Tài liệu Một số biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho học sinh qua sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông

  • Số trang: 155 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 264 |
  • Lượt tải: 3
tailieuonline

Đã đăng 39894 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ------------------- NGUYỄN HỒNG NHUNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH QUA SỬ DỤNG TÀI LIỆU THAM KHẢO TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ Mã số: 60 14 10 Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thế Bình HÀ NỘI - 2012 1 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 4 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................... 5 3. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................... 11 4. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................. 12 5. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................. 12 6. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................... 12 7. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 13 9. Đóng góp của đề tài .................................................................................. 13 10. Cấu trúc của luận văn ............................................................................. 14 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO HS QUA SỬ DỤNG TLTK TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG THPT ................................................ 15 1.1. Cơ sở lý luận ......................................................................................... 15 1.1.1. Một số khái niệm cơ bản ............................................................................. 15 1.1.2. Cơ sở xuất phát của vấn đề phát triển kỹ năng tự học của học sinh qua sử dụng tài liệu tham khảo ......................................................................................... 27 1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của sử dụng TLTK đối với việc phát triển kỹ năng tự học cho HS .................................................................................................................. 32 1.1.4. Một số kỹ năng tự học cần hình thành và phát triển cho HS khi sử dụng TLTK.................................................................................................................... 36 1.2. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................... 39 1.2.1. Thực trạng việc phát triển kỹ năng tự học cho HS qua sử dụng TLTK ở trường THPT ........................................................................................................ 39 1.2.2. Nguyên nhân thực trạng dạy - tự học Lịch sử qua sử dụng TLTK trong dạy học Lịch sử trường THPT ..................................................................................... 49 119 Chƣơng 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO HS QUA SỬ DỤNG TLTK TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG THPT (VẬN DỤNG TRONG DẠY HỌC LSVN 1945-1954) 52 2.1. Mục tiêu, cấu trúc, nội dung cơ bản của chương trình lịch sử THPT ..... 52 2.1.1. Mục tiêu ...................................................................................................... 52 2.1.2. Cấu trúc, nội dung cơ bản ........................................................................... 53 2.2. Vị trí, vai trò, nội dung cơ bản của chương trình LSVN 1945 - 1954 ..... 55 2.3. Một số yêu cầu sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học Lịch sử ........ 57 2.4. Một số biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho HS qua sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử (vận dụng trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954) ................................................................................... 59 2.4.1. Phát triển kỹ năng phát hiện kiến thức cơ bản qua TLTK........................... 59 2.4.2. Phát triển kỹ năng so sánh, đối chiếu TLTK với SGK để khắc sâu kiến thức cơ bản ................................................................................................................... 65 2.4.3. Phát triển kỹ năng dùng TLTK để trả lời câu hỏi........................................ 68 2.4.4. Phát triển kỹ năng trình bày kiến thức thu được từ TLTK .......................... 71 2.4.5. Phát triển kỹ năng sưu tầm TLTK............................................................... 81 2.4.6. Phát triển kỹ năng ghi chép TLTK.............................................................. 86 2.4.7. Phát triển kỹ năng biết thắc mắc, đặt câu hỏi và tìm cách tự trả lời............. 89 2.4.8. Phát triển kỹ năng tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập qua TLTK ............ 92 2.4.9. Phát triển kỹ năng sử dụng TLTK để chuẩn bị cho các hoạt động ngoại khóa... 94 2.5. Thực nghiệm sư phạm ......................................................................... 102 2.5.1. Mục đích thực nghiệm .............................................................................. 102 2.5.2. Đối tượng thực nghiệm ............................................................................. 102 2.5.3. Nội dung thực nghiệm .............................................................................. 103 2.5.4. Phương pháp thực nghiệm ........................................................................ 103 2.5.5. Kết quả thực nghiệm ................................................................................. 103 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ........................................................... 111 TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 113 PHỤ LỤC 120 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CNXH : Chủ nghĩa xã hội ĐHQG : Đại học quốc gia ĐHSP : Đại học sư phạm LSTG : Lịch sử thế giới LSVN : Lịch sử Việt Nam GV : Giáo viên HS : Học sinh SGK : Sách giáo khoa TLTK : Tài liệu tham khảo THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông 3 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong xã hội hiện đại, bùng nổ của tri thức, khoa học kỹ thuật, yêu cầu bức thiết đặt ra: giáo dục, đào tạo cho thế hệ trẻ không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ tri thức mà phải hướng tới việc bồi dưỡng cho học sinh khả năng tự học. Việc tự học thể hiện quan điểm giáo dục của Đảng ta: biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 của Ban chấp hành Trung Ương Đảng lần thứ VIII về “Định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo” (12/1996) nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, khắc phục lối truyền thụ một chiều rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”[34, tr. 11]. Để thực hiện được định hướng đó, đòi hỏi học sinh phải nghiên cứu trước bài học, đọc thêm các tài liệu liên quan, đề xuất vấn đề… Hàng loạt công việc độc lập trên chỉ có thể giải quyết được bằng con đường tự học. Tự học của HS là vấn đề quan trọng vì đó là một khâu trong quá trình thống nhất của việc tự học. Tự học là 1 trong những yếu tố quyết định chất lượng giáo dục. Người dạy dù cố gắng đến đâu nhưng người học không động não, không tự tìm tòi, suy nghĩ trong quá trình lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thì kết quả dạy học không thể tốt được. Vì vậy, có thể khẳng định tự học là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả học tập ở trường phổ thông. Rèn luyện năng lực tự học cho HS THPT có vị trí quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu bộ môn và góp phần đào tạo ra những con người lao động có năng lực thực hành, tự chủ, năng động, sáng tạo, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên. 4 Có thể nói, tự học là khả năng tiềm tàng trong mỗi con người. Vấn đề tự học đã được quan tâm, nhiều trường phổ thông đã tổ chức hội thảo bàn về đổi mới phương pháp dạy học. Tuy nhiên đa số mới chỉ dừng lại ở lý luận, còn trong thực tiễn dạy học, GV vẫn còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng. Nhiều GV và HS vẫn chưa ý thức được tầm quan trọng của việc tự học nên chưa quan tâm chú trọng tới việc rèn kỹ năng này. Đối với môn Lịch sử, còn nhiều quan niệm lệch lạc cho rằng: Lịch sử là môn phụ; chỉ cần học thuộc sự kiện, không cần tư duy sáng tạo, học Lịch sử không phục vụ nhiều cho cuộc sống... Do đó, môn Lịch sử không được coi trọng, phương pháp dạy học Lịch sử không hiệu quả và tạo hứng thú cho HS. Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng chưa được quan tâm. Để HS tiếp nhận đầy đủ và sâu sắc về các sự kiện, nhân vật, vấn đề lịch sử là vô cùng cần thiết. Phương pháp tốt nhất để thực hiện được mục tiêu ấy không gì hơn là phải phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh. Mặt khác nội với nội dung kiến thức hết sức phong phú trong khi thời lượng các tiết học trên lớp hạn chế, đòi hỏi HS phải tự học qua khai thác thêm các tài liệu tham khảo ngoài SGK. Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Một số biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho HS qua sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở trường THPT” làm đề tài nghiên cứu. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Nghiên cứu về tự học không còn là vấn đề mới mẻ. Các nhà nghiên cứu giáo dục, các nhà sư phạm đã quan tâm giải quyết vấn đề này dưới nhiều góc độ và mức độ khác nhau. 2.1. Trên thế giới Từ thời cổ đại, vấn đề tự học đã khẳng định được vai trò và ý nghĩa to lớn của nó. Đó là hoạt động tự tìm tòi học hỏi, khám phá, trang bị tri thức cho học sinh. Điều này được thể hiện rõ trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử 5 (551-479 TCN) – nhà giáo dục lỗi lạc của Trung Hoa cổ đại. Khổng Tử cho rằng người đi học không cố gắng suy nghĩ các vấn đề đã học thì dù có dạy cũng không có ích gì. Cách dạy của ông là gợi mở để học trò tìm ra chân lý, người thầy không được làm thay học trò. Ông vẫn thường nói:“trong ba người đồng hành tất có một người là thày ta”. Theo ông có thể học bất kỳ ai, học bất cứ nơi nào, yếu tố quyết định sự thành công là ở người học. Tiến sĩ R.R.Sing ở Ấn Độ đưa ra quan niệm về “quá trình nhận biết dạy học”. Ông nhấn mạnh người học phải tích cực, chủ động trong quá trình học kiến thức và nhận ra các tiềm năng của bản thân. Như vậy, ở phương Đông người ta đã nghiên cứu về tự học từ rất lâu. Song tự học mới chỉ được nghiên cứu chung chung, khái quát, chưa được nghiên cứu sâu, nhất là về kĩ năng tự học. Họ chỉ mới dừng lại ở việc khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động tự học – yếu tố quyết định sự thành công của mỗi người. Đối với các nhà khoa học phương Tây, vấn đề này cũng được quan tâm, nghiên cứu sâu trên từng khía cạnh cụ thể. Nhà giáo dục vĩ đại của Hi Lạp cổ đại Xôcrat (469-399 TCN) được biết đến với phương pháp dạy học gọi là “thuật đỡ đẻ” nhằm phát huy tính tích cực tư duy của HS. Ông quan niệm: trong mỗi con người luôn chứa đựng kiến thức tiềm ẩn, trách nhiệm của nhà giáo dục là phải khơi gợi những tiềm ẩn đó cho HS. J.A.Cômenxki (1562-1670) nhà sư phạm Tiệp Khắc thể kỷ XVII đã đưa ra những biện pháp dạy học hướng HS phải tìm tòi, suy nghĩ để nắm được bản chất của sự vật, hiện tượng. Ông nói: “Tôi thường bồi dưỡng cho HS của tôi tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng vào thực tiễn” Ông cũng cho rằng, tính tự lực, tự giác phải được hình thành và rèn luyện ngay từ nhỏ: “giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo là việc quan trọng” [17, tr. 36] 6 J.J.Rousseau (1712-1778), người Thụy Sĩ cho rằng phải hướng HS tích cực đánh giá kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo. Ông nói: “Đừng cho trẻ em học khoa học mà hãy để cho nó tự phát minh ra” [17, tr. 36] Theo Tohr Dewey (1859-1952), người Mĩ thì: “Việc dạy học phải kích thích được hứng thú, phải để HS độc lập tìm tòi, thầy giáo là người thiết kế, người cố vấn” [17, tr. 37] Trong cuốn “Chuẩn bị giờ học Lịch sử như thế nào”, tiến sĩ N.Đ.Đairi đã trình bày các nguyên tắc cơ bản trong giờ học lịch sử ở trường THPT. Ông đưa ra các yêu cầu để một gờ học đạt hiệu quả cao: chuẩn bị tốt giáo án, giáo viên sử dụng tốt các nguồn tài liệu, linh hoạt các phương pháp giảng dạy… Đặc biệt ông nhấn mạnh đến việc đưa ra các bài tập độc lập để phát huy tính tự lực của HS trong học tập. I.F.Kharlamov trong cuốn “Phát huy tính tích cực của HS như thế nào” cũng đã khẳng định: công tác tự học giữ vai trò to lớn trong việc nâng cao tính tích cực hoạt động trí tuệ của HS khi thông hiểu và tiếp thu tri thức mới. Vai trò quan trọng của tự học còn được khẳng định qua nghiên cứu của các nhà giáo dục tiêu biểu thế kỷ XVII – XIX như Petalogi (1824-1890), Ditecvec (1790-1886), và Usinxki (1824-1870). Họ nhấn mạnh phương thức học tập bằng con đường tìm tòi, khám phá nỗ lực của bản thân. Tư tưởng này có tác dụng lớn trong việc đổi mới phương pháp tư duy của HS nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách người học. Năm 1979, UNESCO xuất bản cuốn “Thuật ngữ giáo dục người lớn” bằng ba thứ tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha đã nêu: “sự giáo dục mà nội dung quá trình tự học được xác định bởi các nhu cầu mong muốn của người học và họ tham gia tích cực vào việc hình thành và kiểm soát, sự giáo dục này huy động những nguồn lực và kinh nghiệm của người học”. Trong khuyến cáo của UNESCO về “giáo dục cho thế kỷ XXI” khẳng định bốn trụ cột của giáo dục là: “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người” 7 Với tác phẩm “Tự học như thế nào” (Nxb Thanh niên, 1982), Rubakin đã kết luận rằng: “Hãy mạnh dạn tự đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời, đó là tự học.” Ông cũng đưa ra 1 số nguyên tắc cho việc tự học là: hãy làm tất cả những gì có thể làm được và hãy cố gắng làm sao để có thể làm được nhiều nhất. Nhà sư phạm T.Makiguchi (1871-1944) trong cuốn “giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” (Nxb Trẻ -1994) cho rằng: “Giáo dục, xét như một quá trình hướng dẫn tự học, động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt tới hạnh phúc của bản thân và của cộng đồng [61, tr. 19]. Như vậy, ông đã nhấn mạnh vai trò của giáo dục và hoạt động tự học của con người để giúp con người sáng tạo ra những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, xã hội. Tóm lại, các quan điểm trên tuy đề cập đến những góc độ khác nhau nhưng đều khẳng định năng lực thực tiễn của trẻ em dưới hình thức tự học, tự phát triển. 2.2. Các tác giả trong nước Theo chiều dài của lịch sử, nền giáo dục có sự chuyển biến sâu sắc. Quan niệm về tự học không giống nhau qua mỗi thời kỳ. Do ảnh hưởng của văn hóa-giáo dục Trung Hoa thời phong kiến, việc tự học được thực hiện một cách máy móc, kĩ năng chủ yếu là ghi nhớ kiến thức, học thuộc lòng. Thời Pháp thuộc do những chính sách cai trị của thực dân Pháp, nền giáo dục bị kìm nén, trì trệ. Do đó, tự học chưa được bàn đến. Sau 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, một số nhà giáo dục có tư tưởng tiến bộ đã quan tâm đến vấn đề tự học như: Trần Kim Bảng, Nguyễn Duy Cần, Lê Đinh Ngọc Ân… Tuy nhiên các tác giả chưa đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống toàn diện hoạt động, nhất là kỹ năng tự học của HS. Họ chỉ mới dừng lại ở việc tổng kết kinh nghiệm giảng dạy, tự học của cá nhân. Hoạt động tự học chỉ thực sự được quan tâm dưới nền giáo dục XHCN. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập sâu sắc đến vấn đề học tập và tự học. Bác 8 dạy: “Trong học tập, phải lấy tự học làm cốt”, “phải tự nguyện, tự giác, coi học tập là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, phải tích cực chủ động hoàn thành kế hoạch học tập”. [54, tr. 14] Tư tưởng đó của Người được Đảng vận dụng và là quan điểm chỉ đạo được đề ra từ nghị quyết Trung Ương Đảng lần 2 khóa VIII về đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các bậc học, ngành học. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định ở Nghị quyết Trung ương Đảng khóa IX. Ngày nay, trung tâm nghiên cứu tự học – tự đào tạo với sự tham gia của giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo… đã ra đời. Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận về tự học, các tác giả đã nêu lên các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả tự học. Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn đã đóng góp nhiều công sức trong việc tìm hiểu vấn đề tự học ở nhiều loại hình đào tạo khác nhau (tập trung, đào tạo từ xa, trung tâm giáo dục thường xuyên…) trong tuyển tập tác phẩm: Bàn về giáo dục Việt Nam – Nxb Lao động, 2002. Cuốn sách “Quá trình dạy – tự học” của Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997) đã đi sâu tìm hiểu hoạt động dạy của thầy, tự hoc của trò. Trong quá trình dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm thực chất là biến quá trình dạy của thầy thành quá trình tự học của trò. Mặt khác, trong cuốn sách “Luận bàn về kinh nghiệm tự học”, tác giả đã đưa ra các kinh nghiệm bản thân về việc tự học và hiệu quả của quá trình tự học. Về phương pháp tự học trong môn Lich sử, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đê này. Cuốn “Đối mới việc dạy, học lịch sử lấy HS làm trung tâm” của Hội khoa học lịch sử Việt Nam do GS Phan Ngọc Liên chủ biên đã đề cập đến phương hướng, biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường 9 phổ thông hiện nay, trong đó nhấn mạnh đến vấn đề phát huy năng lực tư duy của HS. Trong cuốn “Phát huy tính tích cực của HS trong dạy học Lịch sử ở trường THCS” do Giáo sư Phan Ngọc Liên, PGS Trịnh Đình Tùng chủ biên đã đề cập đầy đủ cơ sở lý luận, thực tiễn của việc phát huy tính tích cực học tập của HS. Đồng thời đề ra những biện pháp sư phạm cần thiết nhằm phát huy tính tích cực, khả năng tư duy độc lập của HS THCS. Tác phẩm “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Lịch sử ở trường phổ thông”, GS TS Nguyễn Thị Côi đã trình bày cụ thể quan niệm về tự học Lịch sử, nội dung và các hình thức tự học. Ngoài ra, vấn đề này cũng được đề cập đến trong cuốn “Hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở trường THCS” do PGS Trịnh Đình Tùng chủ biên. Thông qua tìm hiểu việc tự học của HS, tác giả nêu rõ mối quan hệ mật thiết giữa phương pháp giảng dạy của GV với phương pháp học tập của HS góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy. Vấn đề tự học đã được luận bàn sôi nổi trên các tạp chí như: Giáo dục và thời đại; Nghiên cứu giáo dục; Nghiên cứu Lịch sử; tạp chí Giáo dục. Các bài viết: “Một vài suy nghĩ về đổi mới nội dung giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông hiện nay” của tác giả Nghiêm Đình Vì và Trịnh Đình Tùng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 5/1991, “Về biện pháp nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử” của PGS Trịnh Đình Tùng trên tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 5/1994, “Bồi dưỡng khả năng tự học cho HS THCS” (Th.S Võ Hoàng Ngọc, tạp chí Giáo dục), “Đổi mới việc chỉ đạo hoạt động tự học ở nhà của HS” (Vũ Duy Yên, “Dạy phương pháp học cho HS” (PGS TS Nguyễn Văn Đản), “Tự học-một chìa khóa vàng của giáo dục” (GS Phan Trọng Luận), “Tạo hứng thú tự học bộ môn Lịch sử cho HS” (Nguyễn Thị Thế Bình, tạp chí giáo dục số 258 năm 2011)...đã đi sâu nghiên cứu vào các khía cạnh khác nhau của vấn đề tự học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn. 10 Đặc biệt là hội thảo khoa học “Nghiên cứu phát triển – tự học – tự đào tạo” tổ chức tại Hà Nội ngày 6/1/1998 với nhiều bài phát biểu, bài viết xung quanh vấn đề tự học, phát huy nguồn lực con người và các biện pháp cần được tiến hành đồng bộ hiện nay để phát triển năng lực tự học nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Bên cạnh đó, vấn đề tự học được đi sâu tìm hiểu qua luận án và luận văn thạc sĩ như: Luận án tiến sĩ: Trần Văn Hiếu với “Xây dựng quy trình làm việc độc lập với sách và tài liệu học tập cho HS”; Trịnh Khắc Hậu với đề tài “Một số biện pháp quản lý tự học cho HS trường nội trú Đồ Sơn”; Ngô Đình Qua với “Một số biện pháp phát huy tính tự lực của HS THPT”, Phạm Thị Xuyến với đề tài “Hình thành thói quen tự học cho HS THPT qua giờ Văn học sử”… Luận văn “Rèn luyện năng lực tự học cho HS trong dạy học Lịch sử Việt Nam 1858-1918 ở lớp 11 THPT” của Nguyễn Thị Thanh Thủy; “Sử dụng TLTK theo hướng phát huy tính tích cực của HS trong dạy học Lịch sử Việt Nam 1945-1954” của Nguyễn Thị Xuân Khang… Như vậy chúng ta thấy, có không ít các công trình nghiên cứu về vấn đề tự học và kỹ năng tự học qua TLTK. Các tài liệu tập trung nghiên cứu khá sâu sắc và hệ thống về mặt lý luận: vai trò ý nghĩa, hình thức, các biện pháp phát triển kỹ năng tự học... Tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu việc phát triển kỹ năng tự học qua sử dụng TLTK. Những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước chính là nguồn tài liệu quý báu, là những căn cứ, gợi ý có giá trị cho chúng tôi thực hiện luận văn này. 3. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình dạy học môn Lịch sử ở trường THPT. 11 4. Phạm vi nghiên cứu Đề tài không đi sâu nghiên cứu vấn đề tự học nói chung, mà tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển kĩ năng tự học với TLTK cho HS và đề xuất một số biện pháp sư phạm nhằm phát triển kỹ năng tự học qua sử dụng TLTK cho HS trong dạy học lịch sử ở trường THPT. Do thời gian hạn chế nên đề tài giới hạn việc vận dụng các biện pháp phát triển kỹ năng tự học qua sử dụng TLTK cho HS trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954 lớp 12 THPT (chương trình chuẩn) - Phần thực nghiệm, chúng tôi chỉ tiến hành qua một bài học trên lớp. - Phạm vi thực nghiệm giới hạn ở một số trường phổ thông tại Hà Nội và các tỉnh phía Bắc như: THPT Phạm Hồng Thái (Hà Nội), THPT Trần Hưng Đạo (Hà Nội), THPT Hồng Thái (Đan Phượng, Hà Nội), THPT Hùng Vương (Thái Bình), THPT Chuyên Hạ Long (Quảng Ninh), THPT Chuyên Amsterdam (Hà Nội), Trung tâm GDTT Thuận Thành (Bắc Ninh) 5. Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở khẳng định tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng tự học với TLTK cho HS THPT, đề tài đi sâu đề xuất một số biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho HS qua sử dụng TLTK trong dạy học lịch sử ở trường THPT (vận dụng qua phần LSVN giai đoạn 1945-1954, lớp 12 THPT Chương trình chuẩn). 6. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài giải quyết những nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu cơ sở lý luận về tự học nói chung và tự học của HS qua sử dụng TLTK lịch sử nói riêng. - Tìm hiểu thực tiễn việc phát triển kỹ năng tự học của HS THPT qua sử dụng tài liệu tham khảo. 12 - Tìm hiểu khái quát chương trình Lịch sử THPT và đi sâu tìm hiểu chương trình Lịch sử Việt Nam 1945-1954 làm căn cứ để xác định, đề xuất một số biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho HS qua sử dụng TLTK. - Thực nghiệm sư phạm và đánh giá hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất. 7. Phƣơng pháp nghiên cứu Để thực hiện luận văn này, chúng tôi đã tiến hành các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: sưu tầm, đọc và phân tích các nguồn tài liệu như: sách, báo, Internet, tạp chí, luận văn, luận án...đề cập các vấn đề liên quan đến đề tài luận văn tốt nghiệp. - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm: quan sát, dự giờ, trao đổi với giáo viên, học sinh, điều tra xã hội học, phương pháp thống kê toán học.. - Phương pháp thực nghiệm sư phạm 8. Giả thuyết nghiên cứu Trong thực tế giảng dạy lịch sử ở trường THPT hiện nay, nhiều GV chưa chú ý đến việc phát triển kỹ năng tự học với TLTK cho HS. Chất lượng dạy học Lịch sử ở trường THPT sẽ được nâng cao, đáp ứng mục tiêu môn học nếu vận dụng được các biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho HS qua sử dụng TLTK như luận văn đưa ra. 9. Đóng góp của đề tài : - : ự học qua sử dụng TLTK - : 13 ệc phạ hướng dẫn cho HS trong học tập môn Lịch sử. 10. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 2 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển kỹ năng tự học của HS qua sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở trường THPT Chương 2: Một số biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho HS qua sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở trường THPT (vận dụng vào dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954) 14 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO HS QUA SỬ DỤNG TLTK TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG THPT 1.1. Cơ sở lý luận 1.1.1. Một số khái niệm cơ bản 1.1.1.1.Khái niệm tự học Có nhiều quan điểm khác nhau về tự học. Rubakin trong cuốn “Tự học như thế nào” đã kết luận rằng: “Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra cho mình câu hỏi rồi tự tìm lấy câu trả lời, đó là phương pháp tự học”. Ông cho rằng tự học không chỉ là xem sách mà còn phải biết so sánh cái viết trong sách với thực tế cuộc sống, biết liên hệ giữa các môn khoa học. Không nên sợ bất đồng ý kiến với người khác, không nghiên cứ cái chung chung mà phải nghiên cứu vấn đề đang trao đổi, thảo luận – “hãy học bằng tất cả lí trí, tâm hồn, cảm xúc của chính mình”. Như vậy, với Rubakin tự học là một quá trình người học tự so sánh, đối chiếu hỏi và đáp, so sánh lý thuyết và thực hành, giữa sách vở với thực tế cuộc sống từ đó rút ra cho mình một tri thức riêng đầy sáng tạo. Theo GS TS Đặng Vũ Hoạt thì “Tự học là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, hoặc không theo chương trình SGK đã được quy định. Tự học có quan hện chặt chẽ với quá trình dạy học nhưng nó có tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân [25, 174] Đối với GS Nguyễn Cảnh Toàn, thì “Học, cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên 15 ngoài thành tri thức bên trong con người mình”. “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp...) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi...) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình [60, tr. 621] Từ những khái niệm trên, có thể đưa ra khái niệm tự học như sau: “Tự học là hoạt động tự giác, tích cực, tự lực phát huy nội lực của bản thân nhằm tìm ra cách học để lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, hình thành và phát triển tàn diện nhân cách người học” Hoạt động tự học diễn ra với nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Đối với HS THPT, tự học chính là tự học có hướng dẫn của GV. Với sự hướng dẫn của GV, HS tự phải phát huy cao độ tính tích cực chủ động để tự tìm ra kiến thức, biến kiến thức của nhân loại thành của mình. Khi hoạt động tự học không có GV điều khiển trực tiếp, HS tự mình sắp xếp kế hoạch, huy động các năng lực bản thân để củng cố, đào sâu , mở rộng và hoàn chỉnh tri thức, hoàn thành nhiệm vụ học tập do GV giao cho, đồng thời lĩnh hội tri thức mới. Với vai trò là nội lực, tự học có ý nghĩa quyết định trong quá trình nhận thức. Chất lượng giáo dục đạt được đỉnh cao khi tác động dạy của GV (ngoại lực) cộng hưởng với năng lực tự học của HS (nội lực). GV giỏi là thầy dạy cho HS biết tự học. Song động lực tự học sẽ khó phát triển nếu thiếu sự hướng dẫn của GV và sự hợp tác của HS. Ngược lại, tác động của GV và môi trường xã hội sẽ kém hiệu lực nếu không phát huy được động lực tự học của HS. Do đó, phải kết hợp nội lực với ngoại lực để phát huy cao nhất chất lượng học tập. 16 1.1.1.2. Khái niệm kỹ năng Có nhiều ý kiến khác nhau về kỹ năng. Ph.N Gônôbôlin cho rằng: “Kỹ năng là phương thức tương đối hoàn chỉnh của việc thực hiện những hành động bất kỳ nào đó. Các hành động này được hoàn thành trên cơ sở của các trí thức, kỹ năng và kỹ xảo – những cái con người được lĩnh hội trong quá trình hành động” [53, tr. 165] N.D. Levitôv cho rằng: “Kỹ năng là khả năng con người thực hiện một hành động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm – những cái đã được lĩnh hội từ trước” [53, tr. 166]. Theo M.A Đanilốp và M.N xcatkin: “Kỹ năng bao giờ cũng xuất phát từ kiến thức, dựa trên kiến thức, kỹ năng chính là kiến thức trên hành động” [51, tr. 10] E.P Êxipôp trong giáo trình “Những cơ sở của lý luận dạy học” (Nxb Giáo dục, 1971), tập 2 cho rằng: kỹ năng chính là khả năng con người biết sử dụng một cách có mục đích, sáng tạo những tri thức và kỹ xảo của mình trong quá trình hoạt động thực tiễn. Trong nước, cá nhà tâm lý học, giáo dục cũng có những quan điểm khác nhau về kỹ năng: Theo GS Trần Bá Hoành: “Kỹ năng chính là khả năng vận dụng những tri thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào hoạt động thực tiễn” [52, tr. 14] PGS TS Phạm Viết Vượng khẳng định: “Kỹ năng là khả năng thực hiện thành công một loại công việc trên cơ sở nắm vững lý thuyết. Kỹ năng được hình thành trong quá trình rèn luyện lâu dài” [71, tr. 78] GS TS Nguyễn Thị Côi cho rằng: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những kinh nghiệm cho phép” [12, tr. 14] 17 Như vậy, cơ bản tồn tại hai quan niệm khác nhau về kỹ năng. Khi thì kỹ năng được xem xét ở khía cạnh kỹ thuật của hành động (A.V.Petrovxki, Ph. N Gônôbôlin, N.A Rubakin, Trần Trọng Thủy…), có khi được xem xét ở bình diện năng lực thực hiện hành động (N.D.Levitov, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết…). Chúng tôi tiếp cận kỹ năng trên bình diện khả năng thực hiện được hành động nào đó đúng theo mục đích, yêu cầu của hành động ấy. Khả năng được hiểu là “tính chất của người có những điều kiện tự nhiên hoặc do hoàn thiện, học tập hay kinh nghiệm tạo ra để làm tốt việc gì” (Từ điển tiếng Việt, 1997) Như vậy, khả năng là khái niệm rộng. Nó không chỉ bao gồm những điều kiện cho phép cá nhân được thực hiện hành động, sự nhận thức về mục tiêu hành động mà cá nhân đạt đến mà còn bao hàm cả các mức độ thực hiện hành động – các mức độ của kỹ năng. Từ cách hiểu trên, có thể rút ra 2 nhận xét sau: - Kỹ năng là từ dùng để chỉ mức độ nhất định của khả năng thực hiện có hiệu quả những yêu cầu của một hoạt động nhất định. Trong một kỹ năng cụ thể lại bao gồm những kỹ năng nhỏ hơn – các kỹ năng bộ phận. - Kỹ năng có thể được hình thành nhờ tác động của dạy học. Nhờ học tập và rèn luyện mà cá nhân có được kỹ năng của một hoạt động nhất định. Điều này thực sự có ý nghĩa với việc hình thành và phát triển kỹ năng tự học của HS. - Từ những phân tích trên theo chúng tôi, kỹ năng có thể hiểu là khả năng thực hiện có kết quả một hành động trên cơ sở lựa chọn và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để đạt được mục tiêu và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cho phép. Về khái niệm “năng lực”, các tác giả X. Roegiers, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Kỳ đưa ra các quan điểm khác nhau nhưng nhìn chug đều thông nhất 18 rằng: Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hoạt động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay các cá nhân trong tình huống khác nhau, trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng trong hành động. Như vậy, kỹ năng và năng lực đều là sản phẩm của quá trình đào tạo, rèn luyện (bao gồm cả tự đào tạo, tự rèn luyện). Kỹ năng có tính riêng lẻ, cụ thể, còn năng lực có tính tổng hợp, khái quát. Kỹ năng là bộ phận cấu thành năng lực của con người trong hoạt động thực tiễn. 1.1.1.3. Kỹ năng tự học và tự học lịch sử Kỹ năng tự học là khả năng thực hiện có kết quả hoạt động tự học cũng như những hiểu biết về hoạt động tự học và kỹ năng tự học mà người học đã được lĩnh hội trong hoạt động dạy học. Trong dạy học Lịch sử, quan niệm về vấn đề tự học của HS là quan trọng để giúp cho GV xác định các phương pháp dạy học thích hợp. Trước đây đã tồn tại một số quan niệm sai lầm cho rằng: HS chỉ cần nhớ một số điều cơ bản, thuộc lòng một số sự kiện, tóm tắt sơ lược nội dung SGK, không có tư duy, không cần thực hành. Quan niệm này đã làm nghèo nội dung, hạ thấp chất lượng, hứng thú học tập và khả năng tự học của HS. Ngày nay, cùng với quá trình đổi mới giáo dục, chúng ta cần có quan niệm đúng về tự học Lịch sử của HS. Tự học LS là việc HS tự nắm vững kiến thức lịch sử một cách chính xác, vững chắc, được suy nghĩ nhận thức sâu sắc và có thể vận dụng một cách thành thạo. Như vậy, tự học lịch sử của HS là việc tự nắm vững kiến thức lịch sử và vận dụng thành thạo. Đó là quá trình đi từ biết đến hiểu đến vận dụng. Học tập lịch sử là quá trình nhận biết những điều đã diễn ra trong quá khứ của xã hội để hiểu về hiện tại và chuẩn bị cho tương lai. 19
- Xem thêm -