Tài liệu Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác thanh tra toàn diện trường trung học phổ thông tỉnh bắc giang

  • Số trang: 109 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 32 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39801 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SƯ PHẠM NGUYỄN TIẾN QUANG MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THANH TRA TOÀN DIỆN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BẮC GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC Mã Số : 60 14 05 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS. TRẦN KHÁNH ĐỨC Hà Nội - 2006 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Mục đích nghiên cứu 3 3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu và mẫu khảo sát 3 4. Giả thuyết khoa học 4 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 4 6. Phạm vi nghiên cứu 4 7. Phương pháp nghiên cứu 4 8. Cấu trúc nội dung luận văn 5 Chƣơng 1. CƠ SỞ KHOA HỌC-PHÁP LÝ VỀ 6 THANH TRA, KIỂM TRA TRONG QUẢN LÝ GIÁO DỤC 1.1. Cơ sở lý luận 6 1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục 6 1.1.1.1. Quản lý 6 1.1.1.2. Quản lý giáo dục 9 1.1.1.3. Quản lý trường học 11 1.1.2. Một số khái niệm cơ bản về thanh tra giáo dục 12 1.1.2.1. Thanh tra 12 1.1.2.2. Thanh tra giáo dục 14 1.1.2.3. Thanh tra chuyên môn 15 1.1.2.4. Thanh tra toàn diện trường phổ thông 15 1.1.3. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về giáo dục 15 1.1.3.1. Khái niệm về quản lý nhà nước 15 1.1.3.2. Khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục 16 1.1.3.3. Nội dung chủ yếu quản lý nhà nước về giáo dục 19 1.1.3.4. Phương pháp, công cụ quản lý nhà nước về giáo dục 20 1.1.3.5. Thanh tra, kiểm tra trong quản lý giáo dục 22 1.2. Cơ sở pháp lý 25 1.2.1. Luật Thanh tra (2004) 25 1.2.2. Nghị định 49/2005/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong 25 lĩnh vực giáo dục 1.2.3. Nghị định 85/2006/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thanh tra 26 giáo dục 1.2.4. Quyết định 478/QĐ của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy 26 chế về tổ chức và hoạt động của hệ thống thanh tra giáo dục 1.2.5. Thông tư 07/2004/TT-BGD&ĐT hướng dẫn thanh tra toàn diện 26 trường phổ thông và thanh tra hoạt động sư phạm của giáo viên 1.2.6. Văn bản 106/TTr của Thanh tra Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng 26 dẫn về nghiệp vụ thanh tra toàn diện trường phổ thông và thanh tra hoạt động sư phạm của giáo viên phổ thông 1.3. Cơ sở thực tiễn 27 1.3.1. Dự án đào tạo cán bộ thanh tra và quản lý giáo dục Việt Nam 27 (FICEV) – Những vấn đề cần đặt ra sau Dự án 1.3.2. Hoạt động thanh tra, kiểm tra trước yêu cầu đổi mới chương trình 28 giáo dục phổ thông và thay sách giáo khoa lớp 10 Chƣơng 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA VÀ QUẢN LÝ 30 CÔNG TÁC THANH TRA TOÀN DIỆN TRƢỜNG THPT TỈNH BẮC GIANG 2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế-xã hội 30 và phát triển giáo dục-đào tạo của tỉnh Bắc Giang 2.1.1. Điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế-xã hội 30 2.1.2. Tình hình phát triển giáo dục-đào tạo 30 2.1.2.1. Tình hình chung về phát triển giáo dục 30 2.1.2.2. Thực trạng hoạt động và quản lý giáo dục ở các trường THPT 32 2.2. Thực trạng hoạt động thanh tra và quản lý công tác thanh tra toàn 36 diện trường THPT ở tỉnh Bắc Giang 2.2.1. Thực trạng hoạt động thanh tra toàn diện trường THPT ở tỉnh Bắc 36 Giang 2.2.1.1. Thực trạng tổ chức bộ máy, nhân sự thanh tra trường THPT 36 2.2.1.2. Thực trạng quy trình tổ chức hoạt động thanh tra 37 2.2.1.3. Thực trạng đánh giá xếp loại trường THPT qua thanh tra 39 2.2.2. Thực trạng quản lý công tác thanh tra toàn diện trường THPT 41 2.2.2.1. Thực trạng xây dựng tổ chức, bộ máy thanh tra 41 2.2.2.2. Thực trạng việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra 44 2.2.2.3. Thực trạng việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế 44 hoạch thanh tra 2.2.2.4. Thực trạng công tác sau thanh tra 46 2.3. Đánh giá chung 46 2.3.1. Điểm mạnh 46 2.3.2. Điểm yếu 47 2.3.3. Thời cơ 47 2.3.4. Thách thức 48 Chƣơng 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC 49 THANH TRA TOÀN DIỆN TRƢỜNG THPT Ở TỈNH BẮC GIANG 3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 49 3.2. Yêu cầu đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra giáo dục 49 trong giai đoạn mới 3.3. Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác thanh 50 tra toàn diện trường THPT ở tỉnh Bắc Giang 3.3.1. Biện pháp 1: Đổi mới tư duy thanh tra giáo dục, nâng cao nhận 51 thức về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người cán bộ thanh tra 3.3.1.1. Mục đích 51 3.3.1.2. Nội dung và cách thức tiến hành 51 3.3.2. Biện pháp 2: Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng, khuyến 52 khích tự bồi dưỡng nâng cao năng lực, phẩm chất của người cán bộ thanh tra về hiểu biết pháp luật, kỹ năng quản lý, nhất là kỹ năng “trao đổi” trong thanh tra 3.3.2.1. Mục đích 52 3.3.2.2. Nội dung và cách thức tiến hành 53 3.3.3. Biện pháp 3: Nâng cao chất lượng công tác thống kê, thông tin 54 quản lý giáo dục từ Sở đến các nhà trường trong việc thu thập và cung cấp thông tin phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá các hoạt động giáo dục 3.3.3.1. Mục đích 54 3.3.3.2. Nội dung và cách thức tiến hành 55 3.3.4. Biện pháp 4: Hoàn thiện quy chế, quy trình, hồ sơ thanh tra toàn 56 diện trường THPT theo hướng phân định rõ trách nhiệm, bảo đảm chặt chẽ, dễ sử dụng 3.3.4.1. Mục đích 56 3.3.4.2. Nội dung và cách thức tiến hành 56 3.3.5. Biện pháp 5: Củng cố tổ chức, bộ máy thanh tra các cấp theo 60 hướng từng bước chuyên nghiệp hoá và tăng cường tính độc lập của cơ quan thanh tra 3.3.5.1. Mục đích 60 3.3.5.2. Nội dung và cách thức tiến hành 60 3.4. Khảo nghiệm về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 61 3.5. Kết quả thử nghiệm một số biện pháp 63 3.5.1. Thử nghiệm các biện pháp 1, 2 và một phần biện pháp 5 64 3.5.2. Thử nghiệm biện pháp 4 65 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 67 1. Kết luận 67 2. Khuyến nghị 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤ LỤC 73 Phụ lục 1 73 Phụ lục 2 96 KÝ HIỆU CỤM TỪ VIẾT TẮT - THPT Trung học phổ thông - THCS Trung học cơ sở - GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo - CTVTT Cộng tác viên thanh tra - THCN Trung học chuyên nghiệp - UBND Uỷ ban nhân dân - TTGDTX Trung tâm Giáo dục thường xuyên - DTNT Dân tộc nội trú - GS Giáo sư - PGS Phó Giáo sư - TS Tiến sĩ MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010 với mục tiêu tổng quát là: “Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hoá” (5.Tr.8). Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định mục tiêu của Đại hội IX và đề ra phương hướng tổng quát của 5 năm 2006-2010 là : “... phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; ... sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển;...” (7.Tr.23), thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” (7.Tr.368). Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu nêu trên, giáo dục và đào tạo có vai trò quyết định trong việc tạo ra nguồn lực con người phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhu cầu phát triển giáo dục - đào tạo là rất bức thiết. Sau 20 năm đổi mới, giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng tự hào, góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Hệ thống giáo dục quốc dân từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học và sau đại học, với trên 21 triệu người đi học, sự nghiệp giáo dục đã góp phần phát huy nhân tố con người - nguồn nội lực quan trọng để đưa đất nước bước vào thế kỷ XXI. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, nền giáo dục và đào tạo nước ta còn có những khuyết điểm, yếu kém cần khẩn trương khắc phục. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ: "Chất lượng giáo dục và đào tạo còn thấp, nhiều vấn đề hạn chế, yếu kém chậm được khắc phục"; “Công tác quản lý giáo dục, đào tạo chậm đổi mới và còn nhiều bất cập. 1 Thanh tra giáo dục còn nhiều yếu kém; những hiện tương tiêu cực, như bệnh thành tích, thiếu trung thực trong đánh giá kết quả giáo dục, trong học tập, tuyển sinh, thi cử, cấp bằng và tình trạng học thêm, dạy thêm tràn lan kéo dài, chậm được khắc phục." (7.Tr .170, 171). Để phát huy những thành tựu đã đạt được và khắc phục có hiệu quả các khuyết điểm, yếu kém, đưa sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã chỉ ra phương hướng giải quyết là: "Đổi mới và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo; Nhà nước thực hiện đúng chức năng định hướng và phát triển, tạo lập khung pháp lý và kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực thi pháp luật, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục và đào tạo, chống bệnh thành tích. ... Tập trung khắc phục những tiêu cực trong dạy thêm, học thêm, thi cử, tuyển sinh, đánh giá kết quả học tập và cấp chứng chỉ, văn bằng.” (7.Tr.209) Như vậy, có một nhiệm vụ bức thiết đặt ra hiện nay là phải không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước để sự nghiệp giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu lực quản lý là phải coi trọng xây dựng củng cố hệ thống thanh tra giáo dục vững mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động, coi thanh tra là hoạt động thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước như tinh thần Luật Thanh tra. Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Giang trong những năm qua đã có nhiều cố gắng và nỗ lực để đổi mới quản lý giáo dục, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục. Tuy nhiên trong hoạt động thanh tra, kiểm tra vẫn còn nhiều bất cập, chưa có được những kết quả như mong muốn do vấn đề về trình độ nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ thanh tra cũng như về tổ chức, phương pháp tiến hành thanh tra, nên những chuyển 2 biến sau thanh tra chưa thực sự phát huy hết tác dụng, hiệu lực quản lý chưa cao. Trong các nhà trường: các hiện tượng tiêu cực, thiếu kỷ cương, thương mại hoá trong hoạt động giáo dục vẫn còn; cán bộ quản lý trình độ hạn chế, năng lực điều hành còn bất cập; một bộ phận giáo viên còn thiếu ý thức bồi dưỡng chuyên môn, có biểu hiện sa sút về phẩm chất đạo đức nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng giáo dục. Vì vậy, nâng cao hiệu lực của công tác quản lý giáo dục phải được coi là nhiệm vụ bức thiết của ngành giáo dục và đào tạo Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay. Để nâng cao hiệu lực quản lý giáo dục, phải xây dựng tổ chức Thanh tra vững mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra giáo dục, trong đó có việc nâng cao hiệu quả công tác thanh tra toàn diện trường trung học phổ thông (THPT). Nghiên cứu về đổi mới công tác thanh tra giáo dục đã có công trình nghiên cứu ở trong nước do Thanh tra Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, và Dự án “Đào tạo cán bộ thanh tra và quản lý giáo dục Việt Nam” với sự giúp đỡ của Thanh tra giáo dục Pháp để thực hiện một trong những giải pháp đổi mới đó. Tuy nhiên còn ít công trình nghiên cứu về biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra giáo dục. Đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu về biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra toàn diện trường THPT ở tỉnh Bắc Giang. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: "Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác thanh tra toàn diện trường THPT tỉnh Bắc Giang" để nghiên cứu, nhằm góp phần thực hiện có hiệu quả trong công tác quản lý hệ thống trường THPT, đồng thời nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bắc Giang. 2. Mục đích nghiên cứu Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác thanh tra toàn diện trường THPT ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay. 3. Khách thể, đối tƣợng nghiên cứu và mẫu khảo sát 3 - Khách thể nghiên cứu: hoạt động thanh tra toàn diện trường THPT ở tỉnh Bắc Giang. - Đối tượng nghiên cứu: biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra toàn diện trường THPT ở tỉnh Bắc Giang. - Mẫu khảo sát: hoạt động thanh tra toàn diện các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2004-2006. 4. Giả thuyết khoa học Hiệu quả công tác thanh tra toàn diện trường THPT ở tỉnh Bắc Giang sẽ được nâng cao, nếu người cán bộ thanh tra có nhận thức đúng về "nghề thanh tra" và cơ quan Sở Giáo dục và Đào tạo thực hiện đồng bộ, sáng tạo những biện pháp quản lý chỉ đạo đổi mới hoạt động thanh tra như: Củng cố tổ chức bộ máy thanh tra; Đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng; Hoàn thiện quy chế, quy trình thanh tra ...vv. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu một số vấn đề về cơ sở lý luận quản lý, quản lý giáo dục và thanh tra, kiểm tra trong giáo dục. - Phân tích thực trạng hoạt động thanh tra toàn diện trường THPT và thực trạng quản lý công tác thanh tra toàn diện trường THPT ở tỉnh Bắc Giang. - Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác thanh tra toàn diện trường THPT ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn mới. 6. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian và thời gian: các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Giang được thanh tra toàn diện giai đoạn 2004-2006. - Phạm vi nội dung: hoạt động thanh tra toàn diện trường THPT và quản lý chỉ đạo công tác thanh tra toàn diện trường THPT ở tỉnh Bắc Giang. 7. Phƣơng pháp nghiên cứu Quá trình thực hiện đề tài, kết hợp sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp nghiên cứu lý thuyết. 4 + Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Nhà nước về phát triển giáo dục; các văn bản quy phạm pháp luật quy định về quản lý giáo dục, thanh tra giáo dục và một số văn bản hướng dẫn khác có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. + Nghiên cứu sách, tài liệu, báo cáo khoa học và sản phẩm hoạt động thanh tra toàn diện trường THPT. - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn. + Quan sát, phỏng vấn, điều tra, tham khảo ý kiến chuyên gia (Thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra và cán bộ, chuyên viên Sở, Phòng Giáo dục); thực nghiệm và tổng kết kinh nghiệm. + Sử dụng phần mềm tin học để phân tích, tổng hợp, thống kê với mục đích xử lý kết quả nghiên cứu từ điều tra và từ sản phẩm hoạt động thanh tra toàn diện trường THPT giai đoạn 2004-2006. 8. Cấu trúc nội dung luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được cấu trúc trong 3 chương: Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC - PHÁP LÝ VỀ THANH TRA, KIỂM TRA TRONG QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chƣơng 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA VÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC THANH TRA TOÀN DIỆN TRƢỜNG THPT Ở TỈNH BẮC GIANG Chƣơng 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THANH TRA TOÀN DIỆN TRƢỜNG THPT Ở TỈNH BẮC GIANG 5 NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC - PHÁP LÝ VỀ THANH TRA, KIỂM TRA TRONG QUẢN LÝ GIÁO DỤC 1.1. Cơ sở lý luận 1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục 1.1.1.1. Quản lý Khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì quản lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung. Có thể nói, quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung. Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình. Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng của Nhà xuất bản Giáo dục năm 1998, thuật ngữ quản lý được định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”. Quản lý là một hoạt động có chủ đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý. Trong mỗi chu trình quản lý chủ thể tiến hành những hoạt động theo các chức năng quản lý như xác định mục tiêu, các chủ trương, chính sách; hoạch định kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện, điều hoà, phối hợp, kiểm tra và huy động, sử dụng các nguồn lực cơ bản như tài lực, vật 6 lực, nhân lực ..vv để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh và thời gian nhất định. Chung quanh khái niệm quản lý còn có rất nhiều định nghĩa khác nhau: - F.W TayLor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. - H.Koontz thì lại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. - Trong tác phẩm “Lý luận quản lý Nhà nước” của Mai Hữu Khuê, xuất bản năm 2003 có định nghĩa về quản lý như sau: “Quản lý là một phạm trù có liên quan mật thiết với hiệp tác và phân công lao động, nó là một thuộc tính tự nhiên của mọi lao động hiệp tác”. Còn C. Mác đã coi việc xuất hiện quản lý như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại. C. Mác đã viết: “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân ... Một nhạc sĩ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”. Hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa một cách rõ hơn. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã đưa ra khái niệm: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra (25.Tr. 1). Quản lý là một quá trình chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý bằng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo kiểm tra, đánh giá, dựa trên những nguồn lực và những điều kiện có thể có nhằm đạt được mục đích của tổ chức. Như 7 vậy quản lý có bốn chức năng cơ bản sau: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo lãnh đạo và kiểm tra. - Chức năng lập kế hoạch là nền tảng của quản lý, bởi vì đó là việc xây dựng các định hướng và đề ra quyết định tổ chức thực hiện trong thời gian nhất định của tổ chức. Lập kế hoạch bao gồm việc xác định sứ mệnh, mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó dựa trên việc tính toán các nguồn lực, các giải pháp. Mục đích của việc lập kế hoạch là lựa chọn một đường lối hành động mà một tổ chức nào đó và bộ phận của nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của tổ chức. - Chức năng tiếp theo của quản lý là tổ chức. Tổ chức chính là việc sắp xếp, tuyển chọn xác định một cơ cấu định trước về các vai trò cho từng con người đảm đương trong một cơ sở thông qua việc phân tích công việc, đề ra nhiệm vụ để lựa chọn người vào việc và cả việc tính toán phân bổ nguồn lực khác để xây dựng cơ chế làm việc thích hợp. Đồng thời hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. - Chức năng lãnh đạo (chỉ đạo) là quá trình chỉ đạo hay tác động của người quản lý đến người bị quản lý, lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Hiển nhiên việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia. - Chức năng cuối cùng của quản lý là kiểm tra, đánh giá. Đây là việc đo lường và điều chỉnh các hoạt động của các bộ phận phối thuộc trong tổ chức. Kiểm tra là quá trình theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động, đánh giá kết quả của việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức nhằm tìm ra những mặt ưu điểm, hạn chế để điều chỉnh việc lập kế hoạch, tổ chức và lãnh đạo. Một kết 8 quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn. Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ như sau: + Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động + Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt ra + Người quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch + Người quản lý hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần. Trong bốn chức năng trên thì chức năng tổ chức là quan trọng nhất. Tuy nhiên bốn chức năng này có liên quan mật thiết với nhau và phải được thực hiện liên tiếp và đan xen vào nhau, phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kết nối giữa chu trình quản lý này sang chu trình quản lý khác theo hướng phát triển, trong đó thông tin luôn là yếu tố xuyên suốt không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lý và là cơ sở cho việc ra quyết định quản lý. Chức năng của quản lý có thể mô tả theo sơ đồ sau: (Xem hình 1) Kế hoạch Kiểm tra đánh giá thông tin Chỉ đạo Hình 1. Sơ đồ các chức năng quản lý 9 Tổ chức Từ quan niệm của các học giả đã nêu, PGS.TS. Trần Khánh Đức đã khái quát lại như sau: “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất” (29.Tr. 2). 1.1.1.2. Quản lý giáo dục Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người được thực hiện một cách tự giác, nó tồn tại, vận động, phát triển với tư cách là một hệ thống. Theo cách nói của Marx thì “dàn nhạc” giáo dục trong quá trình tồn tại và phát triển tất yếu phải có quản lý giáo dục (nhạc trưởng). Quản lý giáo dục với tư cách là một chuyên ngành khoa học đang phát triển đã trải qua nhiều biến đổi, bổ sung và ngày một phong phú. Về quản lý giáo dục cũng có khá nhiều quan điểm khác nhau được tác giả Nguyễn Quốc Chí đề cập trong cuốn “Những cơ sở của lý luận quản lý giáo dục” như sau: - Quan điểm hiệu quả: Là quan điểm quản lý giáo dục ra đời vào thập niên đầu tiên của thế kỷ, khi xuất phát từ việc áp dụng tư tưởng kinh tế vào quản lý giáo dục. Theo quan điểm hiệu quả, quản lý giáo dục phải được thực hiện sao cho hiệu số giữa đầu ra và đầu vào của hệ thống giáo dục phải đạt cực đại. - Quan điểm kết quả: Ra đời vào đầu những năm 20. Cơ sở tư tưởng của quan điểm này là khoa học tâm lý sư phạm. Quan điểm kết quả chú ý đến việc đạt mục tiêu giáo dục nhiều hơn chú ý đến hiệu quả kinh tế của nó. - Quan điểm đáp ứng: Ra đời vào những năm 60. Cơ sở tư tưởng của quan điểm này là khía cạnh chính trị của giáo dục. Quản lý giáo dục phải hướng tới việc làm cho hệ thống giáo dục phục vụ, đáp ứng các đòi hỏi của sự phát triển đất nước, phát triển xã hội. - Quan điểm phù hợp: Ra đời vào những năm 70. Cơ sở tư tưởng của quan điểm này là vấn đề văn hoá. Quản lý giáo dục phải đạt được mục tiêu 10 phát triển giáo dục trong điều kiện bảo tồn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc (24.Tr.68, 69). Ngày nay giáo dục được gắn với quá trình phát triển xã hội, việc đi học của mỗi người phải là: “ học thường xuyên, học suốt đời ”. Do đó giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà là giáo dục cho mọi người, cho nên quản lý giáo dục cũng có thể hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Quản lý giáo dục có những đặc trưng riêng so với các loại hình quản lý khác. Nó là hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc, nó thu hút sự tham gia của rất đông các thành viên xã hội, có ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống xã hội. Quản lý giáo dục cũng gồm có bốn chức năng cơ bản như các hoạt động quản lý khác là: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Quản lý giáo dục được biểu hiện ở nhiều cấp độ khác nhau tuỳ thuộc vào việc xác định đối tượng quản lý. Việc xác định đối tượng quản lý khác nhau để chủ thể quản lý giáo dục các cấp tác động vào đối tượng của mình đạt hiệu quả cao nhất, sự tác động có tính khoa học, hệ thống với đối tượng đó. Giáo dục học hiện đại đã khẳng định, nơi chủ yếu để thực hiện quá trình sư phạm là nhà trường, một thiết chế nhà nước-xã hội hiểu theo nghĩa đầy đủ nhất. Vì vậy việc quản lý giáo dục- thực chất là quản lý tế bào cơ bản nhất của hệ thống giáo dục, nhà trường- không thể không tính đến quan hệ nhà nước - xã hội. Một mặt, nhà trường nói riêng hay toàn bộ hệ thống giáo dục nói chung (rộng hơn là toàn bộ các hoạt động giáo dục) phải được Nhà nước thống nhất quản lý bằng việc thực thi công quyền; mặt khác, hệ thống giáo dục gắn bó chặt chẽ với xã hội nói chung và mỗi cộng đồng dân cư, thậm chí mỗi công dân, mỗi thành viên xã hội nói riêng. Sự tham gia của xã hội/cộng đồng/công dân vào công việc nhà trường, vào việc quản lý giáo dục là một tất yếu. 1.1.1.3. Quản lý trường học 11 Căn cứ Điều 58. Nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường (Chương III, Luật Giáo dục năm 2005) có thể thấy quản lý trường học chủ yếu là quản lý quá trình dạy-học, quản lý các hoạt động bên trong nhà trường, đồng thời quản lý các quan hệ giữa nhà trường và xã hội. Trường học là một cơ cở giáo dục, nó nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân và tổng thể của một xã hội. đặc điểm của thể chế đó là có sự gắn bó, kết hợp hữu cơ và hết sức chặt chẽ giữa những đặc điểm của nhà nước và đặc điểm của xã hội. Do vậy nhà trường và xã hội luôn có mối quan hệ tác động qua lại. Môi trường xã hội tác động vào nhà trường và ngược lại. Quản lý nhà trường về bản chất là quản lý con người. Trong nhà trường chủ thể quản lý là lãnh đạo nhà trường ( hiệu trưởng, phó hiệu trưởng), khách thể bị quản lý là tập thể giáo viên, học sinh. Vì vậy quản lý nhà trường phải giải quyết tốt mối quan hệ con người-con người là mối quan hệ chủ đạo, có tính chất quyết định thành tựu của hoạt động giáo dục. Những mối quan hệ con người được biểu hiện tập trung ở những vấn đề: nhân cách của người đứng đầu một cơ sở giáo dục (hiệu trưởng) và cách thức hành xử của người đó với tập thể giáo viên và học sinh; vấn đề văn hoá và bầu không khí tâm lý trong nhà trường; vấn đề phong cách lãnh đạo quản lý của người hiệu trưởng ...vv. 1.1.2. Một số khái niệm cơ bản về thanh tra giáo dục 1.1.2.1. Thanh tra Khái niệm thanh tra xuất phát từ gốc Latinh có nghĩa là "nhìn vào bên trong", chỉ “một sự kiểm tra xem xét từ bên ngoài vào một đối tượng nhất định”. Theo từ điển tiếng Việt: “Thanh tra (người thuộc cơ quan có thẩm quyền) kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” (13.Tr.838). Trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Thống kê đã nêu: “Thanh tra là hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, có chức năng duy trì các hoạt động của cơ quan và 12 của công chức hành chính phù hợp với pháp luật của nhà nước, bằng các hoạt động xem xét, thẩm định lại những hành vi của công chức, những hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước trên cơ sở những quy định pháp lý về quyền hạn, nhiệm vụ của các cá nhân (công chức, cán bộ và các nhân viên khác trong cơ quan hành chính và tổ chức)”; “Thanh tra là một khái niệm thuộc một chức năng đặc trưng của quản lý hành chính nhà nước. Thanh tra có cơ cấu trong tổ chức bộ máy hành pháp. Thanh tra khác với hoạt động kiểm tra về các yếu tố chủ thể, nguồn gốc phát sinh, về quy trình hoạt động và về hậu quả do chúng mang lại” (10.Tr.299, 304). Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác thanh tra thì có thể đưa ra khái niệm sau: "Thanh tra là một dạng hoạt động, là một chức năng của quản lý nhà nước được thực hiện bởi chủ thể quản lý có thẩm quyền, nhân danh quyền lực nhà nước, nhằm tác động đến đối tượng quản lý trên cơ sở xem xét, đánh giá ưu khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, tăng cường quản lý, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế bảo vệ quyền lợi nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân" (11.Tr.136). Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 đã xác định rõ: "Thanh tra là chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước, là phương thức bảo đảm pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa". Hoạt động thanh tra không có mục đích tự thân. Mục đích chung nhất của hoạt động thanh tra là hoạt động tự điều chỉnh trong nội bộ cơ quan hành chính nhà nước. Trong quản lý nhà nước đương nhiên có những hoạt động đúng pháp luật. Đồng thời, trong quản lý không thể không có sai phạm, thiếu sót. Vì vậy cần phải tổ chức thực hiện việc thanh tra để xem xét kết quả, hiệu quả và mục tiêu đã đề ra của hoạt động quản lý khi đối tượng bị quản lý thực hiện và kịp thời khắc phục những khiếm khuyết, sơ hở của cơ chế chính sách cũng như xử lý các vi phạm và những vấn đề thực tiễn của hoạt động quản lý 13
- Xem thêm -