Tài liệu Giáo trình dân số và phát triển

  • Số trang: 122 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 369 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Đã đăng 62571 tài liệu

Mô tả:

TỔNG CỤC DÂN SỐ - KHHGĐ QUỸ DÂN SỐ LIÊN HỢP QUỐC DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN (Tài liệu dù ng cho Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ dân số-kế hoạch hoá gia đình ) HÀ NỘI - 2011 TỔNG CỤC DÂN SỐ - KHHGĐ QUỸ DÂN SỐ LIÊN HỢP QUỐC DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN (Tài liệu dù ng cho Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ dân số-kế hoạch hoá gia đình ) HÀ NỘI – 2011 1 MỤC LỤC Mục Trang DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6 DANH SÁCH CÁC BẢNG 7 LỜI GIỚI THIỆU 8 LỜI NÓI ĐẦU 10 Chương 1: NHẬP MÔN DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN” 11 I CÁC KHÁI NIỆM VỀ “DÂN SỐ” VÀ “PHÁT TRIỂN 11 1 Dân cư và dân số 11 2 Phát triển: Khái niệmvà thước đo 12 II ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA MÔN HỌC 18 III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22 1 Nội dung nghiên cứu 22 2 Phương pháp nghiên cứu 23 IV TÁC DỤNG CỦA MÔN HỌC 25 Tóm tắt chương 1 25 Câu hỏi và bài tập chương 1 26 Chương 2: DÂN SỐ VÀ KINH TẾ 28 I NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA DÂN SỐ ĐẾN KINH TẾ 28 1 Quan điểm bi quan của R.T. Malthus 28 2 Quan điểm lạc quan của J. L. Simon 29 3 Quan điểm trung hoà 29 4 Quan điểm của Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển tại Cai -rô (Ai cập), năm 1994 về dân số và kinh tế 29 5 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ dân số phát triển 30 II DÂN SỐ, LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM 31 1 Khung lý thuyết về mối quan hệ Dân số - Lao động và việc làm 31 2 Quan hệ Dân số - Lao động và việc làm ở Việt Nam 37 2 III GIA TĂNG DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 38 1 Gia tăng dân số và tăng trưởng kinh tế 38 2 Gia tăng dân số và sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế 42 IV ẢNH HƯỞNG CỦA DÂN SỐ ĐẾN TIÊU DÙNG VÀ TÍCH LŨY 42 1 Ảnh hưởng của dân số đến tiêu dùng 42 2 Dân số và Tích luỹ 44 V QUAN HỆ DÂN SỐ VÀ KINH TẾ Ở CẤP ĐỘ GIA ĐÌNH 45 1 Các đặc trưng dân số của gia đình 46 2 Chi phí kinh tế cho con cái 49 3 Chi phí và lợi ích sinh con 51 VI TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ TỚI DÂN SỐ 52 VII GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ DÂN SỐ VÀ KINH TẾ 53 1 Duy trì mức sinh thấp một cách hợp lý, đẩy mạnh tạo việc làm 53 2 Tận dụng cơ cấu dân số “vàng”, nâng cao chất lượng dân số và lao động 53 3 Sử dụng kinh tế như đòn bẩy thực hiện chính sác h dân số 53 Tóm tắt chương 2 53 Câu hỏi và bài tập chương 2 54 Chương 3: DÂN SỐ VÀ CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI 55 I DÂN SỐ VÀ GIÁO DỤC 55 1 Khái niệm và các chỉ tiêu đánh giá 55 2 Ảnh hưởng của dân số đến giáo dục 56 3 Ảnh hưởng của giáo dục đến dân số 58 4 Giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa dân số và giáo dục 61 II DÂN SỐ VÀ Y TẾ 62 1 Tác động của dân số đối với hệ thống y tế 63 2 Tác động của y tế đối với dân số 65 3 Giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa dân số và y tế 66 III DÂN SỐ VÀ BÌNH ĐẲNG GIỚI 67 1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến giới và bình đẳng giới 67 2 Quan hệ giữa dân số với bình đẳng giới 69 3 3 Giải pháp giảm bớt bất bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản 70 IV TÁC ĐỘNG CỦA DS -KHHGĐ ĐẾN AN SINH XÃ HỘI 71 1 Mức sinh và cơ cấu dân số theo tuổi, giai đoạn 1979 -2009. 71 2 Tác động của DS-KHHGĐ đến nhu cầu an sinh xã hội 72 3 Giải pháp giải quyết mối quan hệ DS-KHHGĐ và an sinh xã hội 76 Tóm tắt chương 3 78 Câu hỏi và bài tập chương 3 78 Chương 4: DÂN SỐ VÀ TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG 79 I CÁC KHÁI NIỆM 79 1 Khái niệm tài nguyên 79 2 Cạn kiệt tài nguyên 79 3 Khái niệm về môi trường 80 4 Ô nhiễm môi trường 80 II DÂN SỐ VÀ TÀI NGUYÊN 80 1 Dân số tăng lên và sự cạn kiệt của loại tài nguyên hữu h ạn, không tái tạo được 81 2 Dân số tăng lên và sự cạn kiệt của loại tài nguyên hữu hạn, tái tạo được 82 III DÂN SỐ VÀ MÔI TRƯỜNG 86 1 Tác động của dân số đến môi trường 86 2 Ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe con người 91 3 Giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa dân số và môi trường 92 Tóm tắt chương 4 93 Câu hỏi và bài tập chương 4 93 Chương 5: LỒNG GHÉP BIẾN DÂN SỐ VÀO KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN 94 I MỘT SỐ KHÁI NIỆM 95 1 Khái niệm kế hoạch hóa 95 2 Hệ thống tổ chức và cấp độ lập kế hoạch 95 3 Quy trình kế hoạch hóa 96 4 Quan niệm “lồng ghép” 96 II KHUÔN KHỔ LỒNG GHÉP BIẾN DÂN SỐ VÀO KẾ HOẠCH HOÁ PHÁT TRIỂN 99 4 III PHƯƠNG PHÁP LỒNG GHÉP BIẾN DÂN SỐ VÀO KẾ HOẠCH HOÁ PHÁT TRIỂN 101 1 Các thành phần lồng ghép 101 2 Phương pháp lồng ghép 102 IV LỒNG GHÉP BIẾN DÂN SỐ VÀO KẾ HOẠCH HÓA Ở CẤP NGÀNH 105 V LỒNG GHÉP BIẾN DÂN SỐ VÀO KẾ HOẠCH HÓA CẤP DỰ ÁN 107 VI LỢI ÍCH VÀ ĐIỀU KIỆN LỒNG GHÉP BIẾN DÂN SỐ VÀO QUÁ TRÌNH KẾ HOẠCH HOÁ PHÁT TRIỂN 112 1 Lợi ích 112 2 Điều kiện l ồng ghép 114 Tóm tắt chương 5 117 Câu hỏi và bài tập chương 5 118 PHỤ LỤC 119 TÀI LIỆU THAM KHẢO 120 5 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ASXH An sinh xã hội BPTT Biện pháp tránh thai DS-PT Dân số Phát triển DS-SKSS Dân số - Sức khỏe sinh sản DVXHCB Dịch vụ xã hội cơ bản GDP Tổng sản phẩm quốc nội GDPT Giáo dục phổ thông HDI Chỉ số phát triển con người HIV Virus gây suy giảm miễn dịch IEC Thông tin, giáo dục và truyền thống KHH Kế hoạch h oá KHHGĐ Kế hoạch hoá gia đình KT-XH Kinh tế -Xã hội LHQ Liên hợp quốc LT-TP Lương thực thực phẩm NGO Tổ chức phi chính phủ OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế PQLI Chỉ số chất lượng cuộc sống vật chất TCTK Tổng cục Thống kê THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông TFR Tổng tỷ suất sinh UNCED Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Môi trường và Phát triển UNCTAD Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển UNDP Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc UNFPA Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc XHCB Xã hội cơ bản 6 DANH SÁCH CÁC B¶NG Bảng số 1.1 1.2 1.3 Nội dung Nội dung Dịch vụ xã hội cơ bản Hệ thống các thước đo phát triển 3.1 3.2 Chỉ số phát triển con người của Việt Nam Tỷ lệ nhóm dân số (0 -14) tuổi trên thế giới, (1950 -2050) Cơ cấu dân số nam theo tuổi lao động. Việt Nam, 1979-2009 Cơ cấu dân số nữ theo tuổi lao động. Việt Nam, 1979 -2009 Tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế. Việt Nam, năm 2006 Tỷ số phụ thuộc Việt Nam, 1979-2009 Tổng số dân và dân số trong độ tuổi từ 15 đến 64 ở Việt Nam GDP bình quân và tỷ lệ gia tăng dân số ở một số nước, năm 2010 Biến đổi GDP bình quân đầu người Dân số và lương thực trên thế giới giai đoạn 1960 - 2010 Hệ số chi phí tiêu dùng Cơ cấu gia đình theo số khẩu Nhân khẩu bình quân 1 hộ của các nhóm thu nhập Chi phí nuôi con 18 năm đầu tiên Hệ số chi phí trực tiếp cho việc sinh đẻ và nuôi dạy trẻ Cơ cấu dân số trong độ tuổi giáo dục phổ thông Số lượng học sinh phổ thông tại thời điểm 31 -12 các năm học 3.3 Trình độ học vấn và số con mong muốn 3.4 TFR chia theo trình độ học vấn người mẹ năm 1994 3.5 Số con đã sinh của phụ nữ có chồng 3.6 3.7 Cơ cấu dân số theo tuổi của Việt Nam (1979 -2009 Người cao tuổi ở Việt Nam: Số lượng và tỷ lệ 4.1 4.2 Dự báo thời gian còn khai thác được của một số loại khoáng sản Diện tích và độ che phủ rừng thế giới, năm 2005 4.3 Biến động diện tích rừng ở Việt Nam 4.4 Sản lượng cá đánh bắt (1980-2010) Sản xuất phân hóa học và thuốc trừ sâu 1.4 2.1 2.2 2.3 2.4 2.5 2.6 2.7 2.8 2.9 2.10 2.11 2.12 2.13 4.5 4.6 5.1 Tài nguyên nước ở Việt Nam Hệ thống tổ chức kế hoạch 7 LỜI GIỚI THIỆU Nhằm nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ của ngành, từ năm 1990, Ủy ban gia Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ), Uỷ ban Dân số, Gia đình Quốc và Trẻ em trước đây và Tổng cục DS-KHHGĐ hiện nay, đã phối hợp với Viện Dân số và các vấn đề xã hội, trường Đại học Kinh tế Quốc dân tổ chức các khoá học bồi dưỡng kiến thức và nghiệp vụ quản lý cơ bản về DS -KHHGĐ, gọi tắt là Chương trình cơ bản. Để các khoá học đạt hiệu quả cao, bên cạnh việc xây dựng Chương trình phù hợp, hình thành đội ngũ giảng viên chuyên nghiệp, quản lý các khóa học chặt chẽ, việc nâng cao chất lượng tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập được Tổng cục DS-KHHGĐ đặc biệt quan tâm. Năm 2011, trong khuôn khổ Dự án “Tăng cường năng lực cho Tổng cục DS-KHHGĐ và các cơ quan có liên quan trong việc thực hiện giai đoạn 2 của Chiến lược Dân số Việt Nam 2001 -2010” (mã số VNM7PG0009), Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Hà Nội đã hỗ trợ Tổng cục DSKHHGĐ tổ chức rà soát, đánh giá, chỉnh sửa các tài liệu thuộc Chương trình nói trên, bao gồm: 1. Dân số học 2. Dân số và phát triển 3. Thống kê DS -KHHGĐ 4. Truyền thông DS-KHHGĐ 5. Dịch vụ DS-KHHGĐ 6. Quản lý nhà nước về DS -KHHGĐ Nhằm đáp ứng yêu cầu của Chiến lược Dân số -Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011 -2020, dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đánh giá hiệu quả bộ tài liệu của giai đoạn trước, nhóm chuyên gia đã rà soát lại từng tài liệu và đưa ra các khuyến nghị là căn cứ để các tác giả hoặc tập thể tác giả của từng tài liệu tiến hành chỉnh sửa. Trực tiếp tham gia chỉnh sửa Bộ tài liệu lần này là các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm về cả lý thuyết và thực tiễn . Quá trình chỉnh sửa được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ. Giữa mỗi lần chỉnh sửa, bản thảo của từng tài liệu đều được đóng góp ý kiến tại các Hội thảo chuyên gia. GS.TS Nguyễn Đình Cử - Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội , trường Đại học Kinh tế Quốc dân là Tổng biên tập bộ tài liệu đã biên tập lại lần cuối. Chúng tôi hy vọng chất lượng Bộ tài liệu nà y nhờ đó đã được nâng lên đáng kể và sẽ đóng góp vào sự thành công của các khóa học. Nhân dịp ban hành Bộ tài liệu, tôi trân trọng cảm ơn: 8 - Quỹ Dân số Liên hợp quốc vì những đóng góp to lớn cho Chương trình DS-KHHGĐ của Việt Nam nói chung và trợ giúp hoàn t hiện Bộ tài liệu này nói riêng; - Ban quản lý Dự án VNM7PG0009, tập thể các tác giả v à tất cả những ai đã đóng góp vào sự thành công của Bộ tài liệu. Mặc dù việc bồi dưỡng cán bộ của ngành theo Chương trình cơ bản đến nay đã được 22 năm, nhưng dưới ảnh hưởn g của những lần thay đổi về bộ máy tổ chức, chức năng nhiệm vụ nên Bộ tài liệu này vẫn được coi là đang trong quá trình hoàn thiện. Vì vậy, không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các nh à quản lý, các giảng viên và anh chị em học viên để tài liệu ngày càng hoàn thiện. Mọi ý kiến xin gửi về Vụ Tổ chức Cán bộ, Tổng cục DS-KHHGĐ, số 12, Ngô Tất Tố, quận Đống Đa, Hà Nội. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH (Đã kí) TS. Dương Quốc Trọng 9 LỜI NÓI ĐẦU Ngay từ các khóa học đầu tiên dành cho cán bộ làm công tác DS KHHGĐ ở Việt Nam, vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, Dân số và phát triển được xác định là một trong những môn học cơ bản và tài liệu đã được biên soạn. Kế thừa các tài liệu trước đây, bổ sung các nội dung và cập nhật số liệu mới, mục tiêu của cuốn tài liệu này là: (1)Trình bày các khái niệm cơ bản liên quan đến môn học, (2)Phân tích và chứng minh sự tồn tại mối quan hệ nhân –quả giữa dân số và phát tr iển, nội dung phong phú của mối quan hệ này và (3)Trình bày lý luận về lồng ghép biến dân số vào kế hoạch hóa phát triển. Môn học Dân số và phát triển được dành thời lượng 40 tiết, kể cả thời gian làm bài tập trên lớp. Vì vậy, chúng tôi lựa chọn những nộ i dung quan trọng và những kiến thức cơ bản nhất để giới thiệu trong Tài liệu này. Cụ thể là Chương 1: Nhập môn "Dân số và Phát triển" giới thiệu các khái niệm cơ bản cũng như đối tượng, nội dung, phương pháp và tác dụng của môn học. Các chương 2; 3 và 4 sẽ nghiên cứu mối quan hệ giữa Dân số và các thành tố của quá trình phát triển, như: Kinh tế, xã hội, môi trường. Chương 5: “Lồng ghép các biến dân số vào kế hoạch hoá phát triển”, nói về “đích” của môn học, tức là vận dụng kiến thức các chương trước vào quản lý phát triển. Mặc dù sự đúc kết, nghiên cứu về mặt lý thuyết mối quan hệ “Dân số và phát triển” là công việc còn mới mẻ ở nước ta nhưng tác động của mối quan hệ này lại có thể nhận thấy ở khắp mọi nơi: Giao thông tắc nghẽn, bệnh viện quá tải, sự dư th ừa giáo viên bậc Tiểu học ở một số địa phương, diện tích rừng, điện tích đất canh tác bị co hẹp dần, …Vì vậy, đ ể học tập đạt kết quả tốt, liên quan đến từng chủ đề, học viên cần quan sát thực tế và suy nghĩ về những gì đang diễn ra tại chính địa phương . Hy vọng rằng, sau khi nghiên cứu tài liệu này, anh chị em h ọc viên sẽ hiểu rằng, quan hệ dân số và phát triển hết sức chặt chẽ với những nội dung đa dạng và phong phú. Do đó, công tác Dân số -KHHGĐ được Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng, khóa VII, tháng 1 năm 1993, đánh giá là “một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đấ t nước, là một trong những vấn đề kinh tế -xã hội hàng đầu của nước ta , là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống củ a từng người, từng gia đình v à của toàn xã hội”. Từ đó thấy được vinh dự, tự hào , bồi dưỡng lòng say mê và ý thức trách nhiệm cao khi được tham gia công tác này ở nước ta. Hà Nội, tháng 10-2011 TÁC GIẢ GS.TS. Nguyễn Đình Cử 10 Chương 1 NHẬP MÔN “DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN” Bất kỳ bộ môn khoa học nào cũng phải xác định rõ ràng đối tượng, nội dung, vụ và phương pháp nghiên cứu của mình, tức là trả lời được các câu hỏi như: nhiệm Nghiên cứu cái gì? Nghiên cứu trên những phương diện nào? Việc nghiên cứu phải đạt được những yêu cầu nào v à để làm gì? Bằng cách nào mà thực hiện được nghiên cứu?... Đối với "Dân số và phát triển " - một môn học, một lĩnh vực mới được quan tâm ở Việt Nam, việc trả lời những câu hỏi trên, lại càng cần thiết. Để làm điều đó, chương này sẽ bắt đầu từ những khái niệm, sau đó luận giải sự tồn tại mối quan hệ hai chiều giữa dân số và phát triển như là đối tượng nghiên cứu và sau đó, xác định nội dung, phương pháp nghiên cứu và tác dụng của môn học. I. CÁC KHÁI NIỆM VỀ "DÂN SỐ" VÀ "PHÁT TRIỂN" 1. Dân cư và dân số Một hiện tượng đặc sắc trên Trái đất là có loài người sinh sống. Tập hợp những con người cùng cư trú trên một vùng lãnh thổ nhất định gọi là dân cư của vùng đó. Lãnh thổ ở đây có thể là xã, huyện, tỉnh, cả nước, một châu lục hay toàn bộ Trái Đất... Chẳng hạn: Dân cư Hà Nội, dân cư Việt Nam, dân cư châu Phi... Dân cư của một vùng lãnh thổ là khách thể nghiên cứu chung của nhiều bộ môn khoa học, cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, như: Lịch sử, Y học, Kinh tế học, Ngôn ngữ học,... Mỗi khoa học nghiên cứu một mặt, một khía cạnh nào đó của khách thể này, tức là xác định được đối tượng nghiên cứu riêng của mình. Khi nghiên cứu một dân cư nào đó thì thông tin quan trọng và cần thiết, thường được tìm hiểu đầu tiên là quy mô của nó, tức là tổng số người hay là tổng số dân. Ở đây, mỗi con người, không phân biệt già, trẻ, nam, nữ đều là một đơn vị để thống kê, tính toán. Tuy tất cả thành viên của một cư dân nào đó đều có điểm chung là cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhưng họ thường khác nhau về giới tính, độ tuổi, dân tộc, tình trạng hôn nhân... Vì vậy, sẽ hiểu biết chi tiết hơn về một dân cư nếu phân chia tổng số dân thành nhóm nam và nhóm nữ hoặc các nhóm khác nhau về độ tuổi, tức là nghiên cứu cơ cấu của dân cư theo giới tính, độ tuổi… Do lịch sử hình thành và điều kiện sinh sống khác nhau nên con người cư trú trên các vùng lãnh thổ cũng rất khác nhau, theo nghĩa: nơi thì nhiều và đông đúc, chỗ lại ít và thưa thớt. Sự phân chia tổng số dân theo từng địa phương, từng vùng gọi là phân bố theo lãnh thổ. Quy mô, cơ cấu dân số trên một lãnh thổ không ngừng biến động do có người được sinh ra, có người bị chết, có người di cư đến và có người di cư đi, hoặc đơn giản chỉ là theo năm tháng, bất cứ ai cũng chuyển từ nhóm tuổi này sang nhóm tuổi khác. Như vậy, nói đến dân số là nói đến quy mô, cơ cấu, phân bố và những thành tố gây nên sự biến động của chúng như: sinh, chết, di cư. Do đó, dân số thường được nghiên cứu cả ở trạng thái tĩnh (tại một thời điểm), trạng thái động 11 (trong một thời kỳ). Nội hàm của khái niệm Dân cư không chỉ bao gồm số người, cơ cấu theo độ tuổi và giới tính mà nó còn bao gồm cả các vấn đề kinh tế, văn hoá, sức khoẻ, ngôn ngữ... tức là nó rộng hơn rất nhiều so với nội hàm của khái niệm Dân số. 2. Phát triển: Khái niệm và thước đo 2.1 Khái niệm phát triển Các quá trình dân số (sinh, chết, kết hôn, ly hôn, di cư) bao giờ cũng diễn ra trong khung cảnh kinh tế - xã hội và môi trường nhất định. Các khung cảnh này biến đổi mạnh mẽ từ thời đại đồ đá đến thời đại văn minh và hiện nay cũng khác nhau khá xa giữa châu Âu và châu Á, giữa Bắc Mỹ và châu Phi. Để phân biệt các khung cảnh này, có thể tiếp cận theo quan niệm phát triển. Vào những năm 50 và 60, người ta coi phát triển đơn thuần chỉ là tăng trưởng kinh tế, vì vậy thước đo trình độ phát triển là mức đạt được về Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) bình quân đầu người. Phát triển nhanh hay chậm được đặc trưng bởi tỷ lệ gia tăng GNP bình quân đầu người hàng năm. Để phân loại trình độ phát triển, Ngân hàng thế giới vẫn căn cứ vào GNP bình quân đầu người. Năm 1986, Ngân hàng thế giới chia các nước thành 3 nhóm: Thu nhập thấp (dưới 450 USD), trung bình (từ 450 USD đến dưới 6000 USD) và cao (trên 6000 USD). Đôi khi, các nước có thu nhập thấp còn được gọi là các nước kém phát triển. Các nước có thu nhập trung bình gọi là các nước đang phát triển và cuối cùng các nước có thu nhập cao được gọi là các nước đã phát triển. Mặc dù kinh tế là cốt lõi của sự phát triển nhưng càng ngày người ta càng nhận thức và phát hiện nhiều hạn chế của thước đo GNP bình quân đầu người . Nhiều quốc gia có sự tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng số người đói nghèo không giảm và đời sống của khoảng 40 đến 50% dân số - những người ở dưới đáy xã hội hầu như không có gì thay đổi. Điều này đã làm thay đổi quan niệm về phát triển từ chỗ cực đại hoá sản lượng san g cực tiểu hoá đói nghèo hay là tiếp cận phát triển theo sự đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho các nhóm dân cư có thu nhập khác nhau. Từ đó, khái niệm phát triển được hiểu là quá trình một xã hội đạt đến mức thoả mãn các nhu cầu mà xã hội ấy coi là thiết yếu. Các nhu cầu thiết yếu bao gồm: Dinh dưỡng, giáo dục bậc Tiểu học, sức khoẻ, vệ sinh, nước sạch và nhà ở. Các nhu cầu thiết yếu này lại được chi tiết hoá, cụ thể hoá bằng một loạt các chỉ tiêu mà Ngân hàng thế giới khuyến nghị như sau: - Dinh dưỡng: Lượng calo, chất đạm được cung cấp bình quân đầu người; Tỷ lệ đạt được so với yêu cầu. - Giáo dục: Tỷ lệ biết chữ; Tỷ lệ học sinh bậc Tiểu học (tính trên số dân từ 5 đến 14 tuổi). - Sức khoẻ: Tuổi thọ bình quân. 12 - Vệ sinh: Tỷ lệ chết trẻ em; Tỷ lệ dân số được sử dụng các phương tiện vệ sinh. - Nước sạch: Tỷ lệ dân số được cung cấp nước sạch. - Nhà ở: Thường đo bằng m 2/người. Mở rộng các nhu cầu thiết yếu và chú ý nhiều đến yếu tố xã hội, một quan niệm khác cho rằng: Nếu coi phát triển là đối lập với nghèo khổ th ì phát triển là quá trình giảm dần, đi đến loại bỏ nạn đói ăn, bệnh tật, mù chữ, tình trạng mất vệ sinh, thất nghiệp và bất bình đẳng. 2.2 Phát triển bền vững Phát triển cũng có giá của nó. Trong khi cố gắng "đáp ứng các nhu cầu thiết yếu" cho một quy mô dân số khổng lồ và mỗi ngày một tăng lên, loài người đã khai thác khiến nguồn tài nguyên cạn kiệt, thải nhiều khí " nhà kính", nước bẩn và "bóc lột" đất đến bạc màu, sa mạc hoá. Nếu cứ tiếp tục như vậy thì đó là sự phát triển không tương lai. Từ những năm 70 của thế kỷ 20, người ta nhấn mạnh việc nhìn nhận sự phát triển dưới nhãn quan bảo vệ môi trường tự nhiên. Xuất phát từ góc độ bảo vệ môi trường, cũng là bảo vệ sự sống, năm 1987 đã ra đời khái niệm "phát triển bền vững". Đó là "kiểu phát triển vừa đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ hiện tại vừa không ảnh hưởng đến khả năng mà các thế hệ tương lai đáp ứng những nhu cầu của mình" (Uỷ ban thế giới về môi trường và phát triển, 1987), nghĩa là hàng tỷ người trên trái đất này dù làm gì cũng phải lưu ý là để lại cho con cháu chúng ta sau này có môi trường trong lành để sống và còn tài nguyên để sử dụng. Như vậy, trong quá trình phát triển luôn luôn phải đặt ra các câu hỏi, chẳng hạn: Quy mô và tốc độ khai thác các tài nguyên như hiện nay có đảm bảo cho các tài ng uyên này có khả năng tái tạo đủ cung cấp cho các thế hệ tương lai hay không? Các tài nguyên thay thế có tương xứng với các tài nguyên bị cạn kiệt và không có khả năng tái tạo hay không? Phát triển bền vững ngày càng được cộng đồng thế giới quan tâm. Đã có nhiều Hội nghị quốc tế nhằm trao đổi quan điểm và tập hợp nỗ lực chung của các quốc gia để thực hiện những giải pháp duy trì sự phát triển bền vững trên phạm vi toàn cầu. Chẳng hạn, Hội nghị Riô (1992), Hội nghị Giôhannesburg (2000) với 2 văn kiện quan trọng là Tuyên bố chung và Kế hoạch hành động về phát triển bền vững. Phát triển bền vững là khái niệm tổng hợp, đầu tiên xuất hiện trong lĩnh vực môi trường, sau đó được áp dụng cho những lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị. Ở Việt Nam, phát triển bền vững được hiểu một cách toàn diện: “Phát triển bền vững bao trùm các mặt của đời sống xã hội, nghĩa là phải gắn kết sự phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, gìn giữ và cải thiện môi tr ường, 13 giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh” 1. Như vậy, phát triển bền vững là sự phát triển gắn kết được cả sự bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường, đạt được 4 nhóm mục tiêu lớn là: kinh tế, xã hội, môi tr ường và an ninh quốc phòng. Ngoài mục ti êu an ninhquốc phòng, mối quan hệ qua lại giữa 3 nhóm mục tiêu lớn của phát triển bền vững có thể mô tả bằng Sơ đồ 1.1. Mục tiêu kinh tế Tăng trưởng cao, ổn định Mục tiêu xã hội Phát triển Bền vững Mục tiêu môi trường Cải thiện chất lượng MT Cải thiện xã hội Bảo vệ MT,TNTN C«ng b»ng x·Sơhéi đồ 1.1: Các nhóm mục tiêu phát triển bền vững Bền vững về kinh tế: Nền kinh tế phải đạt những yêu cầu sau: - Tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và Tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người cao (Từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX, người ta thường dùng GDP thay cho GNP). Nếu có tăng trưởng GDP cao nhưng GDP bình quân đầu người thấp thì vẫn chưa đạt tới mức bền vững. - Cơ cấu GDP hợp lý, đảm bảo cho tăng trưởng GDP ổn định Bền vững về xã hội: Phát triển bền vững trong lĩnh vực xã hội phải thoả mãn những yêu cầu sau: triÓn (1) NNL Bảo đảm cho mọi người cùng được tham gia và cùng được hưởng lợi từ sự phát triển (theo năng lực, khả năng và đóng góp của mình). (2) Bảo đảm tạo cơ hội thuận lợi và bình đẳng để mọi người sử dụng và phát huy một cách tốt nhất năng lực của mình nhằm đóng góp cho sự phát triển và thụ hưởng kết quả của sự phát triển đó. (3) Bảo đảm việc làm ở mức cần thiết và từng b ước tiến tới việc làm an toàn, hợp lý, hiệu quả và có lựa chọn phù hợp cho mọi thành viên trong xã hội. 1 Viện chiến lược Phát triển. Cơ sở khoa h ọc của một số vấn đề trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2010 và tầm nh ìn 2020”. NXB Chớnh trị Quốc gia, 2001. tr. 122. 14 (4) Bảo đảm công bằng trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản (XHCB) ở mức trung bình quốc gia phù hợp với trìn h độ phát triển kinh tế - xã hội cho mọi người dân, bất kỳ họ sống ở đâu, thuộc nhóm xã hội nào. (5) Bảo đảm cho các nhóm dân cư dễ bị tổn thương có được đầy đủ cơ hội và năng lực vươn lên thoả mãn nhu cầu dịch vụ XHCB của họ. (6) Giảm bớt sự khác biệt xã hội giữa các nhóm dân cư, d ân tộc, vùng lãnh à sự khác biệt giới. v thổ (7) Bảo đảm cuộc sống tinh thần và quan hệ xã hội lành mạnh thúc đẩy phát triển. (8) Bảo đảm môi trường xã hội trật tự , an ninh, an toàn. (9) Bảo đảm sự tham gia rộng rãi, có hiệu quả của cá nhân, gia đình và cộn g đồng vào các hoạt động quản lý xã hội (mở rộng và phát huy dân chủ) tiến tới hình thành và phát triển xã hội công dân. (10) Bảo đảm môi trường sinh thái lành mạnh. Dịch vụ xã hội cơ bản (DVXHCB): là loại và mức dịch vụ xã hội tối thiểu cần thiết cho sự phát triển của con người tương ứng với trình độ phát triển KT -XH ở mỗi giai đoạn phát triển. Bảng 1.1: Nội dung Dịch vụ xã hội cơ bản Theo LHQ, khái niệm dịch vụ XHCB, gồm : a. Giáo dục: mầm non, tiểu học, xoá mù chữ cho người lớn. b. Y tế: Tất cả c ác hoạt động dịch vụ y tế - CSSK ở tuyến cơ sở gồm: các trạm/ trung tâm y tế xã/ phường; các phòng khám đa khoa khu vực; các bệnh viện và trung tâm y tế quận/huyện.  Chăm sóc sức khoẻ ban đầu (tỉnh, quận/huyện)  Y tế dự phòng: phòng dịch cho trẻ em, chăm sóc sau khi sinh, giáo dục y tế  Các chương trình y tế công cộng: sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, bệnh sốt rét, bệnh lao, bệnh phong, thuốc và dược liệu cơ bản; Vệ sinh phòng dịch. c. Chương trình quốc gia về dinh dưỡng d. Dân số và KHHGĐ e. Các dịch vụ xã hội: Cứu trợ thiên tai f. Nước sạch và vệ sinh môi trường: các dự án nước sạch nông thôn (bao gồm cả thị trấn có 30.000 dân trở xuống); Các dự án nước và vệ sinh ở các khu vực ven đô. Theo khái niệm quốc gia : bao gồm tất cả các nội dung trên, nhưng ở mục các dịch vụ xã hội còn thêm các nội dung sau: Phúc lợi cho người nghèo, Trợ cấp ưu đãi người có công; Giúp đỡ trẻ em mồ côi và trẻ em lang thang; Trợ giúp cho người tàn tật; các trung tâm cai nghiện ma tuý và giáo dục gái mại dâm. 15 Hội nghị thượng đỉnh về p hát triển xã hội của Liên hợp quốc đã đưa ra khái niệm và quy định Chính phủ phải dành 20% ngân sách nhà nước và 20% ODA cho phát triển dịch vụ XHCB. Do tính đặc thù ở mỗi quốc gia, Nhà nước có thể quy định riêng và có kế hoạch thực hiện để đảm bảo đáp ứng nhu cầu các dịch vụ XHCB này. Như vậy, "Tạo khả năng tiếp cận và mức độ hưởng thụ bình đẳng ( ngang bằng nhau về số lượng và chất lượng) những phúc lợi công cộng - dịch vụ XHCB đạt chuẩn quốc gia tương ứng với trình độ phát triển KT -XH của đất nước ở mỗi giai đoạn phát triển" là một trong những giải pháp thực hiện công bằng xã hội. Thí dụ: Việt Nam đã có Luật phổ cập giáo dục tiểu học, thì mọi trẻ em, bất sống ở đâu, thuộc tầng lớp xã hội nào đều được hưởng quyền bình đẳng về tiếp kỳ cận và thụ hưởng giáo dục tiểu học đạt tiêu chuẩn quốc gia về số lượng cũng như chất lượng. Đó là một nội dung của công bằng xã hội. Bền vững về môi trường Môi trường có 3 chức năng: (1) Không gian sinh tồn của con người (cả số lượng và chất lượng) ; (2) Nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người; (3) Nơi chứa đựng, xử lý, tái chế các phế thải của con người ; Môi trường bền vững là môi trường luôn luôn thay đổi nhưng đảm bảo thực hiện được cả ba chức năng nói trên. 2.3 Hệ thống thước đo phát triển Do phát triển không chỉ đơn thuần là tăng trưởng hay phát triển kinh tế mà còn là tiến bộ về xã hội và sự bền vững về môi trường, nên phát triển thường được đo lường, phản ảnh bằng một Hệ thống gồm các nhóm chỉ tiêu, như: Nhóm chỉ tiêu kinh tế, nhóm chỉ tiêu dân số- KHHGĐ, nhóm chỉ tiêu y tế và sức khoẻ,…; nhóm chỉ tiêu về môi trường. Nhiều nước và tổ chức quốc tế đã xây dựng hệ thống thước đo phát triển xã hội hoặc kinh tế - xã hội hoặc xã hội -môi trường. (Xem bảng 1.2) 16 Bảng 1.2: Hệ thống chỉ báo phát triển Nước hoặc tổ chức quốc tế đề xuất Số nhóm chỉ báo Số chỉ tiêu ESCAP 12 nhóm: Xoá đói; Dân số; Y tế và Sức khoẻ; Kiểm soát HIV/AIDS; Giáo dục; Việc làm; Nhà ở; Môi trường; Thiên tai; Tội phạm; Bảo vệ xã hội; Gia đình 45 2 UNDP 13 nhóm: Tuổi thọ; Môi trường nước; Môi trường biển; Môi trường xã hội; Chi phí cho hoạt động môi trường … 74 3 UNFPA và UNICEP giúp xây dựng choViệt nam 10 nhóm: Kinh tế; Dân số; KHHGĐ; Y tế và Sức khoẻ; Giáo dục và Đào tạo; Văn hoá; Lao động Việc làm; Mức sống; Trật tự, an toàn XH và luật pháp; Đầu tư phát triển xã hội 104 Đại Hội đồng Liên hợp quốc Tám mục tiêu Thiên niên kỷ: 1. Triệt để loại trừ tình trạng bần cùng (nghèo cùng cực) và thiếu ăn 2. Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học 3. Nâng cao bình đẳng giới và vị thế, năng lực của phụ nữ 4. Giảm tỷ l ệ tử vong ở trẻ em 5. Cải thiện sức khỏe bà mẹ 6. Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch khác 7. Đảm bảo sự bền vững của môi trường 8. Tăng cường quan hệ đối tác toàn cầu cho phát triển Việt Nam Hệ thống chỉ tiêu dân số - xã hội Chính phủ đề nghị áp dụng từ năm 2000, gồm 10 nhóm: Giáo dục và Đào tạo; Y tế và Sức khoẻ; Dân số; Các vấn đề xã hội; Lao động - Việc làm; Văn hoá, văn nghệ; Thể dục,thể thao; Phát thanh, truyền hình; Nghiên cứu khoa học; Môi trường. Stt 1 4 5 164 Ngoài việc sử dụng cả một bộ chỉ báo , với hàng chục, thậm chí là hàng trăm chỉ tiêu để đo lường trình độ phát triển, từ năm 1990 Chương trình phát triển của Liên hợp quốc đã đưa ra và không ngừng hoàn thiện chỉ tiêu tổng hợp: Chỉ số phát triển 17 con người (Human Development Index - HDI). Chỉ số này được tổng hợp từ các chỉ tiêu phản ảnh thành tựu về sức khỏe, giáo dục và mức sống. Việc chọn chỉ tiêu nào để phản ảnh các thành tựu này và tổng hợp chúng như thế nào tạo nên các phương pháp tính HDI khác nhau (Phụ lục 1). Liên hợp quốc đã tính HDI cho các nước và dựa vào đó để sắp xếp trình độ phát triển con người của các quốc gia trên thế giới từ 1990. Theo đó, các nước được chia thành các nhóm, như sau:  Nhóm 1: Các nước phát triển rất cao, nếu có HDI từ 0,8 đến 1,0  Nhóm 2: Các nước phát triển cao, nếu có HDI từ 0,7 đến dưới 0,8  Nhóm 3: Các nước phát triển trung bình, nếu có HDI từ 0,5 đến dưới 0,7  Nhóm 4: Các nước phát triển thấp nếu có HDI dưới 0,5 Nhóm 2 và nhóm 3 cũng được gọi là các nước đang phát triển. HDI của Việt Nam, tính theo phương pháp mới (năm 2010) gần đây tăng nhanh, thứ bậc phát triển được cải thiện và hiện được xếp vào nhóm nước có trình độ phát triển trung bình (xem Bảng 1.3). Bảng 1.3: Chỉ số phát triển con người của Việt Nam Năm Tuổi thọ 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 72.51 72.91 73.26 73.56 73.83 74.07 74.29 74.50 74.70 74.91 Số năm đi học bình quân 4.57 4,66 4,75 4.84 4.93 5.04 5.15 5.27 5.38 5.49 Số năm đi học kỳ vọng 11.11 11.70 11.73 11.96 12.52 13.07 13.63 14.19 14.19 14.19 Thu nhập quốc dân bình quân 1,799 1,896 2,006 2,127 2,274 2,427 2,578 2,695 2,838 2,995 HDI 0.513 0.519 0.526 0.533 0.540 0.547 0.554 0.560 0.566 0.572 Nguồn: http://hdr.undp.org/en/media/HDI-trends-1980-2010.xls Tuy nhiên, phát triển là một khái niệm tổng hợp bao hàm nhiều mặt: kinh tế, xã hội, chính trị, môi trường. Do vậy, việc đo lường mức độ phát triển chỉ mang ý nghĩa tương đối. II. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA MÔN HỌC Khoa học nào ra đời c ũng xuất phát từ thực tiễn nhằm giải quyết các vấn đề do cuộc sống đặt ra. Rõ ràng, sản xuất ra vật chất là hoạt động bao trùm, quyết định 18 sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Hoạt động này xoay quanh 2 trục: sản xuất ra đồ vật (tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng) và sản xuất ra chính bản thân con người. Hai dòng sản xuất vật chất này tuy khác hẳn nhau về mọi mặt nhưng phụ thuộc chặt chẽ vào nhau với các biểu hiện sau đây: - Nếu không có dòng sản xuất này thì cũng không có dòng sản xuất kia. - Tồn tại dòng sản xuất ra đồ vật là do con người và vì con người. Do đó, sản cái gì, với khối lượng bao nhiêu, đương nhiên là phụ thuộc vào số dân và nhu xuất cầu của họ, mà nhu cầu này thay đổi phụ thuộc một phần vào độ tuổi và giới tính. Hay nói khác đi: Quy mô, cơ cấu sản xuất, tiêu dùng phụ thuộc khá chặt chẽ vào quy mô, cơ cấu dân số. - Ngược lại, lịch sử cho thấy tái sản xuất, dân số (quá trình tạo nên sự biến đổi quy mô và cấu trúc tuổi - giới tính) phụ thuộc chặt chẽ vào trình độ phát triển của khu vực sản xuất vật chất, đặc biệt là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Nền sản xuất dựa trên những công cụ thủ công sẽ đòi hỏi số lượng lao động nhiều hơn là chất lượng lao động, điều này sẽ dẫn đến việc sinh nhiều con. Tình hình hoàn toàn ngược lại đối với nền sản xuất dựa trên cơ sở điện khí hoá và tự động hoá. Nhưng tái sản xuất ra con người không chỉ phụ thuộc tương hỗ với khu vực sản đồ xuất vật - hoạt động cốt lõi của nền kinh tế. Ở tầm rộng lớn hơn, nó liên quan tới tất cả các yếu tố khác của quá trình phát triển: Những tiến bộ về mặt xã hội trong đó có hệ thống y tế, trình độ giáo dục, sự bình đẳng nam nữ và sự bền vững về môi trường. Thật vậy, kết hôn, hạn chế sinh đẻ, lựa chọn sinh con trai hay con gái, chống lại bệnh tật và cái chết... đều là hoạt động có ý thức, cần đến tri thức và là những hoạt động riêng có của loài người. Vì vậy, bình đẳng nam nữ, giáo dục, khoa học... (tức là các yếu tố của phát triển) càng cao, tri thức con người sẽ càng rộng, ý thức con người càng trở nên hợp lý, cà ng có tác động đến các quá trình dân số nói trên. Đối với mỗi cá nhân thì các đặc trưng dân số: Tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, số con... và các yếu tố phát triển: văn hoá, nghề nghiệp, thu nhập, nhóm xã hội... cùng tồn tại trong một con người, trong một cơ sở vật chất chung nên chúng có mối liên hệ trực tiếp, chặt chẽ. Xét về phương diện thực tế: Lịch sử chứng minh cả về mặt thời gian và không gian rằng các nước ở những bậc thang phát triển khác nhau thì tình trạng dân số cũng khác hẳn nhau. Cụ thể là: (i) Mức sinh sản ở hai nhóm nước này cũng có sự khác biệt rất lớn Theo thống kê từ năm 1950 cho đến nay, số con trung bình của một phụ nữ ở các nước nghèo bao giờ cũng nhiều gấp hơn hai lần ở những nước giàu. (ii) Tình trạng chết của trẻ em 19
- Xem thêm -