Con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần Vương cuối thế kỷ XIX

  • Số trang: 143 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 74 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

0 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NGUYỄN THỊ VÂN TRANG CON NG¦êI TRUNG NGHÜA TRONG S¸NG T¸C CñA C¸C NHµ NHO CÇN V¦¥NG CUèI THÕ Kû XIX LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN NGHỆ AN - 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NGUYỄN THỊ VÂN TRANG CON NG¦êI TRUNG NGHÜA TRONG S¸NG T¸C CñA C¸C NHµ NHO CÇN V¦¥NG CUèI THÕ Kû XIX Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 60.22.01.21 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. BIỆN MINH ĐIỀN NGHỆ AN - 2014 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU........................................................................................................... 1. Lí do chọn đề tài.......................................................................................... 3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu.......................................................................... 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.............................................................. 5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................. 6. Đóng góp và cấu trúc của luận văn............................................................. Chương 1. TỔNG QUAN VỀ SÁNG TÁC CỦA CÁC NHÀ NHO CẦN VƯƠNG TRONG VĂN HỌC NỬA SAU THẾ KỶ XIX................................................................................................. 1.1. Văn học nửa sau thế kỷ XIX trong lịch sử văn học dân tộc..................... 1.1.1. Giai đoạn cuối cùng của văn học trung đại Việt Nam.................... 1.1.2. Văn học hình thành và phát triển trong bối cảnh mới với nhiều sự kiện đặc biệt chi phối..................................................... 1.1.3. Văn học phân hóa thành nhiều khuynh hướng, nhiều tư trào khác nhau...................................................................................... 1.2. Tư trào Cần vương trong văn học nửa sau thế kỷ XIX.......................... 1.2.1. Phong trào Cần vương cuối thế kỷ XIX và vấn đề trung quân - ái quốc, “vì vua” - “vì nước” đặt ra cho nhà nho.............. 1.2.2. Tư trào văn học Cần vương cuối thế kỷ XIX và quan niệm trung nghĩa của nhà nho................................................................ 1.2.3. Các tác gia tiêu biểu của tư trào văn học Cần vương cuối thế kỷ XIX và sự gặp nhau trong tư tưởng “Cần vương” “hộ quốc”...................................................................................... Chương 2. HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI TRUNG NGHĨA TRONG SÁNG TÁC CỦA CÁC NHÀ NHO CẦN VƯƠNG........ 1 2.1. Các dạng thái biểu hiện và đặc điểm của hình tượng con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX.................. 2.1.1. Con người trung nghĩa qua hình tượng chủ thể trữ tình (hay cái tôi tác giả) trong sáng tác của các nhà nho Cần vương........... 2.1.2. Con người trung nghĩa qua nhân vật khách thể được miêu tả trong sáng tác của các nhà nho Cần vương.................................. 2.2. Sự đa dạng và thống nhất của mẫu hình con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần vương................................................... 2.2.1. Sự đa dạng của mẫu hình con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần vương.................................................... 2.2.2. Sự thống nhất của mẫu hình con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần vương............................................ 2.3. Ý nghĩa xã hội - thẩm mỹ của mẫu hình con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX........................ 2.3.1. Những tấm gương của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng ...................................................................................................... 2.3.2. Cái đẹp và sức sống của mẫu hình con người trung nghĩa............. Chương 3. PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CON NGƯỜI TRUNG NGHĨA CỦA VĂN HỌC NHÀ NHO CẦN VƯƠNG CUỐI THẾ KỶ XIX.............................................................................. 3.1. Sự lựa chọn thể loại.............................................................................. 3.1.1. Các thể văn chính luận (luận, thuyết, thư, biểu, tấu,…)............. 3.1.2. Các thể thơ (thơ cổ phong, thơ đường luật,…)........................... 3.1.3. Các thể văn biền ngẫu (đối liên, hịch,…)................................... 3.2. Bút pháp............................................................................................... 3.2.1. Bút pháp trữ tình......................................................................... 3.2.2. Bút pháp chính luận.................................................................... 3.2.3. Một số bút pháp khác.................................................................. 3.3. Giọng điệu và ngôn ngữ....................................................................... 3.3.1. Giọng điệu.................................................................................. 3.3.2. Ngôn ngữ.................................................................................... 1 KẾT LUẬN................................................................................................... TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................... MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Văn học nửa sau thế kỷ XIX (trong đó có sáng tác của các nhà nho Cần vương) là một giai đoạn có vai trò, vị trí hết sức đặc biệt trong lịch sử văn học dân tộc. Giai đoạn văn học này gắn liền với sự kiện thực dân Pháp tiến hành xâm lược nước ta và cuộc chiến đấu kiên cường, bất khuất của đông đảo nhân dân ta hưởng ứng ngọn cờ Cần vương, chống ách xâm lược của thực dân Pháp. Những sự kiện mang tính thời sự đó đã chi phối toàn bộ đời sống văn học và làm thay đổi diện mạo văn học. Văn học theo sát tình hình chính trị, phục vụ cuộc đấu tranh chính trị. Điều đáng chú ý nữa, giai đoạn văn học này là giai đoạn cuối cùng của thời kỳ văn học được sáng tác dưới sự chi phối của ý thức hệ phong kiến, thuộc loại hình văn học trung đại, nó mang những nét đặc thù khác hẳn với các giai đoạn trước và sau đó. Hiện còn nhiều vấn đề về nội dung, tư tưởng, về hình thức ngôn ngữ, thể loại, về các khuynh hướng cũng như các tác gia, tác phẩm tiêu biểu… của văn học giai đoạn này đặt ra cho giới nghiên cứu phải tìm hiểu, giải quyết. 1.2. Phong trào Cần Vương (“giúp vua”) nổ ra vào cuối thế kỷ 19 do đại thần nhà Nguyễn là Tôn Thất Thuyết nhân danh vị hoàng đế trẻ Hàm Nghi (một ông vua yêu nước) đề xướng trước nạn xâm lược của thực dân Pháp. Phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX tuy dưới danh nghĩa Cần Vương nhưng thực chất là phong trào dân tộc, phong trào yêu nước chống chủ nghĩa thực dân xâm lược kết hợp với chống triều đình phong kiến đầu hàng đã diễn ra sôi nổi, rộng khắp. Phong trào tuy thất bại nhưng đã tô thắm thêm truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc Việt Nam. Từ đây xuất hiện tư trào văn 2 học Cần vương mà các tác giả là những nhà Nho - những thủ lĩnh - những chiến sĩ kiên gan, tích cực, một lòng vì nước - vì vua. Tư trào văn học Cần vương là một hiện tượng lớn, độc đáo, nhưng không phải không phức tạp, nhất là trong sự tiếp nhận của hậu thế. Tìm hiểu, nghiên cứu sáng tác của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX nhằm hướng tới một sự nhìn nhận chung nhất về tư trào văn học Cần vương, sự đánh giá thỏa đáng đối với những đóng góp xuất sắc của các nhà nho Cần vương cho văn học nửa sau thế kỷ XIX nói riêng và văn học dân tộc nói chung. 1.3. Tư trào văn học Cần vương bao gồm nhiều tác giả xuất sắc với nhiều tác phẩm văn học có giá trị, có ý nghĩa xã hội - thẩm mỹ sâu sắc mà hậu thế có thể chưa cảm thấu hết. Ngay việc sưu tầm, tập hợp, biên dịch tác phẩm của các nhà văn Cần vương vẫn đang là bài toán đòi hỏi giới nghiên cứu phải giải quyết, phải giới thiệu rộng rãi cho đông đảo công chúng hiện nay được biết. Mẫu hình con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX là một mẫu hình đẹp, có ý nghĩa sâu sắc trên nhiều phương diện. Con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX là vấn đề lớn, và không phải không phức tạp, đòi hỏi phải có sự tìm hiểu nghiên cứu một cách công phu, nghiêm túc, khoa học. Đây là công việc lâu dài, đòi hỏi sự quan tâm thực sự của giới nghiên cứu. 2. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài 2.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX. 2.2. Giới hạn của đề tài 3 Đề tài bao quát sáng tác của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX, chủ yếu tập trung vào ba tác giả tiêu biểu: Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng, Nguyễn Quang Bích. Văn bản các tác phẩm dùng để khảo sát, luận văn dựa vào các cuốn: - Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX (Trần Văn Giàu giới thiệu và chú thích; nhiều tác giả sưu tầm, biên soạn), Nxb Văn học, Hà Nội, 1976. - Thơ văn Nguyễn Quang Bích (Đinh Xuân Lâm giới thiệu và chú thích; nhiều người dịch), Nxb Văn học, Hà Nội, 1973. - Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn (Đinh Xuân Lâm giới thiệu và chú thích; nhiều người dịch), Nxb Văn học, Hà Nội, 1977. 3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3.1. Lịch sử tìm hiểu, nghiên cứu văn học nửa sau thế kỷ XIX nói chung, sáng tác của các nhà nho Cần vương nói riêng Văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX với tư cách là một giai đoạn thuộc thời kỳ văn học trung đại đã có khá nhiều những công trình nghiên cứu quan tâm. Có thể kể tên một số công trình tiêu biểu sau: 1. Trần Văn Giàu (giới thiệu), Chu Thiên, Đặng Huy Vận, Nguyễn Bỉnh Khôi (biên soạn - 1976), Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX, Nxb Văn học, Hà Nội [15]. 2. Nguyễn Lộc (1976), Văn học Việt Nam nửa sau thế kỉ XIX, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội [38]. 3. Nguyễn Đăng Na (chủ biên), Đinh Thị Khang, Trần Quang Minh, Nguyễn Phong Nam, Lã Nhâm Thìn (2007), Giáo trình văn học trung đại Việt Nam, tập 2, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội [46]. 4. Nguyễn Phong Nam (1997, tái bản 2004), Giáo trình văn học Việt Nam giai đọan cuối thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội [48]. 4 5. Lê Trí Viễn, Nguyễn Đình Chú, Phan Côn,… (1978), Lịch sử văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội [72]. Những công trình trên chủ yếu là những giáo trình về lịch sử văn học dùng cho sinh viên các trường đại học. Có những công trình đã viết cách đây vài ba thập kỷ nên không tránh khỏi những hạn chế, nhất là hạn chế trong phương pháp nghiên cứu (các tác giả chủ yếu vận dụng phương pháp lịch sử, phương pháp xã hội học). Tiếp tục nghiên cứu về văn học giai đoạn này khi đặt trên toàn bộ tiến trình văn học dân tộc với cái nhìn mới và vận dụng những phương pháp mới có thể kể đến các tác giả với các công trình: Trần Đình Hượu với Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại [28], Nguyễn Hữu Sơn với Văn học trung đại Việt Nam - quan niệm con người và tiến trình phát triển [58], Đoàn Thị Thu Vân cùng một số tác giả trong công trình tập thể: Văn học trung đại Việt Nam (thế kỷ X - cuối thế kỷ XIX) [70]… Với những công trình đó, các tác giả nghiên cứu đã đưa đến cái nhìn khái quát về lịch sử và tình hình văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, đồng thời giới thiệu một số tác giả tiêu biểu của văn học giai đoạn này. Trong cái nhìn khái quát và hệ thống về tình hình lịch sử, tình hình văn học và điểm lại những tác giả tiêu biểu của văn học giai đoạn này, các nhà nghiên cứu đã có nhắc tới phong trào Cần vương, nhắc tới những tác giả có đóng góp lớn cho khuynh hướng sáng tác chủ đạo của văn học lúc ấy khuynh hướng yêu nước chống Pháp, như: Nguyễn Đình Chiểu, Trương Định, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích, Phan Đình Phùng… Tuy nhiên, những công trình đó chỉ nghiên cứu trên tổng thể, trong cái nhìn khái quát nhất về những đặc điểm nổi bật và điểm tên những tác giả tiêu biểu trong suốt một chặng đường dài nửa thế kỷ. Còn việc nghiên cứu cụ thể hơn về một phong trào sáng tác nổi bật trong giai đoạn này - phong trào văn học Cần vương, và đi sâu vào khám phá giá trị tác phẩm của các tác giả thuộc phong 5 trào văn học này thì lại không nằm trong phạm vi của những công trình đó, hoặc nếu có thì cũng chỉ nghiên cứu riêng lẻ về cuộc đời, sự nghiệp của một vài tác giả như Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích (trong chương năm, chương sáu thuộc phần III của công trình: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX) [39]). . Trong lịch sử nghiên cứu về sáng tác của các nhà nho Cần vương, sáng tác của hai tác giả Nguyễn Xuân Ôn và Nguyễn Quang Bích được quan tâm, nghiên cứu nhiều hơn cả. Công trình khảo cứu do Đinh Xuân Lâm giới thiệu với sự tham gia của nhiều tác giả, dịch giả đã sớm ra mắt người đọc hai tập sách: Thơ văn Nguyễn Quang Bích [33], Thơ văn Nguyễn Xuân Ôn [34]. Những công trình này là sự khảo cứu khá toàn diện, khá đầy đủ về thân thế, cuộc đời chiến đấu, sự nghiệp sáng tác và nội dung tư tưởng trong sáng tác của các tác giả. Ngoài ra, có một vài bài viết về hai tác giả được đăng trên các trang báo địa phương, những bài viết trong các cuốn sách tổng kết về lịch sử, chủ yếu ca ngợi họ với tư cách là người anh hùng của quê hương, chẳng hạn: “Nhà văn thân yêu nước Nguyễn Xuân Ôn - ngọn cờ đầu của phong trào Cần vương Bắc Nghệ An cuối thế kỷ XIX” [36], “Cụ Nghè Ôn, giai thoại và truyền thuyết” [51], hoặc có đề cập đến một nét nào đó trong sáng tác của họ: “Tây Bắc trong thơ Nguyễn Quang Bích” (Trần Vân Hạc), “Cái buồn trong thơ Nguyễn Quang Bích” (Trần Đình Sử),… Với tác giả Phan Đình Phùng, các sáng tác của ông đã được lưu lại trong cuốn Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX [15], có nhiều bài viết ca ngợi ông đã được đăng tải trên các trang báo, các tạp chí: Phan Đình Phùng, cuộc đời và sự nghiệp [54], “Tấm lòng của Phan Đình Phùng rạng ngời như trăng sao” [69]... Các công trình nghiên cứu lớn về ông chủ yếu ở phương diện lịch sử, ở tư cách là một lãnh tụ yêu nước của phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX. 3.2. Lịch sử tìm hiểu, nghiên cứu tư tưởng trung nghĩa và con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX 6 Các công trình nghiên cứu về sáng tác của các nhà nho Cần vương chủ yếu đánh giá những giá trị chung về nội dung tư tưởng, hướng đến nội dung yêu nước trong văn học. Trong “Lời giới thiệu” của công trình nghiên cứu Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX [15], tác giả Trần Văn Giàu đã nói đến những tư tưởng chủ đạo trong sáng tác của thơ văn yêu nước giai đoạn này, trong đó có thơ văn của các tác giả Cần vương, đó là tư tưởng: “Việc nghĩa phải làm, không kể đến thành bại”[15; 24], “Tư tưởng trung quân: hình ảnh vua càng mờ xuống, vị trí dân càng lên cao” [15; 32]. Tuy nhiên, đây cũng mới chỉ là những đánh giá khái quát về vấn đề trung - nghĩa trong suốt cả giai đoạn cuối thế kỷ XIX chứ chưa phải là một công trình nghiên cứu về tư tưởng trung nghĩa và con người trung nghĩa giai đoạn này. Con người trung nghĩa có được nhắc tới như một hình tượng đẹp trong văn học nhưng còn chung chung và rải rác trong các công trình nghiên cứu về giai đoạn cuối cùng của thời kỳ văn học trung đại Việt Nam. Có thể nói, hình tượng con người trung nghĩa là một hình tượng đẹp, có giá trị trong văn học Cần vương, văn học yêu nước giai đoạn cuối thế kỷ XIX nói riêng và văn học trung đại nói chung. Đây vẫn là vấn đề cần phải được đi sâu nghiên cứu để thấy được trọn vẹn vẻ đẹp của con người Việt Nam trong quá khứ. Luận văn là công trình đi sâu nghiên cứu vấn đề này với tư cách như một vấn đề chuyên biệt và với cái nhìn hệ thống. 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4.1. Mục đích nghiên cứu Qua khảo sát, luận văn nhằm tìm và xác định những đặc điểm của mẫu hình con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX, khẳng định giá trị và ý nghĩa xã hội - thẩm mỹ của mẫu hình con người này. 4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 7 4.2.1. Đưa ra một cái nhìn chung về tư trào văn học Cần vương và sáng tác của các nhà nho Cần vương trong văn học nửa sau thế kỷ XIX. 4.2.2. Đi sâu khảo sát, phân tích, xác định những đặc điểm và ý nghĩa xã hội - thẩm mỹ của mẫu hình con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX. 4.2.3. Đi sâu khảo sát, phân tích, xác định nghệ thuật thể hiện hình tượng con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX. Cuối cùng rút ra một số kết luận về vai trò và đóng góp của các nhà nho Cần vương cho lịch sử văn học dân tộc. 5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có các phương pháp chính: phương pháp liên ngành, phương pháp thống kê phân loại, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh - loại hình, phương pháp cấu trúc - hệ thống… 6. Đóng góp và cấu trúc của luận văn 6.1. Đóng góp - Luận văn là công trình đi sâu tìm hiểu con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX với cái nhìn tập trung và hệ thống. - Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu và nghiên cứu sáng tác của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX. 6.2. Cấu trúc của luận văn Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương. Chương 1: Tổng quan về sáng tác của các nhà nho Cần vương trong văn học nửa sau thế kỷ XIX 8 Chương 2: Hình tượng con người trung nghĩa trong sáng tác của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX Chương 3: Phương thức thể hiện hình tượng con người trung nghĩa của các nhà nho Cần vương cuối thế kỷ XIX 9 Chương 1 TỔNG QUAN VỀ SÁNG TÁC CỦA CÁC NHÀ NHO CẦN VƯƠNG TRONG VĂN HỌC NỬA SAU THẾ KỶ XIX 1.1. Văn học nửa sau thế kỷ XIX trong lịch sử văn học dân tộc 1.1.1. Giai đoạn cuối cùng của văn học trung đại Việt Nam Văn học trung đại Việt Nam bắt đầu từ thế kỷ X và khép lại khi hết thế kỷ XIX (Văn học hiện đại được xem là từ đầu thế kỷ XX đến nay). Đấy là ý kiến chung, cơ bản là thống nhất của giới nghiên cứu. Xét riêng văn học trung đại - một thời kỳ - và cũng là một loại hình văn học với những đặc trưng riêng, lấy thể loại làm tiêu chí cơ bản, có thể chia thời kỳ văn học trung đại thành bốn giai đoạn: văn học thế kỷ X - XIV, văn học thế kỷ XV - XVII, văn học thế kỷ XVIII - giữa thế kỷ XIX, và văn học nửa sau thế kỷ XIX (1858 hết thế kỷ XIX). Vậy là, giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX là chặng đường cuối cùng của văn học trung đại Việt Nam. Mốc lịch sử của văn học giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX: bắt đầu từ sự kiện thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta (1858), và kết thúc khi thực dân Pháp hoàn thành công cuộc bình định, chuẩn bị cho công cuộc khai thác thuộc địa (1898). Mốc văn học: bắt đầu bằng thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu và kết thúc bằng thơ văn hiện thực trào phúng của Nguyễn Khuyến (Tam nguyên Yên Đổ) và Trần Tế Xương (Tú Xương). Văn học Việt Nam giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX có một vị trí rất đặc thù trong lịch sử văn học dân tộc. Mặc dù chỉ diễn ra trong nửa thế kỷ, khoảng thời gian ngắn ngủi so với một nghìn năm văn học trung đại nhưng đây là giai đoạn có nhiều sự kiện văn hóa, văn học quan trọng. Đây là giai đoạn cuối cùng của văn học trung đại, có vai trò khép lại một chặng đường dài suốt mười thế kỷ của thời kỳ văn học được sáng tác dưới sự chi phối của ý thức hệ 10 phong kiến và chuẩn bị một số điều kiện cho sự thay đổi phạm trù văn học diễn ra vào đầu thế kỷ XX. Văn học giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX có diện mạo, đặc điểm riêng... Nhà nho vẫn là lực lượng sáng tác chủ yếu của văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, vẫn là những nho sỹ mang ý thức hệ phong kiến, điểm khác trước là phần lớn họ xuất thân từ tầng lớp trung và dưới của xã hội. Họ vừa là những chủ thể sáng tạo văn học giai đoạn này vừa là nhân vật chính của lịch sử bởi họ được chứng kiến cuộc xung đột dữ dội của thời đại - cuộc đụng đầu lịch sử giữa chủ nghĩa thực dân Pháp và nhân dân Việt Nam. Họ có mối quan hệ khá chặt chẽ với nhân dân. Trước cuộc chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc, ngoại trừ một bộ phận ít ỏi làm tay sai cho giặc, còn hầu hết họ đứng về phía nhân dân chống thực dân xâm lược và bọn tay sai bán nước, nếm trải bi kịch của dân tộc, của thời đại. Công chúng văn học ở giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX vẫn là những người biết chữ Hán và chữ Nôm. Văn hóa phương Tây cùng với sự chi phối bởi quy luật đời sống của chủ nghĩa thực dân khi thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa ở Việt Nam đã khiến cho tâm lý của đám đông công chúng có sự thay đổi ít nhiều, tuy nhiên vẫn chưa tạo ra được một lớp công chúng mới. Về ngôn ngữ, văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX vẫn tồn tại hai thành phần chữ Hán và chữ Nôm. Có tác giả viết hoàn toàn bằng chữ Hán như Nguyễn Thông, Nguyễn Quang Bích, Miên Thẩm..., có tác giả vừa viết bằng chữ Hán, vừa viết bằng chữ Nôm như Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Khuyến, có tác giả lại viết chủ yếu bằng chữ Nôm như Nguyễn Đình Chiểu, Trần Tế Xương… Chữ quốc ngữ giai đoạn này được khích lệ dưới nhiều hình thức: báo chí, phiên âm, dịch thuật…, nhưng nhìn chung, chữ Quốc ngữ chủ yếu là công cụ để truyền bá đạo Gia tô hoặc được dùng để phiên âm một số tác phẩm chữ Nôm và chữ Hán ra chữ quốc ngữ chứ chưa có một nền văn học sáng tác 11 bằng chữ Quốc ngữ. Báo chí đã ra đời nhưng chỉ có tính chất công báo, nhằm phục vụ trực tiếp chính sách cai trị của thực dân Pháp chứ chưa có báo chí văn học. Ảnh hưởng của văn học nước ngoài đối với văn học giai đoạn này vẫn chủ yếu là văn học Trung Quốc như những giai đoạn trước chứ chưa phải ảnh hưởng của văn học phương Tây như giai đoạn từ đầu thế kỷ XX trở đi. Tuy nhiên, tính chất thời sự chi phối toàn bộ đời sống văn học và đã làm thay đổi diện mạo văn học. Vào thời điểm này, vấn đề mang tính thời sự, cấp bách nhất của đời sống cộng đồng không gì ngoài chuyện chiến - hòa, sinh tử, duy tân - thủ cựu. Văn học dù muốn dù không cũng bị cuốn hút vào vòng xoáy này. Và đương nhiên, những khuôn mẫu văn chương cũng phải biến đổi để kịp thích ứng với yêu cầu thực tế. Có thể khẳng định, trước kia chưa có một giai đoạn nào mà sự chuyển biến về chủ đề và đề tài trong văn học lại nhanh chóng và theo sát biến cố đến vậy. Tính chất quy phạm (xét ở phương diện đề tài, chủ đề) đã có những thay đổi đáng kể. Mặc dù mới nhìn thoáng qua, diện mạo văn chương vẫn như cũ song thực tế không phải vậy. Vẫn là câu chuyện về những con người yêu nước, con người trung nghĩa nhưng hoàn cảnh mà nhân vật nếm trải lúc này hoàn toàn khác so với những gì từng có trước đây; cũng là những nguyên lý đạo đức truyền thống nhưng cách biểu hiện đã khác, chẳng hạn chuyện chống lại mệnh vua, phỉ báng triều đình mà vẫn được coi là trung nghĩa…; hay nỗi u hoài, mặc cảm tội lỗi của một bộ phận đông đảo các nhà nho khi nhận ra sự lỗi thời của mình trước thời cuộc; hoặc sự xuất hiện của những người nghĩa dân anh hùng… là điều chưa từng có hoặc hiếm hoi trong lịch sử văn học nước ta. Ngay đến cả các vấn đề xã hội, các đối tượng mà văn chương trào phúng nhằm vào cũng khác: đa dạng, phong phú nhưng lại tập trung hơn so với những gì truyện tiếu lâm dân gian, truyện Trạng từng đề cập tới. Điều này chứng tỏ đã có sự đổi thay trong quan niệm nghệ thuật, trong thi pháp của các tác giả, chính những vấn đề nóng 12 bỏng của cuộc sống, của dân tộc đang diễn ra trước mắt khiến cho nhà văn phải có những điều chỉnh thích hợp. Về mặt hình thức nghệ thuật, phương pháp chính của văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX vẫn là phương pháp sáng tác truyền thống của văn học phong kiến những giai đoạn trước. Nhưng do yêu cầu phản ánh trung thực và gần gũi để động viên chiến đấu nên văn học đã vận dụng nhiều chất liệu hiện thực, mang sắc thái phê phán và ít nhiều đã phá vỡ những khuôn khổ của phương pháp sáng tác truyền thống, vươn lên một bước theo hướng chủ nghĩa hiện thực. Đặc biệt là với Trần Tế Xương, tác giả kết thúc giai đoạn này, đồng thời có thể coi là người có công chuẩn bị cho việc mở đầu giai đoạn kế tiếp, nhà thơ đã có nhiều đóng góp trong việc sáng tác với phương pháp mang đậm tính hiện thực, làm tiền đề cho sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực của thời kỳ sau. Trong bộ phận văn học chữ Hán, phong cách biểu hiện của thơ vẫn chưa có gì đổi mới, vẫn chưa thoát khỏi tính quy phạm với những công thức, ước lệ của văn học phong kiến. Riêng văn xuôi chữ Hán có phần khác trước, câu văn trong sáng, giản dị hơn, lập luận cũng chặt chẽ, lô gích hơn. Trong bộ phận văn học chữ Nôm, nghệ thuật biểu hiện một mặt kế thừa truyền thống, mặt khác có sự đổi mới đáng kể. Văn học giai đoạn này bớt lối diễn đạt chung chung, ước lệ, không cụ thể mà bám sát đời sống. Trong thơ hiện thực trào phúng nổi bật lên tính cụ thể, tính cá thể rõ nét, các nhà thơ dùng tiếng cười để xua tan mọi suy nghĩ siêu hình, tự biện. Cùng với lối biểu hiện có tính chất cá thể, cụ thể, thơ thời kỳ này còn xuất hiện cái tôi trữ tình, phong cách cá nhân khá rõ nét. Những đại từ ngôi thứ nhất số ít như tôi, tớ, anh, em, ông, mình,… đã thay thế cho ta hoặc một ẩn ngữ cùng loại. Điều này đã làm cho văn học giai đoạn này có tiếng nói riêng, vừa gần gũi vừa đại chúng. 13 Như vậy, với quãng thời gian nửa thế kỷ, giai đoạn văn học nửa sau thế kỷ XIX không chỉ tạo ra một diện mạo riêng, một sắc thái riêng mà còn giành được một vị trí rất đáng lưu ý trong toàn bộ tiến trình lịch sử văn học Việt Nam. Ở giai đoạn này, văn học một mặt vẫn đang trong phạm trù văn học trung đại, chưa thoát ra khỏi sự chi phối của tính quy phạm với những đặc thù về nội dung và hình thức, song đã bắt đầu xuất hiện những yếu tố mới mẻ làm tiền đề cho những bước phát triển đột phá trong giai đoạn kế tiếp. Sự biến động của lịch sử, xã hội là nguyên nhân chính tác động một cách sâu sắc đến đời sống văn học. Trên quan điểm vận động của lịch sử, có thể nói giai đoạn văn học nửa cuối thế kỷ XIX là giai đoạn cuối cùng, đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ văn học trung đại trong văn học Việt Nam, đồng thời đây cũng là giai đoạn chuẩn bị một số điều kiện cho sự thay đổi phạm trù văn học (từ trung đại sang hiện đại) diễn ra vào đầu thế kỷ XX. 1.1.2. Văn học hình thành và phát triển trong bối cảnh mới với nhiều sự kiện đặc biệt chi phối Biến cố quan trọng có tác động mạnh mẽ nhất đối với quá trình hình thành và phát triển của văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX chính là cuộc xâm lăng do thực dân Pháp phát động nhằm vào Việt Nam năm 1858. Biến cố này đã đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử dân tộc, kéo theo những xáo trộn, những thay đổi sâu sắc, toàn diện trên mọi lĩnh vực đời sống, trong đó có văn học. Thực ra, dã tâm thôn tính Việt Nam của thực dân Pháp đã manh nha từ những năm cuối của thế kỷ XVIII, khi chế độ phong kiến Việt Nam ngày càng đi sâu vào khủng hoảng, suy yếu nghiêm trọng. Tư bản phương Tây và Pháp nhòm ngó Việt Nam từ rất sớm, bằng con đường buôn bán và truyền đạo. Trong cuộc chạy đua xâm lược Việt Nam, Pháp tỏ ra tích cực hơn cả, chớp mọi cơ hội để can thiệp vào Việt Nam. Cuối thế kỷ XVIII, khi phong 14 trào nông dân Tây Sơn nổ ra, Nguyễn Ánh cầu cứu nước ngoài nhằm khôi phục lại quyền lực. Giám mục Bá Đa Lộc đã chớp cơ hội đó tạo điều kiện cho tư sản Pháp can thiệp vào Việt Nam bằng Hiệp ước Véc-xai năm 1787. Với Hiệp ước này, tư bản Pháp hứa sẽ giúp Nguyễn Ánh đánh lại nhà Tây Sơn, đổi lại, Pháp được sở hữu cảng Hội An, đảo Côn Lôn và được độc quyền buôn bán tại Việt Nam. Nhưng hiệp ước 1787 đã không được thực hiện bởi lẽ ngay sau đó, vào năm 1789, cách mạng Pháp bùng nổ, những biến động chính trị, những đổi thay trong nội bộ triều đình cùng những rắc rối trên phương diện đối ngoại với các nước lân bang… khiến chính quyền Pháp bỏ lỡ cơ hội can thiệp ngay vào Việt Nam. Thêm vào đó, chính cung cách ứng xử của các vua Nguyễn khá nhẫn nhịn, nhún nhường, không để người Pháp phật lòng cũng khiến Pháp trở nên chần chừ, phải mất thời gian kiếm cớ, chưa thể ra tay sớm hơn. Tuy nhiên, chúng vẫn không từ bỏ âm mưu của mình và âm mưu đó đã được coi là “quốc sách” để rồi hết chính phủ này đến chính phủ khác thay nhau theo đuổi. Năm 1858, lấy cớ triều đình nhà Nguyễn cự tuyệt bang giao và giết giáo sĩ, giáo dân, chính phủ Pháp quyết định dùng vũ lực để thực hiện tham vọng của mình. Chiều ngày 31 tháng 8 năm 1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha dàn trận trước cửa biển Đà Nẵng, dụng ý của Pháp là sau khi chiếm được Đà Nẵng sẽ tiến thẳng ra Huế, buộc triều đình Huế đầu hàng, bẻ gãy ý chí kháng chiến của đối phương. Sáng ngày 1 tháng 9 năm 1958, Pháp gửi tối hậu thư cho quan trấn thủ thành Đà Nẵng là Trần Hoàng hạn trong hai giờ đồng hồ phải trả lời. Chưa hết hai giờ hẹn, quân Pháp đã nổ súng dữ dội bắn phá các mục tiêu trên bờ, đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà, mở đầu cuộc xâm lược chính thức nước ta. Tiếng súng xâm lăng của quân Pháp đã thổi bùng ngọn lửa yêu nước trong nhân dân. Các lực lượng dân binh cùng nhân dân địa phương ra sức đào hào, đắp lũy phối hợp với quân của triều đình chặn đánh 15 tàu địch. Quan quân triều đình cùng với đội dân binh chỉ được trang bị bằng những thứ khí giới lạc hậu thời trung cổ đã khiến kẻ thù phải trả giá đắt. Trên thực tế, người Pháp đã thất bại tại trận đọ sức đầu tiên ở mặt trận Sơn Trà, kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của chúng bước đầu bị phá sản. Thành ra, sau năm tháng hành binh xâm lược và bị sa lầy ở đây, thực dân Pháp thay đổi kế hoạch, chúng chuyển hướng tấn công vào phía Nam, nơi mà theo tính toán của chúng, do xa xôi, cách trở với triều đình, lại ở chỗ đất rộng người thưa, có thể dễ dàng chiếm giữ. Những toan tính xảo quyệt của thực dân Pháp xem ra không phải không có căn cứ, khác với tình hình chiến sự tại mặt trận miền Trung, ở Nam Kỳ, quân Pháp không quá khó khăn trong việc phá vỡ thế trận phòng thủ của triều đình. Sau tám ngày chúng pháo kích các công sự bảo vệ con đường thủy vào Gia Định, chúng đã chiếm được thành Gia Định. Tuy nhiên, có một điều chúng không ngờ tới là là sự phản kháng quyết liệt của người dân địa phương. Trong khi các đồn lũy của triều đình nhanh chóng bị tan vỡ trước sức tấn công của đội quân xâm lược thì nhân dân lục tỉnh, dưới sự chỉ huy của những thủ lĩnh danh tiếng như Trương Định, Võ Duy Dương, Phan Trung, Nguyễn Trung Trực… vẫn kiên cường tiếp tục cuộc kháng chiến. Có thể nói, từ giữa thế kỷ XIX, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, miền Nam đã đi đầu trong toàn quốc, khí thế chiến đấu đã gây nên bao nỗi kinh hoàng cho đội quân viễn chinh. Phải trải qua khoảng thời gian gần bốn mươi năm, thực dân Pháp mới đặt được ách thống trị trên đất nước ta. Trong thời gian ấy, chúng đã lần lượt chiếm ba tỉnh miền Đông rồi ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Năm 1873, khi đã chiếm cứ được các vùng đất phương Nam, Pháp bắt đầu đánh rộng ra miền Bắc, rồi đánh Trung Kỳ. Thắng lợi của thực dân Pháp được đánh dấu bằng các hiệp ước và hàng ước (vào các năm 1862, 1864, 1867) mà triều Nguyễn
- Xem thêm -