Đăng ký Đăng nhập
Trang chủ Giáo dục - Đào tạo Cao đẳng - Đại học Luật Làm rõ mục đích, nội dung quy định pháp luật trong hoàn thuế giá trị gia tăng ch...

Tài liệu Làm rõ mục đích, nội dung quy định pháp luật trong hoàn thuế giá trị gia tăng cho cá nhân có hàng hóa mang theo khi xuất khẩu – những khó khăn trong q

.DOC
14
66
98

Mô tả:

MỞ ĐẦU Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước (NSNN), là công cụ quan trọng để phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân và là vấn đề đại cục của mỗi Quốc gia, đặc biệt trong tiến trình hội nhập quốc tế. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện cải cách thuế bước hai. Điểm nổi bật của cuộc cải cách này là thay thế Luật Thuế Doanh thu bằng Luật thuế giá trị gia tăng 1997 được thông qua tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá IX, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999. Việt Nam bắt đầu thi hành một luật thuế mới, đó là thuế giá trị gia tăng (GTGT). Luật Thuế GTGT đã góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế của đất nước, đã khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước, thu hút hoạt động đầu tư nước ngoài, mở rộng và phát triển xuất khẩu, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tạo nguồn thu ổn định và ngày càng tăng cho ngân sách nhà nước...Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã gặp những vướng mắc khó khăn. Trong đó, Pháp luật trong hoàn thuế giá trị gia tăng cho cá nhân có hàng hóa mang theo khi xuất khẩu. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này nhóm chúng em đã lựa chon đề tài :“ Làm rõ mục đích, nội dung quy định pháp luật trong hoàn thuế giá trị gia tăng cho cá nhân có hàng hóa mang theo khi xuất khẩu – Những khó khăn trong quá trình thực thi trong năm 2012 và đề xuất pháp lí nhằm khắc phục khó khăn đó” . NỘI DUNG I. Mục đích ban hành nôi dung quy định pháp luật trong hoàn thuế giá trị gia tăng cho cá nhân có hàng hóa mang theo khi xuất khẩu 1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng và hoàn thuế giá trị gia tăng Theo Điều 2 Luật Thuế giá trị gia tăng “ Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.” Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 không đưa ra khái niệm hoàn thuế giá trị gia tăng. Tuy nhiên, có thể xem xét khái niệm hoàn thuế GTGT dưới nhiều góc độ khác nhau. Qua thực tiễn pháp lý cho thấy “Hoàn thuế GTGT là việc cơ quan thuế ra quyết định trả lại số tiền thuế GTGT đã nộp vuợt quá của chủ thể nộp thuế”. Thuế GTGT có những đặc điểm nổi bật sau đây: Thứ nhất, chủ thể được hoàn thuế GTGT là những đối tượng nộp thuế GTGT theo quy định của pháp luật. Thứ hai, hoàn thuế GTGT là một thủ tục pháp lý đặc biệt do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhằm hoàn trả lại cho tổ chức, cá nhân một khoản tiền thuế mà họ đã nộp thừa vào NSNN nhưng không có căn cứ pháp lý. Ngoài ra, đặc điểm của hoàn thuế GTGT còn được thể hiện dưới hai góc độ: Hoàn thuế GTGT với tư cách là một quyền của người nộp thuế và Hoàn thuế GTGT với tư cách là một quan hệ pháp luật. Hoàn thuế giá trị gia tăng cho cá nhận có hàng hóa mang theo khi xuất khẩu là những trường hợp được quy định tại Khoản 4 Điều 13 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng ngày 19 tháng 6 năm 2013 “Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu hoặc giấy tờ nhập cảnh do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp được hoàn thuế đối với hàng hoá mua tại Việt Nam mang theo người khi xuất cảnh.” Hiện nay Nhà nước đã chỉ đạo các bộ và cơ quan có liên quan cùng thực hiện thí điểm hoàn thuế giá trị gia tăng cho cá nhân là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có hàng hóa mang theo khi xuất cảnh như chương thình thực hiện thí điểm tại sân bay Tân Sơn Nhất và sân bay Nội Bài… 2. Mục đích ban hành quy định pháp luật trong hoàn thuế giá trị gia tăng cho cá nhân có hàng hóa mang theo khi xuất cảnh Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, thì việc hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề hoàn thuế giá trị gia tăng là một vấn đề quan trọng và cấp thiết. Trên cơ sở đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2013 đã bổ sung một số trường hợp hoàn thuế giá tri gia tăng, trong đó, Khoản 4 Điều 13 quy định: “Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu hoặc giấy tờ nhập cảnh do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp được hoàn thuế đối với hàng hoá mua tại Việt Nam mang theo người khi xuất cảnh” 2 Việc bổ sung thêm quy định về hoàn thuế giá trị gia tăng cho cá nhân, ở đây là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có hàng hóa mang theo khi xuất khẩu nhằm những mục đích sau: Quy định hoàn thuế giá trị gia tăng cho cá nhân có hàng hóa mang theo khi xuất cảnh nhằm góp phần bảo đảm thực hiện một trong những nguyên tắc đánh thuế của Nhà nước, đó là bảo đảm không xảy ra tình trạng một đối tượng tính thuế phải chịu một loại thuế nhiều lần; phù hợp và thống nhất với nguyên tắc hàng hóa xuất khẩu không phải nộp thuế giá trị gia tăng hoặc được hoàn thuế. Quy định này thể hiện sự chặt chẽ giữa pháp luật Việt Nam về thuế với các quy định khác của các hiệp ước về Thuế quan và thương mại mà Việt Nam tham gia.Do đó, quy định trên không chỉ góp phần hoàn thiện về chính sách thuế GTGT mà quan trọng hơn nữa là sự thể chế hóa đường lối lãnh đạo nhất quán của Đảng và Nhà nước về hội nhập quốc tế nhằm thu hút nguồn lực từ nước ngoài Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều hiệp ước quốc tế song phương và đa phương về tránh đánh thuế hai lần và một số chính sách về miễn thuế hay áp dụng mức thuế khác trong Hiệp ước CEPT của một số nước với hiệp hội ASEAN. Quy định trên trong các Hiệp ước quốc tế cũng như trong pháp luật về thuế giá trị gia tăng sẽ có vai trò quan trọng trong việc khuyến khích đầu tư và chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện cho việc thực hiện các cuộc thương lượng hiệp ước thuế song phương giữa Việt Nam và các nước, thúc đẩy thương mại quốc tế giữa Việt Nam và các nước trên thế giới. Thể hiện sự tôn trọng cũng như tuân thủ các hiệp ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Ngoài ra, việc quy định hoàn thuế giá trị gia tăng cho cá nhân có hàng hóa mang theo khi xuất khẩu sẽ thu hút nhiều khách du lịch vào Việt Nam, khuyến khích khách du lịch người nước ngoài mua hàng tại Việt Nam khi xuất cảnh, góp phần phát triển ngành du lịch. Quy định này sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho người nước ngoài khi xuất cảnh. Khách du lịch mua hàng ở các cửa hàng nội địa sau đó làm thủ tục xuất cảnh tại cơ quan Hải quan, cơ quan Hải quan sẽ kiểm tra hàng hóa và thực hiện tính số thuế được hoàn. Việc quy hoàn cụ thể số tiền thuế đó bằng tiền Việt Nam sẽ được thực hiện bởi các ngân hàng thương mại làm đại lý cho việc hoàn thuế. Đây không đơn giản là việc hoàn thuế cho các cá nhân có hàng hóa khi xuất cảnh, không đơn giản là tăng lượng thu cho hàng hóa trong nước mà đây là một cách đưa hàng hóa Việt Nam ra thị trường quốc tế, một cách quảng bá cho hình ảnh cũng như các sản phẩm của Việt Nam ra thị trường quốc tế. Ngoài ra, việc hoàn thuế bằng tiền Việt Nam đã góp phần đưa tiền Việt Nam ra nước ngoài và đồng thời, trong nước cũng sẽ có một lượng ngoại hối nhất định từ việc mua hàng hóa của người nước ngoài. Ngoài ra, đây cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước tăng doanh thu do bán được nhiều hàng hoá hơn, thúc đầy nền kinh tế trong nước phát triển, tăng cơ hội quảng bá tuyên truyền các sản phẩm của doanh nghiệp ra nước ngoài, tăng kim ngạch xuất khẩu tại chỗ. Không thể phủ nhận một điều rằng thị trường quốc tế nhất là thị trường châu Âu và Châu Mỹ luôn là những thị trường khó tính và có sự khó khăn đối với các nước nhập khẩu hàng hóa vào các nước này nhưng thông qua việc kích mua của người nước ngoài du 3 lịch tại Việt Nam đã giúp hàng hóa Việt Nam sang được các thị trường khó tính đó. Đây đồng thời quảng cáo cho hình ảnh Việt Nam cũng như hàng hóa, sản phẩm của Việt Nam. Một lợi thế không thể phủ nhận của hàng hóa Việt Nam đó là hàng hóa có giá rẻ hơn so với hàng hóa nước ngoài nhất là các nước châu Âu và châu Mỹ, hay ngay tại các quốc gia khác trong khu vực châu Á, vì vậy, với chính sách hoàn thuế này, du khách sẽ tăng cường hơn việc mua hàng hóa ở Việt Nam, nó rẻ hơn rất nhiều so với việc mua hàng hóa tại nước họ. Bên cạnh đó, việc thực hiện quy định này cũng sẽ góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả công tác quản lý thuế, chống gian lận thương mại; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, rõ ràng, minh bạch, dễ thực hiện. Đây là một bước kiếm tra lại việc thực hiện thanh toán cũng như các loại hóa đơn, chứng từ liên quan đến hàng hóa của doanh nghiệp. Thông qua đó có thể chỉnh dốn, điều chỉnh nhất định đối với hàng hóa trong nước. 3. Nội dung của quy định pháp luật trong hoàn thuế giá trị gia tăng cho cá nhân có hang hóa mang theo khi xuất khẩu Dựa trên quy định tại Khoản 4 Điều 13 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng về hoàn thuế giá trị gia tăng cho cá nhân có hàng hóa mang theo khi xuất cảnh ngay sau đó Thủ Tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 05/2012/QĐTTg ngày 19 tháng 1 năm 2012: Về việc thí điểm hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hang hóa của người nước ngoài mua tại Việt Nam mang theo khi xuất cảnh qua cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài và sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất Theo quy đinh tại Điều 8 của Quyết định “ Thời gian thí điểm hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Nghị quyết này từ ngày 01 tháng 7 năm 2012 đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2014”. Cho đến thời điểm hiện tại Nghị định này vẫn đang có hiệu lực thi hành và chương thình thí điểm vẫn đang được thực hiện ở sân bay quốc tế Nội Bài và sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất Sau đó ngày 12 tháng 4 năm 2012 Bộ Tài Chính đã ban hành Thông tư số 58/2012/TT-BTC hướng dẫn việc thực hiện một số nội dung của Quyết định số 05/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hoá của người nước ngoài mua tại Việt Nam mang theo khi xuất cảnh qua cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài và sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (gọi tắt là hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài) Theo quy định tại Điều 2 Quyết định 05/2012 về đối tượng áp dụng của chương trình thí điểm “ Đối tượng áp dụng Quyết định này là: Người nước ngoài mua hang hóa tại Việt Nam mang theo khi xuất cảnh qua cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài và sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (sau đây gọi chung là người nước ngoài); cơ quan hải quan, cơ quan thuế; công chức hải quan, công chức thuế; cơ sở kinh doanh, ngân hang thương mại 4 được chọn làm thí điểm; cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia thực hiện thí điểm hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định của Quyết định này” Tại Khoản 2 Điều 1 của Thông tư 58/2012 có giải thích rõ đối tượng đủ điều kiện được hoàn thuế giá trị gia tăng và các cơ quan có liên quan có trách nhiệm thực hiện theo quy định của Quyết định “2. Đối tượng áp dụng : a) Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, trừ thành viên của Tổ bay theo quy định của pháp luật về hàng không (sau đây gọi tắt là người nước ngoài) mang hộ chiếu hoặc giấy tờ nhập xuất cảnh do nước ngoài cấp còn giá trị và sử dụng giấy tờ đó để nhập xuất cảnh Việt Nam, mua hàng hóa tại Việt Nam và mang theo hàng hoá đó qua cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài và sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất; b) Cơ quan hải quan, công chức hải quan, cơ quan thuế, công chức thuế có liên quan đến việc thực hiện thí điểm hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài; c) Doanh nghiệp được lựa chọn bán hàng thí điểm hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài xuất cảnh, bao gồm: doanh nghiệp, cửa hàng của doanh nghiệp, cửa hàng bán hàng đại lý cho doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp bán hàng thí điểm); d) Ngân hàng thương mại được lựa chọn là đại lý thí điểm hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài (sau đây gọi tắt là ngân hàng thương mại); đ) Tổ chức, cá nhân khác khi thực hiện các công việc có liên quan đến thí điểm hoàn thuế giá trị gia tăng cho người nước ngoài” Như vậy đối tượng được hoàn thuế không chỉ là người có quốc tịch nước ngoài mà còn có thể là người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch, hoặc thực hiện hoạt động mua hàng hóa của Việt Nam mang ra nước ngoài. Tuy nhiên đối tượng là người nước ngoài nhưng phải đáp ứng được các điều kiện được quy định tại Khoản 1 Điều 3 của Quyết định 05/2012 “Điều 3. Người nước ngoài, hàng hóa thuộc đối tượng hoàn thuế 1. Người nước ngoài thuộc đối tượng được hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Quyết định này là người: a) Có hộ chiếu mang theo không phải là hộ chiếu do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp; b) Không phải là thành viên của tổ bay trên các chuyến bay xuất cảnh từ Việt Nam ra nước ngoài. 5 Bên cạnh đó tại Khoản 2 của Điều 3 của Quyết định này còn quy định về điều kiện của các lọai hang hóa được hoàn thuế là “2. Hàng hóa được hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Quyết định này phải đáp ứng đủ các điều kiện sau: a) Là hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, chưa qua sử dụng và được phép mang lên tàu bay theo quy định của pháp luật về an ninh, an toàn hàng không; b) Hàng hóa không nằm trong Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu hoặc Danh mục hàng hóa hạn chế xuất khẩu; c) Có hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế được phát hành trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày xuất cảnh trở về trước; d) Trị giá hàng hóa ghi trên hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế mua tại 01 (một) cửa hàng trong 01 (một) ngày (kể cả cộng gộp nhiều hóa đơn mua hàng trong cùng 01 ngày tại 01 cửa hàng) tối thiểu từ 02 (hai) triệu đồng trở lên”. Tại Thông tư số 58/2012 có quy định cụ thể về các loại hàng hóa được hoàn thuế giá trị gia tăng “Hàng hoá được hoàn thuế giá trị gia tăng là hàng hóa đáp ứng quy định tại Điều 3 Quyết định số 05/2012/QĐ-TTg, trong đó: 1. Hàng hóa không thuộc Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu; Danh mục hàng hóa xuất khẩu theo giấy phép của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) hoặc Danh mục hàng hoá xuất khẩu thuộc diện quản lý chuyên ngành thực hiện theo quy định tại Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn Nghị định này. 2. Hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng được quy định tại Điều 3 Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 3 tháng 6 năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thực hiện. 3. Hàng hoá không thuộc hàng hóa không được đem theo lên tàu bay quy định tại Điều 12 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam ngày 29 tháng 6 năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thực hiện. 4. Hàng hoá mua tại Việt Nam, có hoá đơn kiêm tờ khai hoàn thuế được phát hành trong thời gian 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày người nước ngoài xuất cảnh trở về trước” Điều này đảm bảo được hành hóa mà người nước ngoài mua có thuộc vào các loại hang cấm, hoặc người mua hàng có ý định phá hoại, hay gây mất trật tự an ninh vi phạm pháp luật hay không. Và cần kiểm tra, thẩm định các loại hang hóa người nước ngoài mua có nằm trong danh mục các loại hàng hóa phải chịu thuế hay không từ đó mang lại sự công bằng cho các cá nhân, bao gòm cả các cá nhân sử dụng hàng hóa trong nước và ngoài nước. Ngoài ra muốn thực hiện chương trình thí điểm mang lại kết quả cao cần phải có các cơ sở kinh doanh, ngân hàng thương mại đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của Nghị 6 quyết, cần có sự phối kết hợp với các ngành, các cơ quan hải quan tổ chức cá nhân có liên quan thực hiện tốt Tại Điều 18 của Thông tư 58/2012/TT-BTC còn quy định về trách nhiệm của cá nhân nước ngoài được hoàn thuế và công việc mà ngân hàng thương mại cần thực hiện để hoàn thuế giá trị gia tăng “1. Người nước ngoài có trách nhiệm xuất trình cho ngân hàng thương mại tại quầy hoàn thuế: a) Thẻ lên tàu bay; b) Hoá đơn kiêm tờ khai hoàn thuế đã được cơ quan hải quan kiểm tra xác định mặt hàng, tính số tiền hoàn thuế giá trị gia tăng người nước ngoài được hoàn và đóng dấu xác nhận (bản chính). 2. Ngân hàng thương mại thực hiện: a) Kiểm tra thẻ lên tàu bay; hoá đơn kiêm tờ khai hoàn thuế đã được cơ quan hải quan kiểm tra, đóng dấu xác nhận; b) Ghi số hiệu, ngày tháng chuyến bay vào hoá đơn kiêm tờ khai hoàn thuế ; c) Trả tiền hoàn thuế cho người nước ngoài theo số tiền thuế giá trị gia tăng người nước ngoài thực tế được hoàn do cơ quan hải quan tính ghi trên hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế, đồng thời ký tên, đóng dấu xác nhận đã thanh toán tiền hoàn thuế cho người nước ngoài lên hoá đơn kiêm tờ khai hoàn thuế; d) Trả lại người nước ngoài thẻ lên tàu bay; đ) Lưu trữ hồ sơ hoàn thuế theo quy định của pháp luật” Điều này đảm bảo được các cá nhân tổ chức tham gia thực hiện thí điểm không vi phạm pháp luật, làm đúng thẩm quyền đồng thời phải công khai minh bạch amng lại niềm tin cho các cá nhân là người nước ngoài... Thủ tục cần thiết để được hoàn thuế GTGT gồm: Khi mua hàng, người nước ngoài xuất trình hộ chiếu hoặc giấy tờ xuất nhập cảnh do nước ngoài cấp còn giá trị sử dụng (bản chính) cho cửa hàng bán hàng hoàn thuế GTGT để lập hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế. Người nước ngoài kiểm tra các thông tin trên hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế và ký tên. Người nước ngoài xuất trình với cơ quan hải quan: Hộ chiếu hoặc giấy tờ xuất nhập cảnh (bản chính); hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế (bản chính); hàng hóa thực tế mang theo khi xuất cảnh đề nghị được hoàn thuế. Về thủ tục nhận tiền, người nước ngoài phải xuất trình tại quầy hoàn thuế: Thẻ lên tàu bay của chuyến bay xuất cảnh ra nước ngoài (bản chính); hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế đóng dấu "đã kiểm tra" của cơ quan hải quan (bản chính). Vấn đề này được quy định tại Điều 6 Quyết định số 05/2012/TTg “1. Hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế do Bộ Tài chính quy định. 7 Cơ sở kinh doanh được lựa chọn tham gia thực hiện Quyết định này khi bán hàng hóa cho người nước ngoài có trách nhiệm ghi đầy đủ các nội dung phải thể hiện trên hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế theo quy định của Bộ Tài chính để cấp cho người mua hàng. 2. Hồ sơ, thủ tục kiểm tra hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế: a) Người nước ngoài mua hàng tại các cơ sở kinh doanh quy định tại khoản 1 Điều 4 Quyết định này phải xuất trình hộ chiếu (bản chính) để được các cơ sở kinh doanh này cấp hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế đối với hàng hóa mang theo khi xuất cảnh; Người nước ngoài có trách nhiệm ghi đầy đủ các nội dung phải kê khai trên hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế theo quy định của Bộ Tài chính. b) Trước khi làm thủ tục gửi hành lý và lấy thẻ lên tàu bay, tại địa điểm quy định tại khoản 1 Điều 5 Quyết định này, người nước ngoài phải xuất trình với cơ quan hải quan: - Hộ chiếu (bản chính); - Hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế (bản chính) theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 Quyết định này; - Hàng hóa thực tế mang theo khi xuất cảnh đề nghị được hoàn thuế. c) Sau khi kiểm tra hồ sơ và hàng hóa quy định tại điểm b khoản này, công chức hải quan ký xác nhận và đóng dấu “đã kiểm tra” vào hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế và trả lại cho người nước ngoài. 3. Hồ sơ, thủ tục trả tiền hoàn thuế: a) Trước khi lên tàu bay xuất cảnh ra nước ngoài, tại địa điểm quy định tại khoản 2 Điều 5 Quyết định này, người nước ngoài phải xuất trình với ngân hàng thương mại được lựa chọn làm đại lý hoàn thuế các hồ sơ: - Hộ chiếu (bản chính); - Thẻ lên tàu bay của chuyến bay xuất cảnh ra nước ngoài (bản chính); - Hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế đóng dấu “đã kiểm tra” của cơ quan hải quan (bản chính). b) Ngân hàng thương mại được lựa chọn làm đại lý hoàn thuế sau khi kiểm tra các hồ sơ quy định tại điểm a khoản này, thu lại hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế (bản chính) và làm thủ tục trả tiền hoàn thuế cho người nước ngoài.” Cho thấy sự chặt chẽ trong công tác quản lý hoàn thuế của Việt Nam. Như vậy, vừa đảm bảo thực hiện được tốt chính sách hoàn thuế cho cá nhân mua hàng hóa của Việt Nam khi xuất cảnh vừa đảm bảo được sự chính xác và công bằng khi thực hiện. Đảm bảo được quyền lợi của người thuộc diện được hoàn thuế, vừa đảm bảo không bị sai sót, thiếu hụt về thuế cho Nhà nước. 8 Về cách xác định hoàn thuế cho người nước ngoài được quy định tại Điều 7 tại Quyết định này. Theo đó, Số tiền thuế được hoàn để trả cho người nước ngoài sẽ bằng tổng số tiền thuế giá trị gia tăng phải hoàn trừ sau khi trừ đi phí dịch vụ hoàn thuế nếu có. Trong đó, Tổng số thuế giá trị gia tăng phải hoàn là số thuế giá trị gia tăng ghi trên hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế của hàng hóa thực tế người nước ngoài mang theo khi xuất cảnh đã được cơ quan hải quan kiểm tra, xác nhận còn Phí dịch vụ hoàn thuế tối đa không quá 15% trên tổng số tiền thuế giá trị gia tăng phải hoàn, do ngân hàng thương mại được lựa chọn làm đại lý hoàn thuế thu để trang trải các chi phí phục vụ việc hoàn trả tiền thuế. II. Kết quả đạt được trong quá trình thực hiện thì điểm hoàn thuế giá trị gia tăng cho cá nhân có hàng hóa mang theo khi xuất khẩu Chương trình thí điểm hoàn thuế giá trị gia tăng cho cá nhân có hàng hóa mang theo khi xuất cảnh được thực hiện từ ngày 1 tháng 7 năm 2012. Với chính sách hoàn thuế GTGT này, khi người nước ngoài mua hàng hóa tại các cửa hàng bán hàng hoàn thuế GTGT sẽ được hoàn lại số tiền thuế GTGT bằng 85% tổng số tiền thuế GTGT của số hàng hóa đủ điều kiện được hoàn thuế nếu mang hàng hóa đó theo khi xuất cảnh qua cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài hoặc sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất. Đồng tiền hoàn thuế GTGT là đồng Việt Nam, trường hợp người nước ngoài có yêu cầu chuyển đổi số tiền hoàn thuế GTGT từ đồng Việt Nam sang ngoại tệ tự do chuyển đổi thì Quầy hoàn thuế thực hiện việc bán ngoại tệ cho người nước ngoài theo giá niêm yết tại Quầy hoàn thuế. Tại sân bay quốc tế Nội Bài có Quầy hoàn thuế của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải Việt Nam (Maritimebank); tại sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất có Quầy hoàn thuế của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam(VietinBank) Sau một khoảng thời gia thực hiện thí điểm đã mang lại kết quả khả quan, theo thống kê từ tháng 5 năm 2013 . Hoàn thuế GTGT đối với khách nước ngoài khi xuất cảnh đã là thông lệ của nhiều nước trên thế giới. Việc thí điểm hoàn thuế GTGT thực hiện theo Quyết định 05/2012/QĐ-TTg không chỉ khuyến khích du lịch Việt Nam phát triển mà còn nâng cao hình ảnh Việt Nam, đặc biệt là khuyến khích khách du lịch tiêu dùng hàng hóa Việt Nam, kích thích sản xuất phát triển, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam. Sau gần 1 năm triển khai thực hiện hoàn thuế GTGT cho khách du lịch nước ngoài, hiện đã có 4 quầy hoàn thuế và 2 quầy kiểm tra hàng hóa tại cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài và sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất. Hiện có 4 ngân hàng tham gia thí điểm hoàn thuế:Vietcombank, BIDV, Maritimebank, ViettinBank cùng với hơn 60 doanh nghiệp tham gia vào hoàn thuế GTGT. Mặc dù không giới hạn số lượng doanh nghiệp tham gia vào thí điểm hoàn thuế GTGT nhưng số lượng doanh nghiệp tham gia vẫn còn rất ít, do vậy mà các loại mặt hàng được hoàn thuế GTGT cũng bị hạn chế hơn nhiều. Việc triển khai thí điểm chương trình hoàn thuế GTGT cho khách nước ngoài bước đầu được thí điểm tại hai cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài và sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất. Một điểm dễ nhận thấy là quy trình, thủ tục thực hiện đơn giản. Khách du lịch mua 9 hàng ở các cửa hàng nội địa sau đó làm thủ tục xuất cảnh tại cơ quan Hải quan, cơ quan Hải quan sẽ kiểm tra hàng hóa và thực hiện tính số thuế được hoàn dựa trên hóa đơn thanh toán hàng hóa đã mua. Việc quy hoàn cụ thể số tiền thuế đó bằng tiền Việt Nam sẽ được thực hiện bởi các ngân hàng thương mại làm đại lý cho việc hoàn thuế. Quy trình hiện nay theo đánh giá của các đơn vị thực hiện, cơ bản đã phù hợp với quy trình chung của các nước đang thực hiện. Tại 2 điểm hoàn thuế là Nội Bài và Tân Sơn Nhất, trong 3 tháng đầu tiên triển khai, số lượng khách đến hoàn thuế còn ít, nhưng đã tăng dần trong những tháng gần đây. Tính đến cuối tháng 12/2012 đã có hơn 1.500 lượt người nước ngoài được hoàn thuế với tổng trị giá hàng được hoàn thuế là 56,091 tỷ đồng, tổng số tiền thuế giá trị gia tăng đã hoàn là 4,365 tỷ đồng. 1 Trong năm 2012 thì lượng khách được hoàn thuế là còn tương đối ít, nhất là trong tháng đầu tiên triển khai thực hiện, tháng 7/2012 chỉ có 38 khách nước ngoài được hoàn thuế GTGT, với số tiền trên 74 triệu đồng. Đến cuối tháng 5/2013 có thêm hơn 2.218 lượt người nước ngoài được hoàn thuế với tổng trị giá hàng hóa được hoàn là hơn 97,6 tỷ đồng, tổng số tiền thuế được hoàn là hơn 11,9 tỷ đồng. Tương ứng với số lượng khách được hoàn thuế tăng lên và số tiền thuế đã hoàn tăng, số tiền dịch vụ các ngân hàng thương mại được hưởng cũng tăng. Theo thống kê từ Chi cục Hải quan cửa khẩu Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất: Sau 11 tháng triển khai chương trình thí điểm hoàn thuế GTGT cho khách nước ngoài đã có khoảng 3,4 nghìn lượt người được hoàn thuế với tổng số thuế là trên 10,4 tỷ đồng, trị giá hàng hoàn thuế hơn 136 tỷ đồng. Hàng hóa của người nước ngoài làm thủ tục hoàn thuế chủ yếu là các mặt hàng: Điện tử, quần áo, giày dép…Còn tại Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Nội Bài, sau 11 tháng triển khai, đơn vị đã thực hiện hoàn thuế cho hơn 368 lượt khách nước ngoài với tổng số tiền thuế được hoàn hơn 1,37 tỷ đồng, trị giá hàng hoàn thuế hơn 17,63 tỷ đồng. Mặt hàng hoàn thuế chủ yếu là máy móc, túi, ví, đồ trang sức, hàng điện tử, đồ gốm sứ…2 Đúng như mục tiêu của chương trình, qua thời gian triển khai, du khách quốc tế đánh giá cao lợi ích mà chính sách này đem lại cho họ. Điều này đã tạo một tâm lý thoải mái cho khách du lịch, giúp họ tiết kiệm được chi phí mua hàng, khuyến khích họ tiêu thụ nhiều hàng hóa do Việt Nam sản xuất… Việc thực hiện hoàn thuế GTGT cho người nước ngoài cũng đã góp phần tăng tính cạnh tranh hàng hóa tại nước sở tại, tăng lượng khách du lịch, thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam ra nước ngoài, quảng bá văn hoá dân tộc, đây được coi như một hình thức xuất khẩu từ ngay tại nội địa. Qua đó khẳng định thêm chính sách pháp luật thuế của Việt Nam ngày càng “hội nhập” với thế giới. 1 Nhìn lại gần 1 năm hoàn thuế cho người nước ngoài,http://www.baohaiquan.vn/pages/nhin-lai-gan-1-namhoan-thue-gtgt-cho-khach-nuoc-ngoai.aspx 2 10 III. Những khó khăn trong quá trình thực hiện hoàn thuế giá trị gia tăng cho cá nhân có hàng hóa mang theo khi xuất khẩu trong năm 2012 Việc hoàn thuế GTGT cho người nước ngoài tuy đã đạt được một số kết quả khả quan nhưng theo đánh giá vẫn còn một số tồn tại và vướng mắc, nổi cộm là công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin. Trong năm 2012, Việt Nam đón khoảng 6,56 triệu lượt khách du lịch, thế nhưng sau 6 tháng triển khai, số trường hợp khách nước ngoài được hoàn thuế còn quá ít so với tổng lượng khách tiềm năng (tính cuối tháng 5-2013, số lượng khách được hoàn thuế là hơn 3,7 nghìn lượt người). Phần lớn khách nước ngoài chỉ biết đến chương trình sau khi đã đến Việt Nam, do đó mục đích thí điểm hoàn thuế GTGT để thu hút khách du lịch đến với Việt Nam chưa như mong đợi. Không chỉ có người nước ngoài mà cả các doanh nghiệp trong nước cũng chưa có đầy đủ thông tin về chương trình, dẫn đến số lượng doanh nghiệp đăng ký tham gia chương trình còn hạn chế. Trong thời gian qua, một số trường hợp hành khách xuất cảnh người nước ngoài xuất trình hóa đơn đề nghị hoàn thuế nhưng không đủ điều kiện giải quyết do các nguyên nhân chủ yếu như: Một số doanh nghiệp phát hành hóa đơn bán hàng không nằm trong danh sách doanhh nghiệp được công nhận bán hàng thí điểm, mẫu hóa đơn khách xuất trình không phải hóa đơn kiêm tờ khai hoàn thuế theo quy định tại Thông tư 58/2012/TT-BTC. Vướng mắc trên một phần do khách chưa nắm rõ quy định, nhưng một số cửa hàng xuất phát từ lợi nhuận, chỉ cần bán được hàng, nên mặc dù không nằm trong danh sách bán hàng thí điểm hoàn thuế GTGT vẫn hướng dẫn khách đem hóa đơn (thậm chí hóa đơn tài chính) ra sân bay để hoàn thuế. Chính vì thế, khi không được hoàn thuế khách không hài lòng, gây ảnh hưởng xấu đến mục đích của chương trình hoàn thuế giá trị gia tăng, đến uy tín của doanh nghiệp trong nước và hình ảnh Việt Nam. Số lượng doanh nghiệp tham gia hoàn thuế còn ít, mặc dù Nhà nước không hề hạn chế số lượng doanh nghiệp tham gia nhưng trong năm 2012 chỉ có hơn 60 doanh nghiệp tham gia (đến tháng 7 năm 2013 thì đã tiến tới 100 doanh nghiệp) vào chương trình thí điểm hoàn thuế GTGT cho người ngước ngoài này. Đây cũng là một vướng mắc, khó khăn không hề nhỏ khi mà các mặt hàng được đưa vào hoàn thuế không đa dạng do số lượng doanh nghiệp tham gia ít, cũng đồng nghĩa như vậy thì số lượng các cửa hàng có hoàn thuế cũng sẽ ít hơn gây khó khăn cho khách du lịch – đây là những người nước ngoài chủ yếu thuộc những người được hoàn thuế trong công tác thí điểm, khi tham gia mua hàng bởi có rất nhiều loại mặt hàng mà mà khách du lịch muốn mua nhưng tại các cửa hàng đó không có mà chỉ có ở một số khu chợ như chợ Bến Thành, đường Đồng Khởi,…hay như ở tại các cửa hàng đồ lưu niệm ở các khu du lịch – đa phần là của tư nhân hay của hộ gia đình và điều này đồng nghĩa là họ không đủ kiều kiện để tham gia vào hoàn thuế GTGT hàng hóa khi xuất cảnh. Như vậy, lượng khách du lịch chính là đối tượng chủ yếu của chương trình thí điểm hoàn thuế này và đồng thời các cửa hàng quà lưu 11 niệm cũng chính là các cửa hàng chủ yếu mà lượng khách này mua hàng hóa lại không được hoàn thuế. Ngoài ra vẫn còn những vướng mắc về phần mềm quản lý, phần mềm tính thuế, cảnh báo các trường hợp chưa đủ yêu cầu hoàn thuế theo quy định…vì giữa các doanh nghiệp, ngân hàng và cơ quan hải quan chưa có sự đồng bộ thống nhất về phần mềm quản lý dẫn tới tình trạng là cập nhật thông tin của các cửa hàng thuộc hoàn thuế cũng như việc hoàn thuế đã được áp dụng với các mặt hàng nào không được kịp thời dẫn đến sự kém hiệu quả trọng quá trình thực hiện. Hiện mỗi quầy thực hiện thủ tục hoàn thuế giá trị gia tăng đều có bố trí từ 1 đến 2 công chức trực 24/24 giờ, làm việc theo ca. Tuy nhiên, về lâu dài khi lượng khách hàng tăng lên nhanh thì vấn đề nhân sự cũng cần sớm tháo gỡ. IV. Những đề xuất pháp lý của nhóm thực hiện nhằm khắc phục khó khăn Hoàn thuế GTGT cho cá nhân có hàng hóa mang theo khi xuất khẩu là một chương trình mang tầm vóc quốc gia và ý nghĩa chính trị rất lớn. Chính sách thí điểm hoàn thuế GTGT cho cho cá nhân có hàng hóa mang theo khi xuất khẩu được thực hiện sẽ thu hút nhiều khách du lịch vào Việt Nam, góp phần phát triển ngành du lịch, tăng kim ngạch xuất khẩu tại chỗ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, hoàn thiện chính sách thuế GTGT và phù hợp với thông lệ quốc tế. Đây cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước tăng doanh thu do bán được nhiều hàng hoá hơn, tăng cơ hội quảng bá tuyên truyền các sản phẩm của doanh nghiệp ra nước ngoài. Bên cạnh đó, việc này cũng nâng cao năng lực, hiệu quả công tác quản lý thuế; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, rõ ràng, minh bạch, dễ thực hiện. Vì vậy nhóm xin đề xuất một số giải pháp hoàn thiện như sau: Thứ nhất, từ những kết quả khả quan đã đạt được như nêu trên Chính phủ cùng với Bộ Tài Chính nên chỉ đạo chính thức triển khai chương trình hoàn thuế giá trị gia tăng cho cá nhân có hàng hóa mang theo khi xuất cảnh rộng khắp tại các cửa khẩu đường bộ, đường thủy và đường hàng không trên cả nước nhằm đem đạt được kết quả to lớn hơn nữa, thu hút thêm nhiều lượt khách nước ngoài du lịch cũng như mua hàng vào Việt Nam Thứ hai, pháp luật thuế giá trị gia tăng phải được cải thiện trên cơ sở ghi nhận đầy đủ các nội dung chủ yếu của vệc điều chỉnh pháp luật thuế, đồng thời phản ánh đúng, chuẩn xác và khách quan bản chất của thuế giá trị gia tăng với tính liên hoàn và tính trung lập kinh tế cao, đánh vào hoạt động chuyển giao hàng hóa và cung cấp dịch vụ trong quá trình sản xuất lưu thông đến tiêu dùng theo pháp luật khấu trừ. Và quy định về hoàn thuế GTGT tăng cho hàng hóa của cá nhân khi xuất cảnh cũng đã được đưa vào dự thảo Luật thuế GTGT năm 2013. Thứ ba, tiếp tục đổi mới quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với cá nhân có hàng hóa mang theo khi xuất cảnh. Bên cạnh việc đổi mới một cách căn bản về nội dung, tư tưởng của cơ chế chính sách thuế giá trị gia tăng, cần thiết chúng ta phải có những biện pháp tổ chức thực hiện, trong đó cải cách về quy trình nghiệp vụ và thủ tục hành thu là 12 một nội dung cốt yếu nhất, đồng thời nó còn là một yêu cầu bức xúc trong tình hình hiện nay Thứ tư, cần thực hiện tốt hơn nữa công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật thuế, hướng dẫn thi hành một cách cụ thể về vấn đề hoàn thuế giá trị gia tăng cho cá nhân có hàng hóa mang theo khi xuất cảnh tới các doanh nghiệp để có hướng triển khai thực hiện lâu dài, đồng thời hướng dẫn tận tình tới các du khách người nước ngoài mua hàng hóa của Việt Nam về nước. Chương trình cần cung cấp các tờ rơi, tài liệu tuyên truyền về chính sách hoàn thuế GTGT để chuyển cho các Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài. Về hình thức tuyên truyền, cần tăng cường lồng ghép thông tin về hoàn thuế GTGT trong các tờ rơi quảng bá du lịch, quảng bá sản phẩm. Các trung tâm thương mại lớn cần có thông báo, thông tin quảng cáo về việc du khách nước ngoài được hoàn thuế GTGT tại sân bay khi mua sắm tại Việt Nam. Đặc biệt, cần chú trọng việc thông báo tới các doanh nghiệp và công ty du lịch để họ thông báo tới các du khách, đây là kênh thông tin cụ thể, chính xác nhất. Thứ năm, Bộ Tài Chính cũng cần phối hợp với các Bộ khác như Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch để tổ chức tập huấn quảng bá nội dung này trong các sự kiện được tổ chức ở nước ngoài phổ biến hướng dẫn chi tiết các quy định, cách thức thực hiện các thủ tục liên quan nhằm thu hút thêm khách du lịch vào Việt Nam Thứ sáu, các cơ quan quản lý cần sát sao hơn nữa trong việc quản lý các doanh nghiệp nằm trong danh sách thực hiện bán hàng thí điểm cho cá nhân người nước ngoài, xử phạt nặng đối với các doanh nghiệp phát hành hóa đơn cho khách mua hàng không theo quy định tại Quyết định số 05/2012/TTg, hoặc các doanh nghiệp không nằm trong danh sách được bán hàng thí điểm của chương trình mà vẫn thực hiện việc phát hành hóa đơn Thứ bảy, tại các nơi thực hiện thí điểm cần được trang bị thêm phần mềm tính thuế, thiết bị máy móc phục vụ cho công việc hoàn thuế, đồng thời cần bố trí thêm công chức làm việc để đảm bảo phục vụ khách một cách nhanh nhất và tiện lợi nhất, hạn chế thấp nhất những rủi ro xảy ra trong quá trình hoàn thuế cho khách hàng Thứ tám, cần thiết phải luât hóa những quy định đang được quy định tại các văn bản quy phạm dưới luật để đảm bảo tính pháp lý, đảm bảo tính công bằng của luật, tiếp tục hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng đồng thời gắn liền với việc hoàn thiện cả hệ thống pháp luật thuế, đặc biệt là các loại thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng… Thứ chín, tiếp tục duy trì những tiêu chí đánh giá xậy dựng pháp luật thuế giá trị gia tăng, hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng theo xu hướng đơn giản, ổn định, hiệu quả và đáp ứng xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, đồng thời phát huy vai trò đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước của thuế giá trị gia tăng. 13 KẾT LUẬN Như vậy việc triển khai thí điểm hoàn thuế giá trị gia tăng cho cá nhân có hàng hóa mang theo khi xuất cảnh đã mang lại kết quả tốt, điều này cho thấy Việt Nam ngày càng hội nhập, học hỏi và áp dụng thành công những quy định về pháp luật thuế của các quốc gia phát triển trên thế giới. Những khó khăn trong những tháng đầu thực hiện của năm 2012 đã được khắc phục và đến năm 2013 đặc biệt là mấy tháng gần đây đã mang lại hiệu quả rất lớn theo Cục Hải quan TP.HCM, trong tháng 8-2013, có 490 người nước ngoài mua hàng hóa tại Việt Nam mang theo khi xuất cảnh đã làm thủ tục hoàn thuế GTGT, với tổng số thuế được hoàn trên 2 tỉ đồng; trong đó,các mặt hàng hoàn thuế GTGT chủ yếu là quần, áo, khăn, túi, nữ trang, mỹ phẩm, máy tính xách tay, đồng hồ, điện thoại… với tổng trị giá trên 27 tỉ đồng.3 Hiệu quả của công tác triển khai đã cho thấy sự đúng đắn của Quyết định 05/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, do đó, cần triển khai tốt hơn nữa quy định của Khoản 4 Điều 13 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng rộng khắp tại các của khẩu trên cả nước nhằm thu hút thêm khách du lịch vào Việt Nam và mua nhiều hàng hóa của Việt Nam hơn nữa và đưa Việt Nam là điểm đến lý tưởng cho khách nước ngoài. 3 Hơn 2 tỷ đồng hoàn thuế GTGT cho người nước ngoài, http://www.baohaiquan.vn/pages/hon-2-ti-dong-hoanthue-gtgt-cho-nguoi-nuoc-ngoai.aspx, 14
- Xem thêm -

Tài liệu liên quan