Tài liệu Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở trung tâm giáo dục thường xuyên huyện lục nam tỉnh bắc giang

  • Số trang: 95 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 48 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39907 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SƯ PHẠM NGUYỄN ĐÌNH THẮNG CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: Quản lý giáo dục Mã số: 60 14 05 Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Kiểm HÀ NỘI, NĂM 2006 0 MỤC LỤC Trang Mở đầu 8 1. Lý do chọn đề tài 8 2. Mục đích nghiên cứu 9 3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 10 4. Giả thuyết khoa học 10 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 10 6. Giới hạn đề tài 10 7. Phƣơng pháp nghiên cứu 10 8. Kế hoạch và tiến độ nghiên cứu 11 9. Cấu trúc luận văn 11 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng 12 giáo dục ở Trung tâm Giáo dục thƣờng xuyên 1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 12 1.2. Một số vấn đề lý luận liên quan đến Trung tâm GDTX 14 1.2.1. Một số khái niệm về GDTX, Trung tâm GDTX 14 1.2.2. Quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc ta và thế giới về GDTX 17 1.2.3. Vị trí của GDTX trong hệ thống Giáo dục quốc dân 23 1.2.4. Vai trò của GDTX trong việc phát triển nguồn nhân lực 24 1.3. Quản lý chất lượng hệ Bổ túc THPT tại trung tâm GDTX 26 1.3.1. Đặc điểm hệ Bổ túc THPT trong Trung tâm GDTX 26 1.3.2. Một số khái niệm 27 1.3.3. Quản lý chất lƣợng giáo dục hệ Bổ túc THPT 32 1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chất lượng giáo dục tại 36 Trung tâm GDTX 1.4.1. Yếu tố chủ quan 36 6 1.4.2. Yếu tố khách quan 37 Chƣơng 2: Thực trạng quản lý chất lƣợng giáo dục hệ Bổ túc Trung 38 học phổ thông ở Trung tâm giáo dục thƣờng xuyên Lục Nam, tỉnh Bắc Giang 2.1. Tình hình kinh tế xã hội và giáo dục ở huyện Lục Nam, tỉnh 38 Bắc Giang. 2.1.1. Tình hình kinh tế xã hội 38 2.1.2. Tình hình Giáo dục 39 2.2. Thực trạng phát triển GD-ĐT của Trung tâm GDTX Lục Nam, 40 tỉnh Bắc Giang 2.3. Đánh giá chất lượng giáo dục tại Trung tâm GDTX Lục 45 Nam, tỉnh Bắc Giang. 2.4. Thực trạng công tác quản lý chất lượng giáo dục của Trung 49 tâm GDTX Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. 2.4.1. Thực trạng quản lý chất lƣợng đầu vào 49 2.4.2. Thực trạng quản lý nội dung chƣơng trình 49 2.4.3. Thực trạng quản lý bồi dƣỡng giáo viên 50 2.4.4. Thực trạng quản lý hoạt động dạy và học 52 2.4.5. Thực trạng quản lý CSVC và các trang thiết bị dạy học 54 2.4.6. Thực trạng quản lý việc kiểm tra, đánh giá. 54 2.5. Đánh giá ưu, nhược điểm và phân tích nguyên nhân của công 55 tác quản lý chất lượng giáo dục tại Trung tâm GDTX Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. 2.5.1.Ƣu điểm 55 2.5.2. Nhƣợc điểm 56 2.5.3 Nguyên nhân 56 Chƣơng 3: Đề xuất biện pháp quản lý chất lƣợng giáo dục hệ bổ túc 58 7 trung học phổ thông ở Trung tâm giáo dụcthƣờng xuyên Lục Nam, tỉnh Bắc Giang 3.1. Yêu cầu của việc đề xuất biện pháp 58 3.2. Các nhóm biện pháp cụ thể 58 3.2.1. Tăng cƣờng tuyên truyền nhận thức về vị trí và vai trò của 58 Trung tâm GDTX 3.2.2. Quản lý chặt chẽ công tác tuyển sinh và đánh giá học lực của 60 học viên đầu năm học. 3.2.3. Quản lý chặt chẽ việc thực hiện nội dung chƣơng trình học tập 61 3.2.4. Tăng cƣờng bồi dƣỡng giáo viên 62 3.2.5. Quản lý hoạt động học của học viên 65 3.2.6.Nghiêm túc thực hiện kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy và học 67 3.2.7. Quản lý đảm bảo cung cấp đầy đủ CSVC, trang thiết bị phục vụ 70 dạy và học 3.2.8. Mối quan hệ giữa các biện pháp 71 3.3. Khảo nghiệm các biện pháp đề xuất 73 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77 1. Kết luận 77 2. Khuyến nghị 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC 82 8 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Giáo dục - đào tạo là động lực quan trọng trong sự phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia. Trong cuộc xây dựng và phát triển, con ngƣời đƣợc đánh giá là nhân tố quan trọng hàng đầu. Để có đƣợc những con ngƣời có phẩm chất năng lực đáp ứng yêu cầu của xã hội thì giáo dục đóng vai trò hết sức to lớn. Trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nƣớc ta hiện nay, Đảng và nhà nƣớc ta đã khẳng định:… “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [13, tr107]. Nghị quyết trung ƣơng 4 khoá VII của Đảng cũng đã chỉ rõ:…“Cần phải thực hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người, xác định học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân”. Giáo dục thƣờng xuyên có vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo, bồi dƣỡng nguồn nhân lực, nhằm thúc đẩy sự phát triển tài nguyên con ngƣời, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục của Đảng “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Luật giáo dục 2005 đã khẳng định vị trí của giáo dục thƣờng xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân tại Điều 4: “hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính qui và giáo dục thường xuyên”. Giáo dục thƣờng xuyên vừa là phƣơng thức học tập vừa là nhu cầu phát triển và đã trở thành một bộ phận quan trọng bên cạnh giáo dục chính qui trong hệ thống giáo dục quốc dân. Chính vì vậy, để nâng cao dân trí không thể chỉ dựa vào phƣơng thức giáo dục chính quy mà phải kết hợp giữa các loại hình chính quy với các loại hình đào tạo khác. Trong đó giáo dục thƣờng xuyên có một vai trò đặc biệt quan trọng bởi lẽ mục tiêu của giáo dục thƣờng xuyên là: “ tạo ra một xã hội học tập nhằm cung cấp những cơ hội học tập thường xuyên, suốt đời phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng người, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã 9 hội, khoa học công nghệ…nhất là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước trong giai đoạn hiện nay”. Trong những năm qua, đặc biệt là khoảng 10 năm trở lại đây GDTX nƣớc ta đã phát triển nhanh chóng. GDTX đã đạt đƣợc những thành tựu đáng kể về mọi mặt, góp phần to lớn trong công cuộc xoá mù chữ, phổ cập bậc tiểu học… từng bƣớc nâng cao mặt bằng dân trí, tỉ lệ ngƣời lao động đƣợc đào tạo ngày càng cao. Bên cạnh hệ thống giáo dục chính qui tập trung cho đào tạo thế hệ trẻ đƣợc tổ chức chặt chẽ về thời gian, độ tuổi, giáo dục thƣờng xuyên linh hoạt hơn về thời gian, độ tuổi, phƣơng thức; có thể vừa học, vừa làm, học từ xa, tự học có đăng ký. Từ việc xây dựng mục tiêu, xác định nội dung, chƣơng trình, phƣơng pháp giáo dục, tổ chức thi cử, cấp văn bằng, chứng chỉ đến việc xây dựng hệ thống cơ sở giáo dục thƣờng xuyên trong hệ thống giáo dục ngày càng đƣợc quan tâm và phát triển để thực hiện chức năng quan trọng đó là xây dựng xã hội học tập. Bên cạnh những kết quả đã đạt đƣợc của hệ thống GDTX thì GDTX vẫn bộc lộ những yếu kém, nhƣợc điểm. Thể hiện ở chỗ còn nặng về số lƣợng đào tạo, chƣa có biện pháp hữu hiệu để nâng cao chất lƣợng giáo dục đào tạo. Những hạn chế trên bộc lộ ở việc thể hiện vai trò quản lý trong quá trình đào tạo nhƣ quản lý giáo viên, quản lý học viên, quản lý cơ sở vật chất, việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của giáo viên đối với học viên. Để khắc phục những mặt hạn chế trên và từng bƣớc nâng cao chất lƣợng giáo dục đào tạo ở Trung tâm GDTX cấp huyện, góp phần xây dựng và phát triển nền kinh tế địa phƣơng ngày một vững chắc trong công cuộc công nghiệp hoá-hiện đại hoá của đất nƣớc hiện nay tôi quyết định chọn đề tài “ Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên Huyện Lục Nam, Tỉnh Bắc Giang ” cho luận văn tốt nghiệp của mình. 10 2. Mục đích nghiên cứu Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục ở Trung tâm GDTX thƣờng xuyên huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang. 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu - Khách thể nghiên cứu: công tác quản lý giáo dục đào tạo ở Trung tâm GDTX Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. - Đối tƣợng nghiên cứu: công tác quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục hệ BT THPT ở Trung tâm GDTX Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. 4. Giả thuyết khoa học Nếu đƣa ra đƣợc một số biện pháp quản lý phù hợp thì sẽ nâng cao đƣợc chất lƣợng giáo dục hệ BT THPT ở Trung tâm GDTX Lục Nam, tỉnh Bắc Giang 5. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài - Nghiên cứu thực trạng quản lý giáo dục đào tạo ở trung tâm GDTX Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. - Đề xuất một số biện pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục ở Trung tâm GDTX Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. - Khảo nghiệm các biện pháp đề xuất. 6. Giới hạn đề tài: - Đề tài tập trung nghiên cứu một số biện pháp quản lý chất lƣợng giáo dục ở một số Trung tâm GDTX trong tỉnh Bắc Giang. - Tập trung nghiên cứu hệ Bổ túc THPT - Tiến hành áp dụng thử nghiệm các biện pháp đó trong việc quản lý chỉ đạo quá trình giáo dục đào tạo tại Trung tâm GDTX Lục Nam. - Số liệu điều tra từ năm 2000 đến nay. 7. Phương pháp nghiên cứu - Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lý luận: Tham khảo các văn kiện của Đảng, nhà nƣớc, Bộ GD-ĐT, Luật giáo dục, các văn bản, tài liệu có liên quan đến 11 vấn đề nghiên cứu. - Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn: phƣơng pháp điều tra xã hội học, trò chuyện, phỏng vấn, làm phiếu điều tra. Từ đó đánh giá thực trạng quá trình giáo dục hệ BT THPT ở Trung tâm GDTX Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. - Nhóm phƣơng pháp bổ trợ: + Phƣơng pháp chuyên gia + Sử dụng toán thống kê xử lý số liệu. 8. Kế hoạch và tiến độ nghiên cứu Đề tài dự kiến nghiên cứu trong 2 năm, bắt đầu từ tháng 09 năm 2004. 9. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn đƣợc cấu trúc trong ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục ở Trung tâm Giáo dục thƣờng xuyên. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý chất lƣợng giáo dục hệ Bổ túc Trung học phổ thông ở Trung tâm Giáo dục thƣờng xuyên Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Chƣơng 3: Đề xuất các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục hệ Bổ túc Trung học phổ thông ở Trung tâm Giáo dục thƣờng xuyên Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. 12 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN 1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động nhằm đạt hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp điều hành, kiểm tra, chỉnh lý…do đó yêu cầu đặt ra là phải có ngƣời đứng đầu để điều hành các thành viên trong nhóm, trong tổ chức đạt mục tiêu đề ra. K-Marx giải thích một cách khái quát rằng quản lý là sự xác lập tƣơng hợp giữa công việc của từng cá nhân nhằm thực hiện những chức năng cũng xuất hiện trong sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của những cơ quan độc lập của nó. Một cách hình ảnh K-Marx đã lột tả bản chất của quản lý là hoạt động lao động để điều khiển lao động, ông đã nói: “ một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” để nêu bật sự tất yếu và vô cùng quan trọng của hoạt động quản lý trong quá trình phát triển của xã hội loài ngƣời. W.Taylor cho rằng: “ Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. H.Koontz khẳng định: “ Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất,..”. Theo tác giả Trần Kiểm thì “ quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối 13 các nguồn lực ( nhân lực ,tài lực, vật lực) trong và ngoài tổ chức ( chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [18, tr15]. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí- Nguyễn Thị Mỹ Lộc “ Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể ( ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý ( ngƣời bị quản lý), nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[8]. Theo GS.TSKH Lê Du Phong thì quản lý là hoạt động có ý thức của con ngƣời nhằm phối hợp hành động của một nhóm ngƣời hay một cộng đồng ngƣời để đạt đƣợc các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất. Theo Đại Bách khoa toàn Liên xô, 1977, quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau ( xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định, duy trì chế độ hoạt động , thực hiện những chƣơng trình, mục đích hoạt động. Trung tâm Giáo dục thƣờng xuyên cấp huyện là một trong những cơ sở của phƣơng thức giáo dục không chính qui. Nhiệm vụ chính của trung tâm GDTX cấp huyện là: - Dạy Bổ túc văn hoá cho bậc Tiểu học, THCS và THPT . - Làm công tác Hƣớng nghiệp và dạy nghề phổ thông cho học sinh THCS và THPT trong toàn huyện. - Điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn, xác định nội dung học tập cần thiết, đề xuất việc tổ chức các hình thức học phù hợp với từng loại đối tƣợng… - Chuyển giao kiến thức chuyên đề khoa học kỹ thuật cho ngƣời lao động . - Dạy nghề ngắn hạn, dài hạn . - Làm công tác phổ cập THCS . 14 Dạy Bổ túc văn hoá THPT là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Trung tâm GDTX. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc đặt ra yêu cầu cho ngành Giáo dục - Đào tạo là phải đào tạo những con ngƣời lao động mới "năng động, sáng tạo, giàu lòng nhân ái". Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX tiếp tục khẳng định Giáo dục - Đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục và đào tạo là một động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con ngƣời yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trƣởng kinh tế nhanh và bền vững; một trong những phƣơng hƣớng phát triển giáo dục và đào tạo là tiếp tục nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phƣơng pháp dạy và học, hệ thống trƣờng lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện "Chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa"; Đội ngũ giáo viên của Trung tâm còn hạn chế về số lƣợng, phần lớn phải hợp đồng với các giáo viên của các trƣờng xung quanh; Chất lƣợng đầu vào lớp 10 hàng năm tƣơng đối thấp chính vì vậy phải luôn tìm mọi biện pháp để nâng cao chất lƣợng giáo dục. Đặc biệt là việc quản lý đội ngũ giáo viên. Quản lý có vai trò quan trọng trong tất cả các công việc. Vì vậy trong giáo dục rất cần thiết phải có quản lý. Quản lý để nâng cao đƣợc chất lƣợng cũng nhƣ tất cả các lĩnh vực liên quan đến giáo dục nhƣng quản lý bằng cách nào và quản lý nhƣ thế nào để nâng cao đƣợc chất lƣợng giáo dục đối với các Trung tâm GDTX nói chung và Trung tâm GDTX Lục Nam nói riêng thì trong chƣơng trình của luận văn phần chƣơng 3 tác giả mạnh rạn đƣa ra một vài biện pháp để cùng trao đổi. 1.2. Một số vấn đề lý luận liên quan đến Trung tâm GDTX 1.2.1. Một số khái niệm về GDTX, Trung tâm GDTX 1.2.1.1 Khái niệm về GDTX Thuật ngữ “ Giáo dục thƣờng xuyên” đƣợc hiểu là sự giáo dục dành 15 cho hay tiến hành bởi những ngƣời đã hoàn thành vòng giáo dục ban đầu trong thời niên thiếu. Với tƣ cách trên, trong nhiều trƣờng hợp, thuật ngữ này đƣợc coi là đồng nghĩa với “ Giáo dục ngƣời lớn”. Tuy nhiên, đây là một khái niệm mà nội hàm của nó đang phát triển và hoàn thiện dần. Khái niệm GDTX trong mỗi thời gian cũng đƣợc hiểu theo cách khác nhau và ở mỗi nƣớc cũng có cách hiểu khác nhau. Để thúc đẩy GDTX phát triển cả về quy mô và chất lƣợng , UNESCO khu vực Châu Á Thái Bình Dƣơng đã xây dựng một quan niệm về GDTX tƣơng đối phù hợp với các nƣớc trong vùng. Trong khuôn khổ của “ chƣơng trình giáo dục cho mọi ngƣời: Châu Á Thái Bình Dƣơng, GDTX đƣợc hiểu là “ một khái niệm rộng lớn, bao gồm tất cả các cơ hội học tập và mọi ngƣời muốn hoặc cần có sau xoá mù chữ và giáo dục Tiểu học”. Theo quan niệm này GDTX là một khái niệm rộng, bao gồm cả GDCQ, GDKCQ và GDPCQ cho những ngƣời lớn hoặc thanh niên cần và có nhu cầu sau khi biết chữ hoặc tƣơng đƣơng tiểu học, không bao gồm XMC. Định nghĩa này ta có thể hiểu là: - GDTX là dành cho ngƣời lớn( hoặc ngƣời đƣợc xã hội coi là ngƣời lớn) - GDTX đáp ứng các nhu cầu mong muốn học tập của mọi ngƣời. - GDTX có thể bao gồm những bộ phận do các bộ phận giáo dục chính quy, giáo dục không chính quy và giáo dục không chính thức tiến hành. - GDTX đƣợc định nghĩa là “ cơ hội tham gia vào quá trình học tập suốt đời sau khi kết thúc Tiểu học hoặc tƣơng đƣơng”. Định nghĩa trên cũng chứa đựng một gợi ý là XMC không thuộc lĩnh vực “GDTX”. Với quan niệm này của UNESCO khu vực thì GDTX và GDKCQ không đồng nhất với nhau. GDTX là một khái niệm rộng nó vừa là GD chính quy vừa là GD không chính quy và GD phi chính quy. Ba bộ phận 16 này của GDTX không đứng riêng lẻ, tách rời nhau mà chúng xen kẽ, kế tiếp nhau trong suốt cuộc đời của mỗi ngƣời. Ở Việt Nam, thuật ngữ GDTX chƣa đƣợc phân biệt rạch ròi nhƣ thế, GDTX đƣợc hiểu và quan niệm dựa trên các bình diện khác nhau. Tại hội thảo về chiến lƣợc phát triển giáo dục đến năm 2020, báo cáo của Vụ giáo dục thƣờng xuyên- Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu: “ Giáo dục thường xuyên được hiểu một cách khái quát là cung ứng cơ hội cho mọi người để học tập suốt đời nhằm thúc đẩy tài nguyên con người thông qua các chương trình XMC, chương trình tương tương, chương trình nâng cao chất lượng cuộc sống, chương trình tạo thu nhập, chương trình đáp ứng sở thích cá nhân, chương trình định hướng tương lai”.[10] Với quan niệm này, GDTX đồng nghĩa với giáo dục tiếp, tức là mở rộng chủ yếu của XMC và PCGDTH nhằm thúc đẩy sự phát triển tài nguyên con ngƣời. Giáo dục thƣờng xuyên có chức năng thay thế, nối tiếp, bổ sung và hoàn thiện kiến thức cho giáo dục chính quy. GDTX không phải hoạt động xảy ra một lần rồi chấm dứt mà là một quá trình kéo dài suốt cả cuộc đời. Ở Việt Nam, nhiều thuật ngữ đã đƣợc sử dụng nhƣ “Bình dân học vụ”, “Bổ túc văn hoá”, “Giáo dục bổ túc”, “Giáo dục phổ thông người lớn”, “Giáo dục thường xuyên, “GDKCQ” đã phản ánh đƣợc sự tiến triển trong quan niệm về GDTX ở Việt Nam và xu thế hoà nhập với các nƣớc trong khu vực. Quan niệm về GDTX ngày càng mở rộng, từ chỗ chỉ quan tâm đến XMC, BTVH, nay đã quan tâm đến nhiều loại hình học tập khác nhau. Qua những khái niệm trên ta có thể nói GDTX, học tập thƣờng xuyên sẽ mở rộng thành giáo dục suốt đời, học tập suốt đời, trở thành một nguyên tắc chi phối cả nền giáo dục, kết hợp hài hoà với nguyên tắc giáo dục cho mọi ngƣời, ai cũng đƣợc học hành. Đó chính là nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục thế kỉ 21 của nƣớc ta. 1.2.1.2. Khái niệm về Trung tâm GDTX 17 Trung tâm GDTX đƣợc coi là đồng nghĩa với Trung tâm giáo dục ngƣời lớn. Hai thuật ngữ này đƣợc hiểu là diễn ra những hoạt động có tổ chức cho việc giáo dục ngƣời lớn. Trong Hội nghị về Trung tâm GDTX đƣợc tổ chức tại Srilanca tháng 11 năm 1994 đã định nghĩa: “ Trung tâm GDTX là tổ chức giáo dục địa phương, ngoài hệ thống giáo dục chính quy, thuộc các làng hoặc các cộng đồng thành phố, thường được quản lý bởi nhân dân địa phương, có nhiệm vụ cung cấp nguồn lực cho sự phát triển địa phương và việc học tập định hướng theo gia đình và cung cấp thông tin về câu hỏi: Cái gì?, làm sao? ở đâu? khi nào? các cá nhân có thể tham gia vào các hình thức học tập khác nhau của GDTX”. Ở nƣớc ta, Trung tâm GDTX đƣợc hiểu là tổ chức căn bản của hệ thống GDTX. Vai trò của Trung tâm GDTX trong hệ thống GDTX cũng tƣơng tự nhƣ vai trò của nhà trƣờng trong hệ thống giáo dục chính quy, truyền thống. Trung tâm GDTX vừa là nơi trực tiếp, vừa là đầu mối liên kết với các tổ chức khác nhau trong cộng đồng cung cấp các cơ hội học tập cho những ngƣời không có điều kiện học trong nhà trƣờng chính quy. Các Trung tâm GDTX đƣợc bố trí thành một mạng lƣới, mỗi Trung tâm GDTX phục vụ cho một địa bàn dân cƣ. Hiện nay trong hệ thống GDTX của nƣớc ta có các Trung tâm GDTX cấp tỉnh và Trung tâm GDTX cấp huyện. Tuy nhiên quan hệ giữa các Trung tâm GDTX này không phải là quan hệ “ trên, dƣới” trong quản lý. 1.2.2. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta và thế giới về GDTX 1.2.2.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về GDTX Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về GDTX ở Việt Nam, phải bắt đầu từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam đƣợc thành lập. Phong trào học chữ quốc ngữ, xóa nạn mù chữ cho ngƣời lớn phát triển mạnh mẽ. Trƣớc Cách mạng tháng Tám, cả nƣớc ta chỉ có 3% dân số đƣợc học hành, chủ yếu là những ngƣời đƣợc đào tạo ra nhằm phục vụ cho bộ máy cai trị của thực dân Pháp, do đó, 18 chống nạn thất học, nâng cao dân trí là nhiệm vụ cấp bách của Đảng và Nhà nƣớc ta. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ”. Sau đó liên tục các sắc lệnh 17, 19, 20 đã ra đời nhằm chống nạn thất học, bắt buộc và miễn phí cho mọi ngƣời học chữ quốc ngữ. Cuối năm 1958, chiến dịch 3 năm (1956 - 1958) XMC kết thúc, vùng đồng bằng và trung du miền Bắc đã căn bản xóa xong nạn mù chữ; 93,4% dân số từ 12 đến 50 tuổi đã biết đọc, viết chữ quốc ngữ. Sau chiến dịch xóa mù chữ, miền Bắc bƣớc vào giai đoạn phát triển với quy mô lớn, Đảng và Nhà nƣớc đã chỉ đạo tổ chức dạy BTVH nhằm nâng cao trình độ văn hóa cho đội ngũ cán bộ, công nhân - viên chức. Nghị quyết 93/TW, ngày 2/12/1959 của Trung ƣơng Đảng đã chỉ rõ : “Trình độ văn hóa thấp kém của cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, ngày càng trở ngại lớn đến công cuộc xây dựng miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà. Yêu cầu bức thiết là phải ra sức đẩy mạnh và lãnh đạo tốt phong trào BTVH”. Chỉ thị 97 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng, ngày 18/5/1965 đã nêu rõ: “Công tác BTVH phải được đặt ra cấp thiết hơn trước và bước vào một thời kỳ phát triển mới. Trên miền Bắc, toàn dân đã được huy động thành một lực lượng sản xuất và chiến đấu hùng hậu, đang đòi hỏi có một trình độ văn hóa cao hơn để nhanh chóng tiếp thu được kỹ thuật sản xuất, nghiệp vụ quản lý cũng như hiểu biết cần thiết về chiến tranh nhân dân và quốc phòng toàn dân”. Từ đó việc học BTVH đƣợc phát triển rộng rãi; nội dung học tập cũng đƣợc xác định phù hợp với từng loại đối tƣợng. Ngày 29/9/1996 Hội đồng Chính phủ có chỉ thị số 114 - CP xác định đầy đủ hơn về nội dung dạy - học BTVH : “Nội dung học tập phải tinh giản thiết thực, phải kết hợp chặt chẽ việc học văn hóa với kỹ thuật và chính trị, vừa đảm bảo kiến thức khoa học cơ bản cần thiết, vừa gắn liền với thực tiễn sản xuất, chiến đấu và đời sống”. Chỉ thị 110 - CP ngày 13/71968 19 của HĐ Chính phủ đã bổ sung thêm : “Nội dung BTVH phải phù hợp đến từng loại đối tượng, người đứng tuổi chỉ cần học những kiến thức trực tiếp cho công tác sản xuất, thanh niên học tương đối toàn diện hơn”. Sau thời kỳ XMC và BTVH, Nhà nƣớc bổ sung thêm ngoài BTVH còn tổ chức học theo quy trình cấp lớp , tổ chức giảng dạy học tập tri thức phổ thông cơ bản gắn với nghề nghiệp quy định cấp lớp. Từ đó chuyển đổi từ trƣờng BTVH đơn chức năng thành trung tâm GDTX đa chức năng để đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân . - Nghị quyết Trung ƣơng 4 khoá VII đã khẳng định: “ Cần phải thực hiện một nền GDTX cho mỗi người, xác định học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân. Đổi mới giáo dục Bổ túc và đào tạo tại chức, khuyến khích phát triển các loại hình GD-ĐT không chính quy, khuyến khích tự học. Mở rộng dạy học ngoại ngữ.” [15] - Nghị quyết Trung ƣơng 2 khoá VIII cũng đƣa ra chủ trƣơng nhằm thực hiện công bằng xã hội: “ tạo điều kiện để ai cũng được học hành”, “ tạo cơ hội cho mọi người có thể lựa chọn cách học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mình”, “ mở rộng các hình thức học tập thường xuyên, đặc biệt là hình thức học tập từ xa. Quan tâm đào tạo và đào tạo lại cán bộ quản lý , kỹ thuật nghiệp vụ và công nhân các doanh nghiệp… tăng cường đào tạo và bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý các cấp các ngành.” - Trong mục tiêu đến năm 2020, nghị quyết Trung ƣơng 2 đề ra hoàn thành phổ cập THCS vào năm 2010 và THPT vào năm 2020. Phát triển giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số, các vùng khó khăn. Phấn đấu giảm sự chênh lệch về phát triển giáo dục giữa các vùng lãnh thổ. - Cũng trong nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX tiếp tục đƣa ra định hƣớng về phát triển giáo dục và đào tạo đó là đổi mới cơ bản công tác quản lý và tổ chức giáo dục; xây dựng hệ thống giáo dục nhằm tạo điều 20 kiện cho mọi ngƣời có thể học tập suốt đời theo hƣớng thiết thực, hiện đại, gắn chặt với yêu cầu của xã hội. Hoàn thiện cơ chế, chính sách và pháp luật để bảo đảm sự nghiệp giáo dục phát triển ổn định, chất lƣợng, hiệu quả đáp ứng nhu cầu về con ngƣời và nguồn nhân lực cho đất nƣớc phát triển nhanh và bền vững. Thực hiện theo tinh thần của Đảng: “Tạo điều kiện để ai cũng được học hành. Người nghèo được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để học tập” Trong giai đoạn 2001 - 2010 phải tập trung vào : - Thực hiện XMC cho đồng bào các dân tộc miền núi vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho những ngƣời nghèo, ngƣời thiệt thòi đƣợc nâng cao trình độ dần từng bƣớc, đặc biệt là phụ nữ. - Xây dựng loại chƣơng trình giáo dục phù hợp với nhiều loại đối tƣợng. - Đa dạng hóa các loại hình học tập, địa phƣơng hóa các cách tổ chức quản lý học tập nhƣ các trung tâm học tập cộng đồng, các lớp linh hoạt để tạo điều kiện ai cũng đƣợc học hành. - Có chính sách thỏa đáng giúp những ngƣời gặp nhiều khó khăn có thể học tập đƣợc. Phát triển GDTX nhằm thực hiện giáo dục cho mọi ngƣời với ý tƣởng học tập suốt đời để tiến tới XHHT, ở đó mọi thành viên của xã hội đều bình đẳng về quyền học tập, để nâng cao trình độ học vấn, nâng cao chất lƣợng cuộc sống. Và vì thế, GDTX không thể chỉ dựa vào Nhà nƣớc mà phải biết dựa vào cộng đồng, do cộng đồng mà phát triển các loại hình học tập phù hợp và xem nhƣ là một hình thức huy động mọi tiềm năng của cộng đồng để xây dựng XHHT. Đến năm 2010 có 90% số xã có trung tâm học tập cộng đồng; trung tâm giáo dục thƣờng xuyên, trung tâm ngoại ngữ, tin học đƣợc thành lập ở tất cả các huyện. 21 - Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X trong nghị quyết của Đại hội phần định hƣớng phát triển về giáo dục và đào tạo tiếp tục khẳng định đổi mới tƣ duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chƣơng trình, nội dung, phƣơng pháp đến cơ cấu hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo đƣợc chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nƣớc nhà, tiếp cận với trình độ giáo dục của khu vực và thế giới; khắc phục cách đổi mới chắp vá, thiếu tầm nhìn tổng thể, thiếu kế hoạch đồng bộ. Xây dựng nền giáo dục của dân, do dân và vì dân; bảo đảm công bằng về cơ hội học tập cho mọi ngƣời, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời. - Nghị quyết 90 CP ngày24/11/1993 đã nêu: “ GDTX là một trong năm phân hệ trong cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân với các chức năng dạy BTVH, dạy nghề, ngoại ngữ, tin học” . Đến năm 1998 theo luật GD thì GDTX chuyển thành phƣơng thức GDKCQ là một bộ phận của hệ thống GD quốc dân. - Điều 44 của Luật giáo dục cũng đã khẳng định: “ Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội . Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập.”[21] Trong kế hoạch hành động quốc gia cho mọi ngƣời giai đoạn 2003 2015 đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt ngày 02/7/2003, thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc về xây dựng và phát triển GDTX/ GDKCQ là: + Mục tiêu (1) : Đảm bảo rằng tất cả thiếu niên thất học (trong độ tuổi tiểu học và THCS) đều có cơ hội học tập để đạt tới trình độ Tiểu học và THCS. + Mục tiêu (2) : Đảm bảo rằng tất cả ngƣời lớn, đặc biệt là phụ nữ và các nhóm thiệt thòi đều đƣợc tiếp cận miễn phí với các chƣơng trình XMC và sau 22 XMC có chất lƣợng, các chƣơng trình đào tạo có chất lƣợng và ở mức độ phù hợp với điều kiện kinh tế về kỹ năng sống cũng nhƣ cơ hội học tập suốt đời. + Mục tiêu (3) : Nâng cao chất lƣợng, sự phù hợp và kết quả của tất cả các chƣơng trình GDTX (BT Tiểu học ; BT THCS, các chƣơng trình XMC, sau XMC và kỹ năng sống) cho thanh thiếu niên và ngƣời lớn (cho đến 40 tuổi). + Mục tiêu (4) : Xây dựng một chiến lƣợc quốc gia toàn diện về GDTX và các cơ hội học tập suốt đời có nội dung phù hợp và có tính khả thi về tài chính và xây dựng XHHT. + Mục tiêu (5) : Tăng cƣờng quản lý các chƣơng trình GDKCQ và GDTX ở cấp địa phƣơng. Với hệ thống các quan điểm, tƣ tƣởng chỉ đạo xuyên suốt, chúng ta có thể thấy rằng Đảng và Nhà nƣớc luôn chú ý và tạo mọi điều kiện để GDNL/ GDTX phát triển xứng đáng với vị trí và vai trò của nó trong từng thời kỳ cách mạng của đất nƣớc. GDTX đã đóng góp một phần không nhỏ vào công cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh. 1.2.2.2. Quan điểm của UNESCO về GDTX Đó là Học suốt đời, Xã hội học tập. Ý kiến đƣợc UNESCO nêu lên lần đầu tiên cách đây hơn 30 năm trong báo cáo nổi tiếng Học tập để tồn tại. Theo báo cáo đó của UNESCO, một xã hội học tập là một xã hội trong đó tất cả các tổ chức trong xã hội đều là ngƣời cung cấp giáo dục, chứ không riêng gì các cơ quan trách nhiệm chủ yếu là giáo dục. Một khía cạnh của một xã hội học tập là toàn thể công dân đều phải học tập và quán triệt để lợi dụng các cơ hội do xã hội học tập cung cấp. Theo APPEAL, Hội thảo tiểu khu vực của UNESCO về giáo dục thƣờng xuyên họp tại Canberra, Australia, trong tháng 11 năm 1987 đã định nghĩa giáo dục thƣờng xuyên là “ một khái niệm rộng rãi bao gồm toàn thể 23 các cơ hội học tập mà mọi người đều mong muốn hoặc cần có sau xoá mù chữ cơ bản và giáo dục tiểu học” Định nghĩa này bao hàm những điểm sau đây: - Giáo dục thƣờng xuyên dành cho ngƣời lớn đã biết chữ - Nó đáp ứng những nhu cầu và mong muốn - Nó có thể bao gồm những kinh nghiệm do giáo dục chính qui, không chính qui và phi chính quy cung cấp. - Nó đƣợc định nghĩa là “ cơ hội” học tập suốt đời sau khi học xong bậc tiểu học hoặc tƣơng đƣơng. Giáo dục thƣờng xuyên đƣợc coi nhƣ sự mở rộng chủ yếu của xoá mù chữ và giáo dục Tiểu học nhằm thúc đẩy sự phát triển tài nguyên con ngƣời. 1.2.3. Vị trí của GDTX trong hệ thống Giáo dục quốc dân Với quan niệm truyền thống về hệ thống giáo dục quốc dân ở các nƣớc, chủ yếu phát triển giáo dục trong nhà trƣờng chính quy tập trung- giáo dục chính quy đƣợc gọi là nền giáo dục độc tôn. Nền khoa học và công nghệ phát triển nhanh, xã hội đòi hỏi phải có một nguồn lao động lớn có trình độ tri thức khoa học kỹ thuật ngày càng cao. Trong khi đó, hệ thống giáo dục chính quy chủ yếu chỉ chăm lo cho một bộ phận công dân thành đạt trong một giai đoạn nhất định với nội dung chƣơng trình chọn lọc, tinh tuý, kinh viện nhiều kiến thức thực tế chóng bị lạc hậu và không đáp ứng đƣợc kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội. Hơn nữa, xu hƣớng tập trung hoá, đô thị hoá giáo dục đã làm mất cân đối nghiêm trọng về trình độ dân trí và nguồn nhân lực giữa các vùng miền, cơ cấu ngành nghề, cấp độ đào tạo. Trƣớc tình hình đó, cần có những quan niệm mới về giáo dục. Để đáp ứng đƣợc yêu cầu của xã hội, của ngƣời học cần phải có phƣơng thức 24
- Xem thêm -