi làng” là một khu định cư của một cộng đồng người, nó lớn hơn xóm, ấp nhưng nhỏ hơn một thị trấn, với dân số khác nhau, có thể có từ một vài trăm đến một vài ngàn người. Những ngôi làng thường nằm ở nông thôn, song cũng có những có ngôi làng thành thị.Làng thường là một điểm tụ cư cố định, với những ngôi nhà cố định, tuy nhiên cũng có những ngôi làng xuất hiện tạm thời rồi nhanh chóng tan rã. Từ thời xa xưa, trong tổ chức làng xã, những người nông dân có mối quan hệ đoàn kết gắn bó với nhau. Trong quá trình phát triển, một nhóm người nông dân tách rời khỏi nghề nông và chuyển sang những nghề mà xã hội ngày nay gọi đó là ngành tiểu thủ công nghiệp. “Nghề” xuất hiện trong đời sống xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu làm ăn, sinh sống của con người. “Nghề" là một lĩnh vực hoạt động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm về vật chất hay tinh thần nào đó nhằm đáp ứng nhu cầu của bản thân và xã hội. “Nghề” còn được định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt là công việc chuyên làm theo sự phân công của xã hội, ví dụ như: nghề đan lát, nghề may, nghề đan nón,... Văn hóa tổ chức làng, xã có những ảnh hưởng nhất định đối với các tổ chức sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Những nhóm người sản xuất cùng một loại hàng hóa (các dụng cụ sản xuất nông nghiệp, đồ gỗ gia dụng, giấy, chiếu, đồ sứ gia dụng,...) có xu hướng tập trung, tạo thành những phường hội như phường gốm, phường dệt, phường đúc đồng,... Đây là cơ sở cho sự phát triển các làng nghề ở phía Bắc Việt Nam. 6 Như vậy, “làng nghề” có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau, xin được trích dẫn 2 nhận định của giáo sư Trần Quốc Vượng và tác giả Bùi Văn Vượng về khái niệm trên: Theo giáo sư Trần Quốc Vượng thì “Làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác như đan lát, gốm sứ, làm tương... song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả... cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung quanh và với thị trường đô thị và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài”(kỷ yếu hội thảo quốc tế “bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống việt nam” tháng 8/1996. trang 38-39) Theo tác giả Bùi Văn Vượng thì “Làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công. Ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo những người thợ chuyên sản xuất hàng nghề truyền thống ngay tại quê mình...” – Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam (2002). Vậy khái niệm làng nghề có thể bao gồm những nội dung sau: “Làng nghề là một thiết chế KTXH ở nông thôn được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa”. Quá trình phát triển của làng nghề là quá trình phát triển tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn. Lúc đầu sự phát triển đó từ một vài gia đình, rồi đến cả họ và sau đó lan ra cả làng. Trải qua một thời gian dài của lịch sử, lúc thịnh lúc suy, có những nghề bị mai một hoặc mất hẳn, có những nghề mới ra đời. trong đó có những nghề đạt tới trình độ công nghệ tinh xảo với những kỹ thuật điêu luyện và phân công lao động khá cao. 7 Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của nó, mang lại lợi ích thiết thân cho cư dân. Như việc làm ra các đồ dùng bằng mây, tre, ... phục vụ sinh hoạt hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ sản xuất. Nghề phụ từ chỗ chỉ phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa để trao đổi, đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vào các vụ lúa. Và cũng chính nhờ những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa. Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng thì dần dần bị mai một. Từ đó bắt đầu hình thành nên những làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng gốm, làng làm chiếu, làng làm lụa, làng làm đồ đồng... Hiện nay, nước ta có có hơn 2.000 làng nghề thủ công và làng nghề truyền thống với rất nhiều nghề khác nhau đang hoạt động. Do sự đa dạng về chủng loại mặt hàng được sản xuất ra, nên ở nước ta có nhiều loại làng nghề. Dưới đây là một số tiêu thức dùng để phân loại làng nghề đã có ở Việt Nam. Thứ nhất, căn cứ vào theo thời gian làm nghề, người ta chia thành làng mới làm nghề (là những làng mới làm nghề tiểu thủ công trong vòng 20-30 năm trở đây) và là làng nghề lâu đời hay làng nghề truyền thống. Thứ hai, căn cứ vào tính chất cũ mới của nghề, người ta chia thành làng làm nghề mới (là làng những nghề mới xuất hiện trong thời gian gần đây theo yêu cầu của xã hội đòi hỏi hay theo kỹ thuật tạo thành như nghề tái chế phế liệu: tái chế chì, tái chế nhựa...) và làng làm nghề truyền thống (là loại làng làm nghề truyền thống hay rất gần với nghề truyền thống). Thứ ba, căn cứ vào số lượng nghề của làng, người ta chia ra làng 1 nghề (cả làng chỉ làm một nghề thủ công) và làng nhiều nghề (là làng ngoài nghề nông ra còn làm từ 2 nghề thủ công trở lên hay là loại làng có thêm vừa nghề thủ công, vừa nghề buôn). Thứ tư, vào mặt hàng sản xuất, có thể chia thành làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm; làng nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ; làng nghề làm đồ gốm sứ; làng nghề làm nghề kim khí; làng nghề sản xuất các mặt hàng tiêu dùng thông thường; làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng. 8 Thứ năm, căn cứ vào trình độ kĩ thuật, có các làng nghề kĩ thuật giản đơn, làng nghề có kĩ thuật phức tạp. Làng nghề truyền thống Quan niệm thứ nhất: Làng nghề truyền thống là một cộng đồng dân cư cư trú trong một phậm vi địa bàn tại các vùng nông thôn tách rời khỏi sản xuất nông nghiệp, cùng làm một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống lâu đời, để sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm bán ra thị trường để thu lợi. Quan niệm thứ hai: Làng nghề truyền thống là những làng nghề thủ công có truyền thống lâu năm, thường là qua nhiều thế hệ. Các quan niệm trên mới thể hiện được yếu tố truyền thống lâu đời nhưng chưa đề cập tới các làng nghề mới nhưng tuân thủ các yếu tố truyền thống của vùng hay khu vực. Từ đó, có thể rút ra quan niệm như sau: Làng nghề truyền thống là những làng nghề đã tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống được gìn giữ từ đời này qua đời khác, được bảo tồn và phát triền. Là nơi quy tụ nhiều nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, có sản xuất tập trung, quy trình công nghệ nhất định, chủ yếu dựa trên sự khéo léo của người thợ. Sản phẩm làm ra tinh xảo, có tính mỹ thuật nổi trội, chứa đựng các yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần, trở thành hàng hóa có giá trị đặc thù trên thị trường. 1.1.1.2. Môi trường sinh thái và vấn đề phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái Môi trường sinh thái là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ với nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu. Sự rối loạn bất ổn định ở một khâu nào đó trong hệ thống sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng. Con người và xã hội xuất thân từ tự nhiên, là một bộ phận của thiên nhiên. Thông qua quá trình lao động, con người khai thác bảo vệ bồi đắp cho thiên nhiên. Cũng qua quá trình đó con người xã hội dần dần có sự đối lập với tự nhiên. Môi trường đối với hoạt động sống của con người có các chức năng cơ bản: môi trường tạo không gian sống cho con người; môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho sự sống và hoạt động sản xuất của con người; môi trường là 9 nơi chứa đựng, hấp thụ và trung hoà các chất thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất, xã hội , qua đó đánh giá được chất lượng đạt được của môi trường. Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành (Khoản 3 điều 3, chương I, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014). Như vậy, theo quy định trên, bảo vệ môi trường không chỉ nhằm tới việc bảo đảm yêu cầu về hoá, lý, sinh, mà còn đảm bảo một giá trị nhân văn trong đời sống KTXH và một nguồn sống lâu dài đối với con người trong môi trường sống cho phép. Bảo vệ và quản lý môi trường hướng tới các mục đích như: khuyến khích sử dụng các vật liệu thích hợp không ô nhiễm, suy thoái môi trường; triển khai các quá trình sản xuất và tiêu dùng ít thải độc hại ra môi trường, đảm bảo an toàn đối với môi trường; xây dựng các kế hoạch về bảo vệ môi trường; đưa ra các biện pháp ngăn chặn và khắc phục hậu quả do ô nhiễm môi trường gây ra. Bảo vệ và quản lý môi trường phải bảo đảm các yêu cầu cơ bản sau: sự nghiệp bảo vệ và quản lý môi trường phải được triển khai đồng bộ trên toàn quốc đến từng địa phương và xuống từng cơ sở; cần có sự hợp tác quốc tế để giúp đỡ và khuyến khích, phối hợp trong hoạt động bảo vệ và quản lý môi trường; tăng cường trách nhiệm pháp lý cho các hoạt động bảo vệ và quản lý môi trường trên cơ sở các luật và các văn bản dưới luật được ban hành đồng bộ và thực hiện có hiệu quả; xây dựng hệ thống mạng lưới thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động môi trường. Sau nhiều năm thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế của nước ta đang phát triển một cách mạnh mẽ. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu chúng ta đang dần chuyển mình trở thành một nước công nghiệp, đời sống nhân dân ngày một nâng cao. Song mặt trái của sự phát triển kinh tế đó là làm ô nhiễm môi trường bởi các chất thải công nghiệp, nhà ở, ý thức người dân,... do vậy vấn đề phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái là một đề tài được nhiều 10 nhà khoa học nghiên cứu và đối với nước ta nó trở thành một vấn đề nghiêm trọng cần giải quyết hợp lý. 1.1.2. Đặc điểm của làng nghề truyền thống Mỗi nghề có những đặc trưng riêng và do đó mỗi làng nghề cũng có những đặc trưng của riêng nó. Tuy nhiên các làng nghề truyền thống đều có các đặc trưng chung như sau: Quy mô sản xuất nhỏ (hộ gia đình, thôn, xóm) Các làng nghề thường có mật độ dân cư đông đúc, vì vậy thiếu mặt bằng sản xuất, các xưởng sản xuất thường xen kẽ với khu dân cư. Theo lẽ thường, các làng nghề càng phát triển mạnh thì càng thu hút nhiều lao động. Trước hết là lao động tại chỗ, con em các gia đình không phải ly hương tìm đường kiếm sống, thứ đến là làng nghề phát triển mạnh sẽ thu hút thêm lao động ở các vùng lân cận, làm cho mật độ dân cư của làng nghề đã lớn lại càng lớn hơn, trình độ quản lý yếu kém, thiết bị chắp vá lạc hậu, hoạt động thủ công là chủ yếu. Gắn liền với làng quê và sản xuất nông nghiệp Nghề thủ công truyền thống, bắt đầu từ nông nghiệp, gắn liền với lao động ở nông thôn, nhằm phục vụ cho người dân theo hướng tự cung tự cấp, phục vụ cho nông nghiệp. Nơi đây cũng là nơi cung cấp nguyên liệu, nguồn nhân lực, nguồn vốn chủ yếu và cũng là thị trường tiêu thụ. Lao động tại các làng nghề chủ yếu là làm nông, địa điểm sản xuất là tại gia đình họ. Họ tự quản lí, phân công lao động, thời gian cho phù hợp giữa việc sản xuất nông nghiệp lúc mùa vụ với nghề thủ công lúc nông nhàn. Vì thế, ngoài nhu cầu tạo việc làm để có thêm thu nhập lúc nông nhàn là vấn đề cấp thiết, tính chất mùa vụ cũng tạo ra sự dư thừa lao động trong một thời gian nhất định, trong khi đó tại địa phương có nhu cầu sản xuất các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp để phục vụ tiêu dùng, sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp,… Do đó đã thúc đầy các hoạt động sản xuất phát triển, lúc đầu chỉ phục vụ nhu cầu của gia đình, sau phát triển có quy mô, nhiều gia đình cùng tham gia khiến làng nghề hình thành và phát triển. Có truyền thống lâu đời 11 Các làng nghề truyển thống Việt Nam còn tồn tại đến ngày nay hầu hết là những nghề lâu đời, có từ một vài trăm năm đến hàng nghìn năm. Sự hình thành cùa làng nghề thường gắn với việc các thợ thủ công tập hợp nhau lại theo các yếu tố kinh tế, như các vùng tập trung đông dân có nhu cầu về hàng thủ công hoặc để phục vụ cho một đối tượng nhất định như vua quan chốn kinh kỳ. Làng nghề hình thành ở những nơi thuận tiện về giao thông đường bộ, đường thủy và gần nguồn nhiên liệu. Làng nghề phát triển cũng do công lao của các vị tổ nghề đã chủ động dạy nghề cho dân địa phương và những vùng xung quanh. Trải qua nhiều năm thăng trầm, các ngành nghề thủ công mỹ nghệ có lúc thịnh, lúc suy. Thời bao cấp, thủ công nghiệp được liệt vào “nghề phụ nông dân”, các cơ sở tư nhân sản xuất, kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ được cải tạo, từ đó mai một dần. Phải đến những năm đổi mới, các ngành nghề thủ công mỹ nghệ mới được khôi phục, làng nghề cũng được hồi sinh. Có bản sắc riêng của Việt Nam Làng nghề truyền thống là một bộ phận của nền văn hóa phi vật thể, có vai trò quan trọng, thể hiện sự sáng tạo của hoạt động văn hóa Việt Nam. Giá trị văn hóa thể hiện rõ nét nhất trong các sản phẩm của làng nghề, qua bàn tay khéo léo và nghệ thuật tinh xảo của các nghệ nhân được lưu truyền hàng trăm năm nay. Mỗi sản phẩm của làng nghề không chỉ là một sản phẩm hàng hóa thông thường, mà còn là nơi gửi gắm tâm hồn, tài năng, thể hiện khướu thẩm mỹ, thông minh và sáng tạo, tinh thần lao động của nghệ nhân, những người lưu giữ những tinh hoa văn hóa dân tộc trong các sản phẩm làng nghề, đồng thời không ngừng sáng tạo để làng nghề có thêm nhiều sản phẩm mới vừa phát huy truyền thống văn hóa dân tộc vừa thể hiện sức sáng tạo của nghệ nhân trong điều kiện mới. Làng nghề là cả một môi trường văn hóa, kinh tế xã hội và công nghệ truyền thống lâu đời. Nó bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền từ đời này sang đời khác, của các thế hệ tài năng, với những sản phẩm có bản sắc riêng của mình nhưng lại tiêu biểu và độc đáo của cả dân tộc Việt Nam. Môi trường văn hóa làng nghề là khung cảnh làng quê, với cây đa, bến nước, sân đình,… các hoạt động lễ hội dân gian, phong tục tập quán, 12 nếp sống đậm nét dân gian và chứa đựng tính nhân văn sâu sắc. Làng nghề truyền thống đã làm phong phú thêm truyền thống văn hóa Việt Nam. Lao động chủ yếu bằng thủ công Trước đây, phương thức sản xuất sản phẩm trong các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống thường rất thô sơ, lạc hậu, sử dụng kỹ thuật thủ công là chủ yếu. Công cụ lao động trong các làng nghề đa số là công cụ thủ công, mang tính đơn chiếc, nhiều loại sản phẩm hoàn toàn phải dựa vào bàn tay khéo léo của người thợ, mặc dù hiện tay đã có sự cơ khí hóa và điện khí hóa từng bước trong sản xuất, song cũng chỉ có một số nghề có khả năng cơ giới hóa được một số công đoạn trong sản xuất các sản phẩm. Phần đông lao động trong các làng nghề là lao động thủ công, nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, vào đầu óc thẩm mỹ và sáng tạo của người thợ, nghệ nhân. Trước đây, do trình độ khoa học và công nghệ chưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là thủ công, giản đơn. Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, việc ứng dụng khoa học công nghệ mới vào nhiều công đoạn trong sản xuất của làng nghề đã giảm bớt được lượng lao động thủ công, giản đơn cũng như chi phí, thời gian và sức lao động. Tuy nhiên vẫn có những công đoạn trong quá trình sản xuất yêu cầu trình độ cao, độ tinh xảo nhiều đòi hỏi lao động thủ công thực hiện. Việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề (cha truyền con nối) trong các gia đình, từ đời này sang đời khác và hầu hết chỉ trong khuôn khổ của từng làng. Sau này, có nhiều hợp tác xã làm nghề thủ công ra đời, phương thức truyền nghề và dạy nghề đã có nhiều thay đổi, mang tính đa dạng và phong phú hơn. Nguyên vật liệu Đa số nguyên vật liệu của các làng nghề thường là nguyên vật liệu sẵn có, nguồn cung ứng tại chỗ hoặc được nhập từ các vùng lân cận tuy nhiên hầu hết vẫn là sử dụng nguồn nguyên liệu có sẵn và dồi dào tại địa phương. Lực lượng lao động Lực lượng lao động không phân biệt tuổi tác, giới tính, phần lớn có quan hệ gia đình dòng họ, được đào tạo theo kiểu kinh nghiệm “xcha truyền con nối”. Do đó 13 bên cạnh một số ít nghệ nhân và những người thợ có tay nghề cao, thì có đến 55% lao động tại các làng nghề chưa qua đào tạo, khoảng 36% không có chuyên môn kỹ thuật. Đối với các hộ kiêm (vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề), có tới 79% lao động không có chuyên môn kỹ thuật. Phát triển không theo quy hoạch, không ổn định, có tính thời vụ, thăng trầm phụ thuộc vào nhu cầu thị trường trong và ngoài nước và đặc điểm sản xuất. Làng nghề từ Bắc đến Nam có nhiều tính chất tương đồng về nghề, về sản phẩm, tính văn hoá nghệ thuật do hiện tượng di dân, di nghề và sự bành trướng tự nhiên của hiện tượng kinh tế – xã hội làng nghề. Trình độ công nghệ và các phương tiện sản xuất tại các làng nghề ở nông thôn còn lạc hậu, hạ tầng kỹ thuật rất thấp, chỉ khoảng 20% các cơ sở có nhà xưởng kiên cố, 86% có sử dụng điện, 37% công việc được cơ khí hoá còn lại tới trên 60% làm bằng tay. Hầu hết các hộ, cơ sở ngành nghề nông thôn còn sử dụng các loại công cụ thủ công truyền thống hoặc có cải tiến một phần. Trừ một số cơ sở mới xây dựng có công nghệ tiên tiến, đa số còn lại nhất là ở khu vực hộ gia đình, trình độ công nghệ lạc hậu, trình độ cơ khí còn rất thấp, thiết bị phần lớn là đơn giản không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn và do đó, nảy sinh nhiều vấn đề về vệ sinh môi trường. Đã hình thành những làng nghề có tên tuổi, tồn tại lâu dài. Làng nghề nước ta phản ánh cuộc dống của cư dân nông nghiệp lúa nước gắn liền với cơ chế sản xuất mùa vụ, trong đó bao gồm cả yếu tố dòng họ. Truyền thống đó gắn liền với tên của mỗi làng nghề, phố nghề và được thể hiện bằng những sản phẩm thủ công truyền thống với những nét độc đáo, tinh xảo. Tên của sản phẩm luôn kèm theo tên làng làm ra nó, sản phẩm nổi tiếng cũng làm cho làng nghề tạo ra các sản phẩm đó nổi tiếng. Những sản phẩm không chỉ là những vật phẩm sinh hoạt bình thường hàng ngày, mà một số còn là các tác phẩm nghệ thuật, biểu trưng của nền văn hóa xã hội, mức độ phát triển kinh tế, trình độ dân trí, đặc điểm nhân văn của dân tộc. Mặt khác, từ sản phẩm, chúng ta cũng nhận thấy gốc tích nông nghiệp như nguyên vật liệu, công cụ chế tác, giá trị sử dụng và đặc biệt là nó phản ánh được tính chuyên dụng cũng như sinh hoạt cộng đồng của cứ dân nông nghiệp trên các sản phẩm đó. 14 Nhìn vào những nghề thủ công nổi tiếng của nước ta như nghề gốm, nghề đan lát, dệt vải,… thì mỗi làng gắn liền với một cộng đồng dân cư cư trú ổn định trong một quy mô làng, xã. Nét đặc trưng này không chỉ phản ánh sự phong phú đa dạng của làng nghề trong hệ thống cấu trúc của làng xã Việt Nam mà còn cung cấp thêm thông tin về địa lí, nhân văn, lễ hội truyền thống cũng như lịch sử đầy ấn tượng của mỗi làng nghề. Tóm lại, các đặc điểm này cho chúng ta nhận dạng được những làng nghề truyền thống hay sâu xa hơn là những giá trị văn hóa đặc biệt là văn hóa phi vật thể từ nguồn gốc và đặc trưng xã hội nông nghiệp sản xuấ mùa vụ, cơ cấu quy mô thông qua chế độ làng xã Việt Nam. 1.1.3. Vai trò của làng nghề trong nền kinh tế, xã hội Thứ nhất, tận dụng nhân lực, tăng thu nhập, gia tăng giá trị sản xuất. Việc làm là vấn đề cấp thiết hiện nay. Làng nghề phát triển đóng vai trò quan trọng thu hút việc làm, tận dụng lao động tránh tình trạng phát triển chợ lao động tự phát lúc trái vụ, di dân tự do. Thứ hai, gia tăng giá trị hàng xuất khẩu. Đối với thị trường thế giới thì sản phẩm của thủ công truyền thống được xếp vào nhóm hàng có khả năng cạnh tranh cao. Bởi vì: Tính độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc, là sự kết hợp hoàn mỹ giữa kỹ thuật và thẩm mỹ, không thể sản xuất hàng loạt bằng máy móc được. Thứ ba, phát triển làng nghề góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. + Mối quan hệ làng nghề và quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn. Do sự phát triển của lực lượng sản xuất đã dẫn tới sự phân công lao động lần thứ hai, nghề thủ công tách ra khỏi nông nghiệp. Nghề thủ công phát triển dẫn tới sự xuất hiện công trường thủ công. Như vậy, làng nghề truyền thống chính là khởi đầu công nghiệp nông thôn, là một bộ phận của ngành công nghiệp và là một đối tượng của quá trình CNH, HĐH nói chung và CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn nói riêng. + Góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, phân công lao động theo hướng CNH, HĐH. Sự phục hồi phát triển làng nghề truyền thống và xuất hiện làng nghề 15 mới sẽ chi phối các bộ phận khác trong nền kinh tế quốc dân. Đầu tiên là trong ngành nông nghiệp, tiếp theo phát triển các dịch vụ. Thứ tư, phát triển làng nghề truyền thống là phát huy lợi thế so sánh. Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã đặt ra vấn đề phát huy nội lực đất nước trong quá trình xây dựng đất nước. Làng nghề truyền thống chính là nguồn lực còn bỏ ngỏ trong nước. Do có tính độc đáo, nên sản phẩm của nghề thủ công được xếp vào nhóm hàng có năng lực cạnh tranh, là lợi thế của một nước nông nghiệp. Có giá trị thực thu lớn vì nguồn nguyên liệu nhập khẩu dưới 10%; trong khi đó, các mặt hàng điện tử, dệt may, giày da nguyên liệu nhập khẩu trên 80% nên giá trị thực thu thấp. Như vậy, phát triển làng nghề chính là phát huy lợi thế so sánh, nội lực đất nước trong quá trình CNH, HĐH. Thứ năm, làng nghề góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Đường nét trên sản phẩm thủ công thể hiện các hoa văn tinh xảo sống động. Là những tác phẩm nghệ thuật kết hợp văn hóa dân gian với phong cách hiện đại. Phản ánh cuộc sống hàng ngày, thể hiện cảnh quan các công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật cao như Chùa Một cột, các lễ hội đặc sắc của văn hoá dân gian... in đậm dấu ấn của nơi sản xuất ra nó. Các họa tiết hoa văn sen, cúc, Lã vọng câu cá, hiền nhân cưỡi ngựa qua cầu, mười hai con giáp... đó là những hình ảnh thấm đẫm tinh thần văn hóa dân tộc một cách cụ thể nhất. Vì vậy sản phẩm thủ công chính là sự phản ánh văn hoá vùng, văn hoá dân tộc. Ở một số làng nghề ngày hội làng chính là ngày giỗ tổ nghề, trong đó lòng tôn kính nghề nghiệp đã trở thành sinh hoạt văn hoá cộng đồng. Ngoài ra có nhiều nghi lễ, phong tục xuất hiện từ văn hóa nghề mà ra. Cùng với những thiết chế nghi lễ đó thì các quần thể công trình kiến trúc để suy tôn, tưởng niệm các vị tổ nghề đã ra đời như đình, chùa, miếu, đền. Nếu làng nghề đó phát triển, kinh tế tăng trưởng thì diện mạo của các công trình trên càng được tu bổ giữ gìn. Như vậy có thể nói làng nghề và nghề thủ công truyền thống là một bộ phận quan trọng trong kho tàng văn hoá dân tộc, là nơi lưu giữ truyền thống một cách cụ thể bền vững nhất. Bản sắc dân tộc được thể hiện qua các sản phẩm thủ công, nó thể hiện giá trị thẩm mỹ trước, sau đó mới đến giá trị kinh tế, kỹ thuật. 16
- Xem thêm -