Dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong Ký của Lý Lan

  • Số trang: 97 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 24 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

0 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -------*****------- NGUYỄN THỊ THANH THỦY DẤU ẤN VĂN HÓA NAM BỘ TRONG KÝ CỦA LÝ LAN LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN NGHỆ AN, 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -------*****------- NGUYỄN THỊ THANH THỦY DẤU ẤN VĂN HÓA NAM BỘ TRONG KÝ CỦA LÝ LAN Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 60 22 01 21 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. BIỆN MINH ĐIỀN NGHỆ AN, 2014 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU........................................................................................................1 1. Lý do chọn đề tài........................................................................................1 2. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài..............................................3 3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu..........................................................................3 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu..............................................................8 5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................9 6. Đóng góp và cấu trúc của luận văn.............................................................9 Chương 1. THỂ LOẠI KÝ TRÊN HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA LÝ LAN..............................................................................10 1.1. Hành trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Lý Lan.............................10 1.1.1. Lý Lan - nữ nhà văn tiêu biểu của Nam Bộ và của văn học Việt Nam hiện đại..........................................................................................................10 1.1.2. Con đường đến với văn học và hành trình sáng tạo của Lý Lan........12 1.2. Ký trong văn nghiệp của Lý Lan...........................................................19 1.2.1. Một số vấn đề về thể loại ký và ký Việt Nam đương đại...................19 1.2.2. Ký Lý Lan...........................................................................................27 Chương 2. VĂN HOÁ SÀI GÒN, NAM BỘ TRONG NHẬN THỨC, PHẢN ÁNH CỦA KÝ LÝ LAN.................................................................34 2.1. Cơ sở hiện thực của văn hoá Sài Gòn) – Nam Bộ trong ký Lý Lan............34 2.1.1. Vùng văn hoá Nam Bộ........................................................................34 2.1.2. Một số nét đặc trưng phổ quát của văn hóa Nam Bộ..........................35 2.2. Văn hoá đô thị Sài Gòn - Nam Bộ trong ký Lý Lan.............................36 2.2.1. Văn hóa đô thị được nhìn từ mặt sáng, tích cực.................................36 2.2.2. Văn hóa đô thị (Sài Gòn) được nhìn từ mặt tối, hạn chế....................48 2.3. Văn hoá Nam Bộ - vùng đất mới với những biểu hiện đặc trưng (văn hóa miệt vườn, văn hóa sông nước, kênh rạch,...)........................................56 2.3.1. Những người đi mở cõi.......................................................................56 2.3.2. Văn hoá vườn ở miền Tây Nam Bộ....................................................59 2.3.3. Văn hóa sông - nước, kênh - rạch... Nam Bộ......................................61 Chương 3. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT TRONG PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN VĂN HOÁ NAM BỘ CỦA KÝ LÝ LAN.............................63 3.1. Các thể ký và đặc điểm của nó ở ký Lý Lan..........................................63 3.1.1. Các thể ký được chú ý trong văn học Việt Nam đương đại................63 3.1.2. Sự lựa chọn các thể ký của Lý Lan.....................................................64 3.2. Nhân vật người kể chuyện và cái tôi tác giả trong ký Lý Lan...............69 3.2.1. Nhân vật người kể chuyện trong ký Lý Lan.......................................69 3.2.2. Cái tôi tác giả với giọng điệu riêng trong ký Lý Lan..........................73 3.3. Ngôn ngữ của ký Lý Lan.......................................................................78 3.3.1. Ngôn ngữ Nam Bộ trong ký Lý Lan...................................................78 3.3.2. Ngôn ngữ ký Lý Lan sinh động, gần gũi đời sống.............................81 KẾT LUẬN..................................................................................................85 TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................87 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Văn hóa vừa là sản phẩm sáng tạo của con người, vừa là môi trường nhân tạo để nuôi dưỡng đời sống vật chất và tinh thần của con người. Cùng với thiên nhiên thứ nhất do tạo hóa tạo nên, văn hóa trở thành môi trường sống của con người, văn hóa được nhìn nhận là động lực của sự tiến bộ xã hội… Văn học vừa là văn hóa, vừa biểu hiện văn hoá, cho nên văn học cũng là tấm gương của văn hoá. Trong tác phẩm văn học, ta tìm thấy hình ảnh của văn hóa qua sự tiếp nhận và tái hiện của nhà văn. Đó là những vẻ đẹp của văn hoá truyền thống dân tộc, văn hóa Hà Nội trong ký của Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng…, là những vẻ đẹp của văn hoá người Việt qua tùy bút Quê hương tôi của Tràng Thiên, v.v... Văn hoá tác động đến văn học không chỉ ở đề tài mà còn ở toàn bộ hoạt động sáng tạo của nhà văn và hoạt động tiếp nhận của bạn đọc. Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạng bởi sự đóng góp của văn hóa nhiều vùng miền, phong phú đa dạng nhưng thống nhất, biểu hiện đặc tính dân tộc, cốt cách dân tộc, bản sắc dân tộc. Nền văn hóa ấy tạo nên sức mạnh cố kết, duy trì và phát triển đời sống của dân tộc, bao hàm các giá trị đặc trưng, tiêu biểu, phản ánh diện mạo, truyền thống, bản lĩnh, phẩm chất, tâm hồn, lối sống của dân tộc. Văn hóa dân tộc Việt Nam là sự tập hợp, kết tinh những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam ở nhiều vùng khác nhau, trải khắp ba miền Bắc – Trung – Nam (Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ). Đấy là những giá trị được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Tuy đều là biểu hiện của văn hóa dân tộc, nhưng văn hóa mỗi vùng miền khác nhau lại có những đặc điểm độc đáo riêng… Có lẽ chỉ có nhà văn là người nói được những nét riêng độc đáo này của văn hóa vùng miền một cách tinh tế, hấp dẫn nhất. Dấu ấn văn hoá vùng miền trong các sáng tác văn học (bất cứ ở thể loại nào), nhất là của những tác giả có phong cách, là một vấn đề lớn, có ý 2 nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Với những tác giả lấy văn hoá vùng miền làm đối tượng chiếm lĩnh, vấn đề này càng có ý nghĩa... 1.2. Trong văn xuôi Việt Nam hiện đại, ký là một thể loại có vai trò hết sức quan trọng, nhất là trong phản ánh, thể hiện các biểu hiện của văn hóa dân tộc, văn hóa các vùng miền trên đất nước. Rất nhiều tên tuổi lớn mà sự nghiệp sáng tác được khẳng định bằng thể ký ở nội dung này. Nhiều trang ký đặc sắc của Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Thi, Nguyễn Trung Thành, Bình Nguyên Lộc, Băng Sơn, Võ Phiến, Lý Lan... không chỉ mang tới cho độc giả những tri thức, nhận thức mới mẻ, hấp dẫn về văn hóa vùng miền, mà còn góp phần vun đắp tâm hồn, tư tưởng tình cảm cho họ. Chẳng hạn, đọc Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng, độc giả miền Nam có thêm hiểu biết tường tận về mảnh đất, văn hóa và tấm lòng của con người xứ Bắc. Tất cả là hồi quang của một thời quá khứ xa xưa, nhưng khi được biểu đạt bằng giọng văn đằm thắm nghĩa tình, đau đáu nhớ thương, bỗng trở nên lung linh cao quý như những mảnh hồn thiêng dân tộc, từ đây người đọc càng yêu hơn quê hương, đất nước mình. 1.3. Lý Lan - một nhà văn chuyên nghiệp, từng sống ở Sài Gòn, Nam Bộ, am hiểu văn hoá Sài Gòn, Nam Bộ. Tất cả các bài ký, tập ký của bà đều tập trung về văn hoá Sài Gòn, Nam Bộ, lấy đây làm đối tượng nhận thức, phản ánh và thể hiện... Nam Bộ là khu vực phía cực nam của Việt Nam và chính là Nam Kỳ từ khi Việt Nam giành được độc lập vào năm 1945. Nam Bộ là một trong ba vùng chính của lãnh thổ Việt Nam (gồm Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ). Văn hóa Nam Bộ, có thể chia thành ba tiểu vùng: tiểu vùng Đông Nam Bộ, tiểu vùng Tây Nam Bộ, và tiểu vùng Sài Gòn. Mảnh đất lành này là nơi có sự gặp gỡ trọn vẹn và diễn ra sự giao thoa văn hoá của 4 cộng đồng dân tộc Việt, Hoa, Chăm, Khơ-me tiêu biểu cho cả Nam bộ, trong đó người Việt là chủ thể chính. Hình thành trên một vùng đồng bằng sông nước và trên một vùng đất đa tộc người, văn hoá Nam Bộ có nhiều nét riêng độc đáo... 3 Từng được sống trong môi trường văn hóa Nam Bộ, am hiểu văn hóa Sài Gòn, Nam Bộ, Lý Lan ấp ủ khát vọng viết về nó với tất cả tấm lòng gắn bó yêu thương của mình, viết về nó với cảm nhận và cái nhìn riêng của mình. Chính vì vậy, Văn hoá Nam Bộ trong ký của Lý Lan là vấn đề có ý nghĩa sâu sắc trên nhiều phương diện… 2. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài 2.1. Đối tượng nghiên cứu Dấu ấn văn hoá Nam Bộ trong ký của Lý Lan 2.2. Giới hạn của đề tài Đề tài bao quát toàn bộ ký của Lý Lan, gồm bảy tập đã được xuất bản: Chân dung người Hoa (1994) Sài Gòn, Chợ Lớn rong chơi (1998) Khi nhà văn khóc (1999) Dặm đường lang thang (1999) Miên man tùy bút (2007) Bày tỏ tình yêu (2009) Ở ngưỡng cửa cuộc đời (2010) Và một số bài đăng trên (https://sites.google.com/site/lylanmutman): Ăn cháo Tiều, Bông chùm bao, Chuyện làm ăn, Chùa Minh Hương, Du xuân, Đêm Sài Gòn nghe ếch nhái kêu, Múa lân, Người trong hẻm, Sài Gòn về sáng, Sỏi và đá, Thư viết ở Sài Gòn. 3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3.1. Về Lý Lan và sáng tác của nhà văn nói chung Lý Lan sáng tác bằng nhiều thể loại, với khá nhiều đề tài. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu về thế sáng tác của bà còn ít. Trên báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, số 24, ngày 15 – 6 - 1985, Nguyễn Thị Thanh Xuân nhận định: “Lý Lan là cây bút sớm được dư luận chú ý. Với cách viết giản dị mà linh hoạt, đậm đà chất Nam Bộ, Lý Lan thể hiện phong cách của mình ngay từ những tác phẩm đầu tay”. Sau đó một 4 thời gian, năm 1994, cũng trên báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, ra ngày 18 - 8 - 1994, Nguyễn Thị Thanh Xuân giới thiệu tập truyện ngắn Cỏ hát của Lý Lan in chung Trần Thùy Mai. Theo tác giả, “Trong những trang viết của cây bút mới vào nghề như Lý Lan, chúng ta bắt gặp đây đó hình ảnh tác giả: Lý Lan đang trong giai đoạn tự ngắm mình”. Nhà văn Sơn Nam qua tập truyện ngắn Chiêm bao thấy núi của Lý Lan (Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, 19910 nhận thấy ở Lý Lan “Cái tươi trẻ, cái bình dân và sự ranh mãnh của những cô gái trẻ Sài Gòn xưa và nay. Nhất là có phẩm cách” [40; 4] Khi Một góc phố Tàu của Lý Lan (Nxb Hội Nhà văn, 2000) ra đời, Vương Trí Nhàn tuyển chọn và giới thiệu, ông khẳng định phong cách văn xuôi Lý Lan “chính là nằm trong cái mạch của văn xuôi Nam Bộ. Cây bút này đã tiếp nhận một cách hồn nhiên kinh nghiệm của người đi trước để rồi trong hoàn cảnh của mình, thêm vào đó những sắc thái mới, làm nên một giọng điệu mới…là một tiếng nói điềm đạm, không làm điệu, làm ồn, tự tin ở sự tồn tại của mình, do đó là một tiếng nói dễ gần, dễ thông cảm. Chị đã viết được đều, viết nhanh, viết khỏe, có thể tin là trước mắt chúng ta một phong cách đã hình thành, một mạch văn đã khơi nguồn và đang chảy xiết chứ không phải là một sự “viết cho vui” hoặc ghé qua nghề nghiệp chốc lát rồi lại bỏ”... “Riêng với Lý Lan, do hoàn cảnh riêng là lớn lên ở một miền đất mà người Hoa sinh sống tập trung, chị lại có dịp nói kỹ về sinh hoạt của cộng đồng này, từ chuyện làm ăn, một tiệm chạp pô, tiệm nước tới việc viết chữ ghi lại bút tích ngày xuân… với những con người bảo ban nhau làm ăn, những con người nghèo nghèo, tội tội, đang vật lộn kiếm sống và kiếm cách thích nghi với mảnh đất mới”[74; 12-15]. Vương Trí Nhàn đã đặt văn xuôi của Lý Lan trong mạch văn xuôi Nam bộ cùng với Hồ Biểu Chánh, Lý Văn Sâm, Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Trang Thế Hy v.v... Theo Vương Trí Nhàn, Lý Lan có “lối kể chuyện mộc mạc”; lối hành văn “tự nhiên mà không bao giờ mang tiếng trau chuốt, đẽo gọt”,... “Qua những trang sách của chị, người ta thấy hiện lên một phần hình ảnh xã hội sau chiến tranh với 5 những xáo trộn nghiệt ngã, và những đổi thay mà trước đây không ai ngờ tới. Song cái chính là qua những trang sách ấy, người ta cảm thấy như được gặp gỡ với một tâm hồn nhạy cảm, biết nhìn đời một cách nhân hậu để tìm ra những vẻ đẹp và bất chấp mọi sự oái oăm rắc rối, vẫn có được một thái độ phải chăng, hợp lý, giữ lấy niềm tin cho riêng mình”[74]. Khi đặt Lý Lan bên cạnh một nhà văn gốc Hoa là Hồ Dzếnh, Vương Trí Nhàn nhận ra nét đặc biệt trong tâm lý sáng tạo của cả hai nhà văn, đó là “cái cảm giác về một "thân phận kép" đã trở thành ám ảnh” [74] và hành động viết như một sự giãi bày những tình cảm sâu nặng trong lòng. Nhìn chung, bài viết của Vương Trí Nhàn đã thể hiện sự am hiểu sâu sắc về các sáng tác của Lý Lan [http://vuongdangbi.blogspot.com]. Các tác giả Ngô Thị Kim Cúc (“Những người đàn bà bị thất lạc”, báo Thanh niên, 3/2008), Trần Thuỳ Mai (“Lý Lan, người đi xuyên tường”, báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh Chủ nhật, tháng 6/2008), Hà Tùng Sơn (giới thiệu Tiểu thuyết đàn bà, sachhay.com) có những cách nhìn khác nhau về Tiểu thuyết đàn bà. Ngoài ra, cũng cần kể đến một số bài phỏng vấn Lý Lan, như: “Người phụ nữ luôn mơ ước làm chủ cuộc sống” (Báo Người lao động, website nld.com.vn), “Lý Lan: với văn chương tôi không có tuổi” (phongdiep.net), bài phỏng vấn của Ngô Thị Kim Cúc (thanhnien.com.vn) nói về hoạt động sáng tác văn học thiếu nhi của Lý Lan; bài phỏng vấn “Lý Lan, 16 năm cho Tiểu thuyết đàn bà” (tại buổi giao lưu với bạn đọc ngày 13/3/2008, đăng tải trên website:http://www.vtc.vn/). Trong Thơ văn nữ Nam Bộ thế kỷ XX (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2002), người biên soạn công trình này đã nhận xét về tạp văn Lý Lan: “viết nhiều về người Hoa, về con cháu của một dân tộc đã sinh sống, gắn bó, hòa nhập với mảnh đất này từ bao đời nay…nhưng không thấy hiển hiện nỗi niềm xa xứ, nỗi sầu xứ mênh mang của một người xa lạ, “thiếu quê hương” (chữ dùng của Nguyễn Tuân) hay u trầm, huyền bí” mà chỉ thấy vẻ hiền 6 lành, đơn sơ, mộc mạc của một cộng đồng người giàu đức tính chia sẻ và cảm thông” [1; 686] Tháng 2 năm 2007 trên website: http://evan.vnexpress.net, tác giả Anh Vân viết bài “Lý Lan - người đàn bà hồn nhiên với chữ”. Trong bài viết này, Anh Vân gọi Lý Lan là “người bạn ham chơi, chân thành của chữ nghĩa” và với chữ nghĩa, Lý Lan có “mối quan hệ quấn quýt như tình nhân”. Tác giả bài viết cũng nhận ra nét hồn nhiên không chỉ toát ra từ con người mà còn thể hiện rõ trong giọng văn, ngôn ngữ của Lý Lan” và khẳng định sự trong sáng, dễ thương đã trở thành một trong những nét riêng hấp dẫn ở giọng điệu của Lý Lan. Bài viết “Lý Lan: Tình yêu vẫn còn nguyên vẹn” của Tường Vy đăng trên báo Saigongiaiphongonline là bài viết ghi lại những hoạt động và đóng góp của Lý Lan tại buổi Tổ chức Hội sách Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 5, nhân dịp đón tết Mậu Tý, 2008. Qua bài viết này tác giả cũng hé mở một số chi tiết về cuộc đời của nhà văn thông qua câu trả lời của nhà văn với bạn đọc. Tác phẩm của Lý Lan trở thành đề tài nghiên cứu cho một số luận văn thạc sĩ, như Đặc điểm truyện ngắn Lý Lan của Lê Thị Huỳnh Lan (Cao học 15 Đại học Vinh), Cảm hứng nữ quyền trong văn xuôi tự sự của Lý Lan của Nguyễn Thị Hà (Cao học 16 Đại học Vinh), Đặc điểm tạp văn của Lý Lan của Lê Tiến Dũng (Cao học 16 Đại học Vinh). 3.2. Vấn đề Văn hoá Sài Gòn, Nam Bộ trong ký Lý Lan Lịch sử nghiên cứu vấn đề văn hóa Nam Bộ trong ký Lý Lan thể nói còn trống vắng. Chỉ có một vài bài viết có đề cập một vài chi tiết về nội dung và cách viết ký của bà. Ký là một thể loại được Lý Lan viết nhiều, song thể loại này của bà chưa thu hút được sự quan tâm cần thiết, đúng mức của giới nghiên cứu. Những đánh giá chủ yếu dành cho truyện ngắn và đặc biệt cho cuốn tiểu thuyết mới xuất bản gần đây của bà: Tiểu thuyết đàn bà, còn ký thì mới chỉ 7 có một vài bài viết lẻ tẻ in trên các báo. Tác giả Việt Bằng trong bài “Đọc Miên man tuỳ bút của Lý Lan” đăng trên vietbang.com đề cập đến hai nội dung: “Miên man tùy bút là tập hợp của 11 đoản văn (personal essays, nonfiction) không có đề tài mà chỉ được đánh số từ 1 đến 11. Tất cả đều liên quan tới tác giả từ thủa ấu thời mẹ mất sớm, theo cha về Chợ Lớn cho đến khi thành công trong sự nghiệp và thành danh trong cuộc đời” và: “Trong Miên man tùy bút, nhiều đoạn được diễn tả bằng những mẩu đối thoại thay vì miêu tả hay thuật truyện. Viết đối thoại cũng là một sở trường của Lý Lan”[8]. Trên đài Châu Á tự do, tác giả Mặc Lâm cho phát bài: “Nhà văn nữ Lý Lan, một cây viết có sức sáng tác đa dạng” trong đó chủ yếu tập trung phân tích, làm rõ cách viết, nghệ thuật kể chuyện của Lý Lan. Với cái nhìn có tính hiện thực, Mặc Lâm đã khái quát: “Qua nhiều tác phẩm, Lý Lan có khuynh hướng miêu tả đời thường dưới cái nhìn của một nhà báo hơn là một nhà văn. Chị ghi nhận sự kiện và sắp xếp chúng bằng những trình tự mà sự kiện liên tục xảy ra và không hoa mỹ, hư cấu”[61]. Điều đáng chú ý của Lý Lan là tác giả luôn đưa hình ảnh cuộc sống sống động vào văn chương, làm cho văn chương giàu hơi thở. Mặc Lâm phát biểu: “Bằng trực giác của một người nữ, chị lặng lẽ quan sát những gánh hàng rong đang ngày ngày sinh hoạt mà chị gọi chung là những cái chợ hàng rong”[61]. Tháng 4 năm 2008, báo Thể thao & Văn hoá, số 111 cho đăng bài “Lý Lan: Mẹ đưa con đến trường mãi là biểu tượng đẹp nhất” của tác giả Yên Khương. Đây là bài viết về tác phẩm được chọn giảng trong nhà trường (chương trình văn học lớp 7): Cổng trường mở ra của Lý Lan. Yên Khương đã giành những ưu ái cho nhà văn khi ngợi ca “những tâm sự rất dung dị nhưng lại vô cùng cảm động như chính giọng văn của bà”[38]. Nguyễn Long Khánh trong bài giới thiệu cuốn Miên man tùy bút trong tonvinhvanhoadoc.vn đã có những nhận xét sơ bộ về hình thức của cuốn tùy bút: “Một cuốn sách giản dị, mộc mạc chân thành: Người viết nhớ đến đâu, 8 viết đến đó, không sắp đặt cũng không chú ý lắm đến hình thức, nghệ thuật thể hiện”[35]… Về mặt nội dung, Nguyễn Long Khánh khẳng định Miên man tùy bút là cuốn sách “ thật ấm áp tình đời, tình người, có sức quyến rũ dịu dàng lay động mỗi trái tim người đọc. Nó như một dòng suối mát trong róc rách giữa ngày nắng hạ mang đến niềm vui, hy vọng và sức mạnh tiềm ẩn để chúng ta ngẩng cao đầu đi trong cuộc sống”[35]. Các tác giả biên soạn công trình Thơ văn nữ Nam Bộ thế kỷ XX (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2002) nhận xét: Lý Lan “viết nhiều về người Hoa, về con cháu của một dân tộc đã sinh sống, gắn bó, hòa nhập với mảnh đất này từ bao đời nay…nhưng không thấy hiển hiện nỗi niềm xa xứ, nỗi sầu xứ mênh mang của một người xa lạ, “thiếu quê hương” (chữ dùng của Nguyễn Tuân) hay u trầm, huyền bí” mà chỉ thấy vẻ hiền lành, đơn sơ, mộc mạc của một cộng đồng người giàu đức tính chia sẻ và cảm thông” [1; 686] Nhìn chung, các bài báo nghiên cứu về ký và đặc biệt là vấn đề văn hóa Nam bộ trong ký của Lý Lan vẫn còn quá ít ỏi, sơ sài, nếu không muốn nói là chưa có. 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4.1. Mục đích nghiên cứu Qua tìm hiểu, khảo sát dấu ấn văn hoá Nam Bộ trong ký của Lý Lan, luận văn nhằm xác định đây như là một thành tố quan trọng tạo nên thành công và nét riêng trong phong cách ký của Lý Lan, cũng từ đây, đề xuất một số vấn đề về có ý nghĩa lý luận và thực tiễn về tiếp nhận và nghiên cứu dấu ấn văn hoá vùng miền, địa phương trong các sáng tác văn học… 4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 4.2.1. Đưa ra một cái nhìn khái quát về Lý Lan và thể loại ký trên hành trình sáng tạo của nhà văn 4.2.2. Đi sâu khảo sát, phân tích, xác định những biểu hiện của văn hoá Sài Gòn, Nam Bộ trong ký của Lý Lan. 9 4.2.3. Đi sâu khảo sát, phân tích, xác định nghệ thuật thể hiện văn hoá Sài Gòn, Nam Bộ của ký Lý Lan. Cuối cùng rút ra một số kết luận về thành công của ký Lý Lan khi có sự tham gia của thành tố văn hoá văn hoá Sài Gòn, Nam Bộ (gọi chung là văn hoá Nam Bộ)… 5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có các phương pháp chính: phương pháp liên ngành, phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh loại hình, phương pháp cấu trúc - hệ thống... 6. Đóng góp và cấu trúc của luận văn 6.1. Đóng góp - Luận văn là công trình đi sâu tìm hiểu sự phản ánh và thể hiện văn hoá Nam Bộ của ký Lý Lan với cái nhìn tập trung và hệ thống. - Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu, nghiên cứu ký Lý Lan nói riêng, ký Việt Nam đương đại nói chung… 6.2. Cấu trúc của luận văn Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương. Chương 1: Thể loại ký trên hành trình nghệ thuật của Lý Lan Chương 2: Văn hoá Nam Bộ trong nhận thức của ký Lý Lan Chương 3: Nghệ thuật thể hiện văn hoá Nam Bộ của ký Lý Lan 10 Chương 1 THỂ LOẠI KÝ TRÊN HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA LÝ LAN 1.1. Hành trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Lý Lan 1.1.1. Lý Lan – nữ nhà văn tiêu biểu của Nam Bộ và của văn học Việt Nam hiện đại Nhà văn Lý Lan tên thật là Lý Thị Lan sinh ngày 16 tháng 7 năm 1957 tại quê mẹ làng Bình Nhâm, huyện Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Hiện nay, Lý Lan đã lập gia đình với giáo sư Sử học người Mỹ tên là Mart Stewart và sống ở hai nơi Hoa Kỳ và Việt Nam. Thuở nhỏ, Lý Lan sống ở quê ngoại. Làng Bình Nhâm là vùng đất nổi tiếng với những vườn cây trái xum xuê, những làng nghề truyền thống lâu đời của vùng đông Nam Bộ. Đi đâu, làm gì Lý Lan cũng nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn - nơi mà Lý Lan trìu mến gọi đó là quê mẹ, nơi mà ở đó đất và người đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận của bà: “Quê mẹ và tuổi thơ ở quê mẹ là mạch nước ngầm của đời tôi. Khi nào khát tình cảm, khát đề tài, khát cảm hứng, thì tôi lại tìm về cái mội nước ấy…” [49]. Cha Lý Lan là người Quảng Đông, Trung Quốc. Ông di cư đến Việt Nam từ nửa đầu thế kỷ XX. Nhà văn là kết quả của mối tình không biên giới Hoa - Việt. Khi nhắc đến quê nội, Lý Lan không nói về một vùng đất cụ thể mà là một ký ức, một tiềm thức qua lời kể của cha: “Lối mòn nào Lỗ Tấn đã đi qua thành đường. Và vầng trăng nào Lý Bạch đã ngẩng đầu nhìn rồi nhớ cố hương”. Mẹ mất sớm, Lý Lan ở với cha “người đàn ông di dân mù chữ”, nhưng chính tâm hồn cao thượng của ông đã gợi mở lòng yêu thích học hành và niềm say mê văn học cho con gái mình. Khi theo cha rời làng Bình Nhâm vào sống ở Sài Gòn - Chợ Lớn, Lý Lan tiếp tục học tập nhờ sự mưu sinh nhọc nhằn của người cha. Lý Lan tốt nghiệp đại học Sư phạm, trở thành 11 nhà giáo rồi thành nhà báo, nhà văn nhà thơ, nhà biên kịch điện ảnh, nhà dịch thuật nổi tiếng được nhiều độc giả ưu ái, mến mộ. Những ngôi trường ghi dấu tuổi học trò của nhà văn Lý Lan là trường tư thục Trung Chánh, trường tiểu học cộng đồng Chợ Quán, trường trung học Gia Long và trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh. Lý Lan đã trưởng thành và gắn bó sâu sắc ở thành phố năng động này. Sài Gòn là nơi níu giữ tâm hồn nhà văn Lý Lan lâu nhất, bền nhất. Nơi đó, Lý Lan có “cả tỷ chuyện về Sài Gòn - Chợ Lớn”. Bởi Sài Gòn trong Lý Lan là “một thành phố hào phóng và bình dân, năm bảy triệu con người của thành phố đã quyến rũ tôi bằng những bí ẩn của sức sống và sự hồi sinh kỳ lạ”. Lý Lan yêu thích văn chương từ nhỏ. Khi đỗ vào đại học Sư phạm, cô sinh viên khoa ngoại ngữ Lý Lan vẫn “chưa đành từ bỏ mộng văn chương, có lúc nào rảnh là vào thư viện mượn sách văn học và giáo trình khoa văn mà đọc” [51]. Truyện ngắn đầu tay Chàng nghệ sĩ in trên Báo Tuổi trẻ và được giải thưởng vẫn chưa đưa Lý Lan đến với nghiệp văn chương. Chuyến đi thực tế ở Tây Ninh đã giúp Lý Lan sớm thực hiện ước mơ làm nhà văn của mình: “Khi đất nước thanh bình, tôi vừa mười tám tuổi, đang cắp sách đến trường, chưa từng ra khỏi thành phố, chỉ nhìn thấy chiến tranh trên màn ảnh nhỏ” [51]. Đến khi tận mắt chứng kiến mảnh đất cha ông bị bom cày đạn xới Lý Lan đã “đứng lặng người bàng hoàng trước mảnh đất dày đặc hố bom”. Và từ giây phút “lòng rưng rưng muốn khóc” Lý Lan “không còn nhìn sự vật bằng đôi mắt hững hờ lướt trên bề mặt. Từ ấy, chị bắt đầu con đường cầm bút.” [68,105]. Khi nhắc đến Lý Lan, người ta thường kèm theo danh xưng “cô giáo dạy tiếng Anh” như một lợi thế rất riêng của một nhà văn. Bà từng cắt nghĩa: tiếng Anh là ngôn ngữ thời đại, người thích học tiếng Anh ít nhiều có óc khoáng đạt, nói chung là những người “giữ được nhịp tim mình đập tương đối cùng nhịp với phần sôi động nhất của cuộc sống hiện nay”. 12 Lý Lan dạy học ở trường trung học Cần Giuộc (Long An) từ năm 1980. Nhà văn cho rằng cô giáo viết văn có những thuận lợi riêng: “Bằng việc dạy học, tôi thiết lập quan hệ hai chiều với những người trẻ tuổi có đầu óc khoáng đạt, mới và dám”. Bà không quên hình ảnh những đứa học trò đen đúa, gầy gò cứ lặng lẽ đạp xe “hộ tống” cô giáo suốt chặng đường hàng chục cây số, cho đến khi thấy cô lọt vào quầng sáng thành phố mới chịu quay về. Chính những ánh mắt ngây thơ, tâm hồn trong sáng của học trò đã giúp Lý Lan vượt qua được chính mình. Đó cũng chính là hành trang giúp nhà văn viết những đề tài nhà giáo, tuổi trẻ hấp dẫn độc giả bằng những trải nghiệm thực tế. Năm 1984, Lý Lan về dạy ở trường Hùng Vương. Những năm sau đó là trường Lê Hồng Phong, trường Đại học Văn Lang. Đến năm 1997, Lý Lan chuyển sang làm báo, dành nhiều thời gian cho viết lách và chấm dứt hẳn nghề dạy học. 1.1.2. Con đường đến với văn học và hành trình sáng tạo của Lý Lan Lý Lan bắt đầu sự nghiệp sáng tác bằng truyện ngắn Chàng nghệ sỹ (tác phẩm ra đời năm 1978 sau chuyến đi lao động thực tế về nông thôn của Lý Lan). Đây chính là thành công bước đầu trong văn nghiệp Lý Lan. Từ đó, bà tiếp tục sáng tác truyện ngắn đều đặn đăng trên báo Tuổi trẻ, Văn nghệ, Phụ nữ thành phố... Với thế mạnh ở vốn văn hóa, vốn sống phong phú, một trí tuệ thông minh, một tâm hồn nhạy cảm, Lý Lan đã chứng tỏ tài năng đa dạng của mình trên nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, tuỳ bút, ghi chép, văn học dịch… Cho đến nay, Lý Lan đã cho xuất bản một khối lượng tác phẩm khá lớn với nhiều thể loại khác nhau. Trước hết cần nói đến truyện ngắn, có: Cỏ hát (1983), Chút lãng mạn trong mưa (1987), Chiêm bao thấy núi (1991), Truyện (1992, in chung, gồm Lý Lan, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Nguyễn Hải Chi), Đất khách (1995), Dị mộng (1999), Qúa chén (2000), Một góc phố Tàu (2001), Truyện ngắn bốn cây bút nữ (2002), Người đàn bà kể chuyện (2006), Hồi xuân (2009). 13 Truyện viết cho thiếu nhi, có: Ngôi nhà trong cỏ (1984), Hội lồng đèn (1991), Những người lớn (1992), Mưa chuồn chuồn (1993), Bí mật của tôi và thằn lằn đen (1996), Ba người và ba con vật (2002) Về tiểu thuyết, có: Lệ Mai (1998), Tiểu thuyết đàn bà (2008) Lý Lan còn viết cả kịch bản phim: Nơi bình yên chim hót (1986), Đất khách (2000). Về ký (bao hàm nhiều thể: tạp văn, tùy bút, ghi chép,…), có: Chân dung người Hoa (1994), Sài Gòn, Chợ Lớn rong chơi (1998) Khi nhà văn khóc (1999) Dặm đường lang thang (1999) Miên man tùy bút (2007) Bày tỏ tình yêu (2009) Ở ngưỡng cửa cuộc đời (2010) Về thơ: Thơ Lý Lan, Lưu Thị Lương, Thanh Nguyên (1999) Quán bạn (in chung, 2001) Là mình (2005) Về dịch thuật: Harry Potter Đóng góp của Lý Lan cho văn học Việt Nam hiện đại là rất đáng được ghi nhận. Một số giải thưởng văn học mà bà đã được nhận đã chứng minh cho điều đó. Truyện ngắn Chàng nghệ sỹ đạt giải Khuyến khích cuộc thi văn xuôi Tuổi trẻ bảo vệ Tổ quốc và xây dựng Chủ nghĩa xã hội của Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1978. Truyện ngắn Cỏ hát đạt giải Nhì cuộc thi văn xuôi của báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh,năm 1981. Tập truyện Ngôi nhà trong cỏ đạt giải thưởng văn học thiếu nhi của hội Nhà văn Việt Nam, năm 1984. Truyện ngắn Đêm không chiến tranh đạt giải Nhìn cuộc thi văn xuôi của báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh,năm 1985. Truyện ngắn Cần Giuộc đạt giải Nhì cuộc thi văn xuôi của báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1989. Truyện ngắn Ngựa ô đạt giải Nhì cuộc 14 thi truyện ngắn – thơ của Tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1989 – 1990. Tập thơ Là mình được trao giải thưởng thơ của Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2006. Tiểu thuyết đàn bà được giải thưởng văn xuôi của Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009. Truyện ngắn và tiểu thuyết Lý Lan qua các thời kỳ đều mang đậm dấu ấn của thời đại. Mảnh đất và con người Nam Bộ là nguồn cảm hứng mãnh liệt chi phối ngòi bút Lý Lan. Nét riêng trong truyện ngắn, tiểu thuyết của bà chính là nhà văn luôn thể hiện cuộc sống và con người ở những điều bình thường, nhỏ nhặt, sâu kín trong tâm hồn, đặc biệt là người phụ nữ. Đó là những trang viết thấm đẫm tinh thần nhân bản. Lý Lan để lại dấu ấn trong văn xuôi tự sự Việt Nam đương đại trên rất nhiều phương diện nổi bật như: Dân chủ hoá về cảm hứng, đề tài; sáng tạo nên nhiều tình huống truyện độc đáo; đưa chất thời sự vào tác phẩm, xây dựng hình tượng nhân vật có chiều sâu… Đặc biệt việc đưa chất thời sự vào văn chương và góp tiếng nói mạnh mẽ cho phong trào nữ quyền trong văn học là những đóng góp xuất sắc của Lý Lan. Cùng với Lê Minh Khuê, Y Ban, Dạ Ngân, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Ngọc Tư, v.v.., Lý Lan đã góp phần tạo nên một “dòng” văn học nữ khó lẫn trong văn học hiện đại Việt Nam. Lý Lan còn đóng góp cho văn học Việt Nam một màu sắc Nam Bộ rất riêng và độc đáo. Trong văn của Lý Lan, người ta không chỉ bắt gặp hình ảnh bến đò, sông nước, những hình ảnh con người lao động cần cù gắn với những miệt vườn, những cánh đồng xanh, những cách xưng hô (ổng, cổ, ảnh), ngôn ngữ cụ thể sinh động (mắc mớ gì, hen, hớ, bộ mày, chút đỉnh) mà còn bắt gặp ở đó sự pha trộn văn hoá giữa Đông – Tây, giữa người Hoa và người Việt trong một lối viết giản dị, gần với văn phong báo chí. Các tác phẩm đậm màu sắc Nam Bộ của bà đó là: Chị ấy lấy chồng chưa?, Đêm sao, Diễn viên hạng ba, Đêm thảo nguyên, Ngựa ô, v.v… Truyện ngắn và tiểu thuyết của Lý Lan góp phần khẳng định tính chất “mở” của các thể loại tự sự, đưa văn chương gần với cuộc đời. Trong tác 15 phẩm của Lý Lan, các thể loại luôn có mối quan hệ tương quan với nhau, đều có sự “cộng sinh” nhất định. Đọc truyện ngắn, tiểu thuyết của Lý Lan, nếu người đọc tinh ý có thể dễ dàng nhận ra dấu ấn của tuỳ bút, của văn phong báo chí. Tuỳ bút của Lý Lan gần với truyện ngắn, tiểu thuyết (tính chất chủ quan trong miêu tả, biểu lộ cảm xúc, tính trữ tình, có nhân vật và các mối quan hệ có thể tạo nên cốt truyện). Lý Lan đã đưa các mẩu đối thoại một cách hồn nhiên các vào truyện ngắn, tiểu thuyết. Truyện ngắn và tiểu thuyết của Lý Lan chỉ có vài tác phẩm là kết thúc theo lối truyền thống, còn lại là kết thúc theo lối “bỏ ngỏ”. Lý Lan quan niệm văn chương cũng như cuộc sống, sẽ chẳng bao giờ có câu nói cuối cùng về nó cả. Lý Lan rất thành công khi đưa vào tác phẩm chất Nam Bộ, góp phần khẳng định tính chất mở trong các thể loại tự sự, đưa văn chương gần với cuộc đời. Lý Lan đã có cả một quá trình phấn đấu, sáng tạo, luôn giành thời gian để nghiền ngẫm, quan tâm tới văn học nước nhà, gắn bó với tổ quốc, với quê hương... Ở mảng truyện viết cho thiếu nhi, Lý Lan cũng có những đóng góp rất đáng kể. Lý Lan tâm sự: “Văn học thiếu nhi chiếm cái gác xép trong ngôi nhà sáng tạo của tôi. Những bài báo chiếm không gian bếp; tiểu thuyết, truyện và nghiên cứu kể như phòng làm việc; nhật ký và thơ chiếm phòng ngủ; ghi chép và tạp văn được dành cho phòng khách; còn blog như cái hàng hiên hóng gió. Gác xép là nơi tôi cất giữ buồn vui thương nhớ, là chỗ tôi lẳng lặng tìm về, quên tất cả những thứ ở “tầng dưới”, tâm hồn được thanh lọc, và mình đơn giản là mình”[58]. Đến nay, Lý Lan đã có sáu tập truyện viết cho trẻ em, tiêu biểu là: Ngôi nhà trong cỏ (1984) gồm ba mươi truyện ngắn hay, Hội lồng đèn (1991), Những người lớn (1992). Những truyện ngắn viết cho thiếu nhi đều bắt nguồn từ thời thơ ấu của nhà văn ở quê ngoại, từ sự quan sát những đứa trẻ trong gia đình, hàng xóm ở cả nông thôn và thành thị với cái nhìn mới mẻ, hiện đại của một người viết quan tâm sâu sắc đến trẻ nhỏ. Tập truyện 16 dài Mưa chuồn chuồn (1993) là câu chuyện về những rung động đầu đời, những tâm tư tình cảm và cả những biến đổi của cuộc đời tác động đến các bạn trẻ sắp tốt nghiệp trung học. Bí mật của tôi và thằn lằn đen (1996) là cuộc phiêu lưu của con người vào thế giới loài vật. Ba người và ba con vật (2002) là truyện dài về ba em nhỏ và ba con vật gồm Bồ Câu, chó Mực và Gà Trống trong cuộc phiêu lưu quanh vườn. Truyện này gồm chín câu chuyện nhỏ sử dụng lối viết tả thực, nhân hóa kết hợp với khoa học viễn tưởng như con người dùng máy nghe loài vật nói chuyện. Ngoài ra, nhà văn còn nhiều truyện ngắn viết cho bạn đọc nhỏ tuổi đăng rải rác trên các báo. Với tấm lòng tha thiết vì trẻ nhỏ, Lý Lan kể những câu chuyện cổ tích hiện đại cho các em nghe nhằm truyền tải những tâm tình, những bài học sâu sắc cho trẻ thơ. Tuy đối tượng là trẻ em, nhưng cách viết của Lý Lan chứng tỏ tác giả là một người viết cẩn trọng và có trách nhiệm. Nhà văn Sơn Nam từng nhận xét về Lý Lan: “Tôi nhớ lần đầu tiên đã ngạc nhiên khi thấy diễn tả buổi sáng con cào nhảy ra sân cỏ tập thể dục, chuyện dành cho trẻ thơ nhưng người lớn đọc rất thích” [69; 4]. Vì nhà văn nhất quán trong cách viết, chọn những đề tài bình dị nhưng luôn ẩn chứa sự quan tâm sâu sắc đến bạn đọc nhỏ tuổi. Đầm chìa vôi, Người xanh lá cây, Tự nhiên buồn là những truyện được thiếu nhi yêu thích. Tập truyện thiếu nhi đầu tay của Lý Lan Ngôi nhà trong cỏ (Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 1984) được giải thưởng văn học thiếu nhi của Hội Nhà Văn Việt Nam. Gần đây, Nxb Văn học và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây đã cho tái bản tập truyện. 30 câu chuyện nhỏ xinh gói ghém trong cuốn sách chỉ ngót 100 trang không khiến cho người đọc cảm giác “đọc nhanh quá” hay “ngắn quá” mà ở mỗi truyện ngắn, hay chỉ là một mẩu nhỏ của tập sách đều mang một bài học đạo đức nhỏ vốn rất cần thiết cho lứa tuổi thiếu nhi còn phải học hỏi thật nhiều ở cuộc đời để hoàn thiện mình. Đọc cuốn sách nhỏ này, bạn đọc nhỏ tuổi thích tìm hiểu sẽ nhận thấy có một “sàng khôn” về những kiến thức thiên nhiên: cây cỏ, các loài sinh vật của đồng cỏ,
- Xem thêm -