Chất thơ trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng (Qua một số tác phẩm tiêu biểu)

  • Số trang: 139 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 88 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

0 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NGUYỄN KỲ QUYẾT CHẤT THƠ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG (QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU) LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN NGHỆ AN - 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NGUYỄN KỲ QUYẾT CHẤT THƠ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG (QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU) Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 60.22.01.21 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ THANH NGA NGHỆ AN - 2014 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU.............................................................................................................. 1. Lý do chọn đề tài........................................................................................... 2. Lịch sử vấn đề................................................................................................ 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát.................................................... 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................. 5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... Chương 1. CHẤT THƠ - MỘT YẾU TỐ QUAN TRỌNG LÀM NÊN SỨC HẤP DẪN TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG.......................... 1.1. Một số giới thuyết về chất thơ và hướng tiếp cận chất thơ....................... 1.1.1. Giới thuyết về chất thơ...................................................................... 1.1.2. Chất thơ như một nhu cầu thiết yếu của tiểu thuyết Việt Nam đương đại........................................................................................... 1.1.3. Những kiểu thể hiện chất thơ trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại.......................................................................................... 1.2. Ma Văn Kháng, tác giả có vị trí xứng đáng của tiểu thuyết Việt Nam đương đại......................................................................................................... 1.2.1. Vài nét về Ma Văn Kháng................................................................. 1.2.2. Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng......................................................... 1.2.3. Nhìn chung về chất thơ trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng........... Chương 2. CHẤT THƠ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG........................................ 2.1. Những đề tài, cảm hứng cơ bản làm nên chất thơ trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng.......................................................................................... 2.1.1. Đề tài “biên ải”.................................................................................. 2.1.2. Sự trở về quá khứ............................................................................... 2.1.3. Tìm đến các vấn đề da diết về thân phận con người.......................... 2.2. Chất thơ biểu hiện trong khát vọng đi tìm cái đẹp.................................... 2.2.1. Đi tìm cái đẹp trong dòng đời sinh hóa hồn nhiên............................. 2.2.2. Đi tìm cái đẹp trong những gập ghềnh, trắc trở của tình người......... 2.2.3. Đi tìm vẻ đẹp trong những khát vọng hiện sinh thầm kín mà thuần khiết, cường tráng và phồn thực............................................... 2.3. Chất thơ thể hiện trong cái nhìn mang tính bi kịch về kiếp người và thế giới............................................................................................................. 2.3.1. Bi kịch của con người lần tìm về quá khứ......................................... 2.3.2. Bi kịch của con người trong cái hỗn độn, hỗn mang của hiện tại ........................................................................................................... 2.3.3. Bi kịch của con người đối diện với chính mình................................. Chương 3. CHẤT THƠ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT.................................. 3.1. Chất thơ thể hiện trong “cấu tứ” tiểu thuyết............................................. 3.1.1. Giới thuyết về “tứ” và “tứ” trong tiểu thuyết..................................... 3.1.2. Kiểu “cấu tứ” theo sự dẫn dắt của các trạng thái tâm lí..................... 2.1.3. Kiểu “cấu tứ” theo sự dẫn dắt của dòng chảy đời sống sinh sôi, hồn nhiên........................................................................................... 3.2. Chất thơ biểu hiện trong ngôn ngữ............................................................ 3.2.1. Ngôn ngữ mang phong vị xa xôi........................................................ 3.2.2. Ngôn ngữ mang chiều sâu của suy tư và sắc màu văn hóa.............. 3.2.3. Ngôn ngữ chiều sâu nội tâm............................................................ 3.3. Chất thơ biểu hiện trong giọng điệu........................................................ 3.3.1. Giọng triết lí, thâm trầm.................................................................. 3.3.2. Giọng trữ tình sâu lắng.................................................................... 3.3.3. Giọng đằm thắm, xót xa................................................................... KẾT LUẬN...................................................................................................... TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH................................................................ 1 2 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Ma Văn Kháng là một nhà văn có nhiều đóng góp cho văn học Việt Nam hiện đại. Bắt đầu sự nghiệp cầm bút từ những năm 60 của thế kỷ trước, đến nay gia tài tác phẩm của Ma Văn Kháng khiến người đọc phải kính nể: 25 tập truyện với hơn 200 truyện ngắn, ngót 20 tiểu thuyết, 1 tiểu luận, 1 hồi ký - tự truyện. Nghiên cứu tiểu thuyết Ma Văn Kháng là góp phần nhận diện giá trị sáng tác của tác giả này. 1.2. Có thể thấy trong sáng tác nói chung và trong tiểu thuyết nói riêng của Ma Văn Kháng, bút pháp trữ tình giàu chất thơ xen lẫn với bút pháp thế sự đậm chất hiện thực sâu sắc. Trong đó, bút pháp trữ tình giàu chất thơ nổi lên như một điểm nhấn quan trọng làm nên phong cách vừa thâm sâu mà tài hoa của nhà văn. Nghiên cứu chất thơ trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng là góp phần khẳng định giá trị tiểu thuyết của ông. 1.3. Không chỉ có ý nghĩa đối với riêng tiểu thuyết hay các sáng tác của Ma Văn Kháng, mà chất thơ đã trở thành một biểu hiện phổ biến góp phần làm nên diện mạo của đối với văn xuôi và tiểu thuyết Việt Nam sau 1975. Nghiên cứu chất thơ trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng sẽ góp phần hiểu thêm về văn xuôi, về tiểu thuyết giai đoạn này. 1.4. Các nghiên cứu về các tác phẩm của Ma Văn Kháng có số lượng khá nhiều trên nhiều phương diện từ nội dung đến hình thức nghệ thuật. Tuy nhiên, nội dung vấn đề chất thơ trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng hiện nay vẫn còn đang bỏ ngỏ. Đây chính là lý do khiến chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài này. 2. Lịch sử vấn đề Nhà văn Ma Văn Kháng có số lượng tác phẩm khá lớn, nguồn cảm hứng sáng tác đa dạng. Hình thức thể hiện trong các tác phẩm của ông chưa phải là hiện tượng đổi mới văn học một cách toàn diện, sâu sắc nhưng không phải vì thế 3 mà các vấn đề đặt ra trong các sáng tác của nhà văn không gây sự chú ý, tranh luận của giới nghiên cứu và phê bình văn học. Lâu nay, đã có nhiều công trình, nhiều luận văn Thạc sĩ, Tiến sĩ, nhiều chuyên luận, nhiều bài báo nghiên cứu công phu và có những nhận định khá sâu sắc về các tác phẩm của nhà văn. Các công trình đó tập trung nhiều vào các phương diện như: kiểu nhân vật, sự làm mới nghệ thuật tiểu thuyết, giọng điệu trong truyện ngắn,… Có thể kể ra đây một số nghiên cứu tiểu biểu như: Thành công đầu tiên của Ma Văn Kháng về tiểu thuyết là Đồng bạc trắng hoa xòe. Khi đánh giá về tác phẩm này Trần Đăng Suyền cho rằng: “Ma Văn Kháng, bằng hình tượng nghệ thuật, đã chứng minh rằng đồng bào các dân tộc ít người, dù bị chìm đắm trong đau khổ, tăm tối nhưng đều có mầm sống, khả năng cách mạng” [100; 13]. Tác giả này cũng đã chỉ ra một số điểm thiếu sót của tiểu thuyết: “Nhiều nhân vật trong Đồng bạc trắng hoa xòe có hiện tượng hành động lấn át tâm lý. Cái mà ai gọi khám phá con người trong con người, là phép biện chứng tâm hồn, anh chưa làm được bao nhiêu” [100; 14,15]. Đánh giá thành công của tiểu thuyết này, tác giả Nghiêm Đa Văn nhận xét: “Ma Văn Kháng đã dựng lại Đồng bạc trắng hoa xòe bức tranh toàn cảnh xã hội và phong tục đặc biệt bằng hình tượng sinh động cụ thể. Điều này hiếm thấy trong các tác phẩm viết về vùng cao... Đồng bạc trắng hoa xòe là cái mốc bên đường đánh dấu sự vươn lên của ông từ thể loại nhỏ đến quy mô có tầm sử thi” [92]. Đồng bạc trắng hoa xòe có nguồn tư liệu khá phong phú và dồi dào, lượng nhân vật phân chia làm hai chiến tuyến rõ ràng, khi nói về vấn đề này Lã Nguyên nhận định: “Nhân vật Ma Văn Kháng dù phức tạp đến đâu, có những biểu hiện phong phú như thế nào, sau khi tiếp xúc ta có thể nhận diện được ngay nhân vật ấy thuộc hạng người nào, cao thượng hay đê tiện, độc ác, nhân từ, ích kỷ hay hảo tâm” [30; 5] Dù chưa được đánh giá cao về nghệ thuật nhưng ở mức độ nào đó, về mặt bút pháp tác phẩm cũng đã tạo nên một sức hấp dẫn đối với người đọc, nhà nghiên cứu Hoàng Tiến đánh giá: “Bút pháp trong Đồng bạc 4 trắng hoa xòe thường dùng theo lối vẽ long trong mây. Con rồng đẹp cứ giấu mình trong mây chỉ hiện ra những khúc lượn vàng son có hạn, nhưng cho người xem vẫn nhận được đủ cái vóc dáng mạnh mẽ, thanh thoát của toàn bộ con rồng, lối “uống rượu sớm mai”. Độ rượu đủ để ngay ngất, quá nửa là say, dưới một chút coi như chưa uống. Biết dừng lại để gây ngây ngất mới là người biết uống rượu” [92]. Tiểu thuyết Vùng biên ải sự nối tiếp của Đồng bạc trắng hoa xòe đã có ý nghĩa khẳng định thêm tài năng tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, tác giả Đỗ Ngọc Thạch nhận định Vùng biên ải đã xây dựng: “Số lượng khá lớn tuyến nhân vật chính diện và nhân vật quần chúng...trường hấp dẫn của tác phẩm không phải ở sự kiện mà ở chiều sâu tâm lý nhân vật [77]. Cùng viết về đề tài miền núi nhưng Gặp gỡ ở La Pan Tẩn ra đời muộn hơn so với các cuốn trên kia. Tuy nhiên, xét về bình diện hình thức thì cuốn này xuất sắc hơn. Nhà phê bình văn học Trần Tế có nhận xét: “Toàn bộ những vấn đề phức tạp ở vùng cao, không riêng gì giáo dục đã được ngòi bút Ma Văn Kháng mô tả tỉ mỉ, sinh động... Yếu tố ảo bay bổng, lãng mạn đan xen trong hiện thực xô bồ phức nhiễu đã làm cho mạch truyện thêm uyển chuyển, hấp dẫn” [91; 69]. Đồng bạc trắng hoa xòe, Vùng biên ải, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn. Tác giả Nguyễn Ngọc Thiện khi nghiên cứu đã nhận định bộ ba tiểu thuyết này là: “Bức tranh đời sống hiện thực mang tính chất sử thi về con đường của các dân tộc miền núi phía Bắc làm cuộc đổi đời, đi theo cách mạng và phát huy được phẩm cách của mình”. Và bộ ba tiểu thuyết về miền núi này đã: “Tạo thành một chùm tiểu thuyết độc đáo làm sáng lên bức tranh lịch sử xã hội hào hùng, bi tráng của một vùng núi phía Bắc nước ta trọn một thế kỷ” [88]. Mưa mùa hạ là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Ma Văn Kháng về đề tài thành thị, khi đánh giá về tác phẩm này, Vân Thanh cho rằng Ma Văn Kháng: “Đã thể hiện cách nhìn, thái độ của các nhân vật trước những hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Lương tâm, lẽ sống của mỗi người đều bị thử thách... trước lưới 5 bủa vây của tệ nạn tiêu cực, trong vòng bức bách của vấn đề cơm áo hàng ngày có khi những quan niệm đạo lý thông thường bị xáo trộn, gây nên sự hoài nghi, phân vân ở mỗi người” [82; 87]. Trần Đăng Suyền nhận định: “Nhiều trang viết của tác giả đã gieo vào lòng người đọc lòng thương cảm đối với những người chân chính và thái độ căm phẫn đối với những kẻ bất lương. Không khí tác phẩm có lúc ngột ngạt như trước cơn mưa mùa hạ. Cái không khí ấy gây nên những suy nghĩ trong tâm trí người đọc” [99; 68]. Mùa lá rụng trong vườn đánh đấu bước chuyển biến mới trong nghệ thuật tiểu thuyết và cảm hứng sáng tác của Ma Văn Kháng. Nhiều vấn đề xã hội, con người, nhất là các vấn đề của đời sống thành thị được đặt ra nóng bỏng với câu chuyện về mối quan hệ giữa con người với môi trường sống, giữa lý tưởng cao cả với đời sống thực dụng tầm thường của một bộ phận người trong xã hội, sự thách thức bản lĩnh và nhân cách của con người khi đối diện với chính mình và xã hội: “Có thể xem Mùa lá rụng trong vườn là một tiếng nói của tác giả trước hiện thực hôm nay. Một tiếng nói quan hệ giữa cá nhân, gia đình và xã hội, về trách nhiệm của mỗi người đối với cuộc sống và cuộc sống dành cho mỗi người... tác phẩm đã khơi được vào dòng chảy của cuộc sống chúng ta hôm nay, đã lẩy ra được một mảng tươi nguyên của cuộc sống đó, gợi cho ta biết bao suy nghĩ về nó, lo lắng, băn khoăn về nó, và cũng hy vọng, tin yêu ở nó. Từ đó đặt ra cho mỗi chúng ta một thái độ sống, một trách nhiệm sống” [83]. Nhà văn Bùi Hiển, đã chỉ rõ: “Ma Văn Kháng thẳng thắn, mạnh bạo đề cập đến một số vấn đề xã hội đang đặt ra trong một gia đình” [15]. Và Bùi Hiển cũng đã đánh giá thái độ của Ma Văn Kháng trước các hiện tượng xã hội đặt ra trong tiểu thuyết: “Ngòi bút của tác giả phanh phui một cách vừa tỉnh táo vừa da diết quá trình sa đọa tư tưởng, nhân cách và lối sống của một vài trường hợp điển hình, đồng thời bày tỏ niềm tin tưởng, ưu ái đối với những con người trung thực, thẳng thắn và giữ được lý tưởng cao đẹp xã hội, truyền thống dân tộc thuần hậu, vững bền” [15]. Mùa lá rụng trong vườn không những thể hiện được những mặt trái của nền kinh tế thị trường ảnh hưởng mạnh tới tư tưởng, tình cảm và nhân cách của 6 con người. Bên cạnh đó, tiểu thuyết này cũng dự báo về tương lai và những thách thức số phận của cá nhân trong môi trường xã hội mới, trong mối quan hệ với gia đình. Tác giả Trần Bảo Hưng qua bài viết Mùa lá rụng trong vườn và những vấn đề của cuộc sống hôm nay cho rằng: “Qua Mùa lá rụng trong vườn Ma Văn Kháng muốn đề cập hai vấn đề lớn: truyền thống văn hóa dân tộc và truyền thống nếp sống của gia đình Việt Nam cùng sự đổi mới và thích ứng với xã hội mới. Giữ vững tất cả sẽ không tránh khỏi sự đổ vỡ, sứt mẻ nhưng muốn thoát ly truyền thống, phá vỡ tất cả sẽ dẫn đến bi kịch” [18]. Tiếp tục mạch cảm hứng về đề tài thành thị, Ma Văn Kháng cho ra đời tiểu thuyết mang tính luận đề Đám cưới không có giấy giá thú, cuốn sách đánh dấu những đổi mới và đóng góp của tác giả ở mảng tiểu thuyết. Khi mới ra đời cuốn sách đã nhận được không ít sự ngợi ca lẫn phê phán. Tác phẩm đề cập đến thân phận của người trí thức trong xã hội Việt Nam những năm đầu Đổi mới, tại một môi trường giáo dục. Nhưng những gì gọi là tài năng, nhân cách đều bị phủ nhận, bị chèn ép và bị coi thường. Môi trường giáo dục không trong sạch đã đẩy biết bao số phận trí thức vào bi kịch. Tuy đề cấp đến một phạm vi không lớn lắm nhưng tác phẩm lại có tính điển hình hóa cao độ cho chính ngành giáo dục. Phan Cự Đệ đánh giá: “Tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú, nhà văn Ma Văn Kháng đã phản ánh được cái bi kịch của một nhà giáo, một trí thức: anh ta lúc thì đóng vai một hiền triết, một nhân cách cao cả và thánh thiện nhưng lại bị ném vào một môi trường mà các giá trị tinh thần đang bị đảo lộn, một môi trường bị ô nhiễm, bị băng hoại về đạo đức và nhân phẩm” [66]. Nhà nghiên cứu cũng đã nhận xét khá thực tế các vấn đề đặt ra trong cuốn tiểu thuyết này: “Đám cưới không có giấy giá thú đã nói về cái bi kịch vỡ mộng của một bữa tiệc dang dở, một đám cưới không thành, một cuốn sách hay để lầm chỗ đó một cách tâm huyết, với tất cả suy nghĩ, trăn trở, niềm khát vọng và nỗi đau của một nhà văn trước thời cuộc, trước tình trạng xuống cấp về trình độ tư duy và phẩm chất đạo đức ngay trong một số người tự cho mình là cán bộ lãnh đạo, là trí thức hoặc kỹ 7 sư tâm hồn” [66]. Hà Minh Đức khi đánh giá về tác phẩm Đám cưới không có giấy giá thú đã bàn nhiều về những đóng góp, đổi mới thể loại tiểu thuyết: “Ma Văn Kháng đã là một trong những tác giả đổi mới đầu tiên trong văn xuôi, viết về nhà trường nhưng thực ra ông muốn đề cập đến một vấn đề xã hội rộng lớn hơn. Nhiều trang viết về người thầy giáo thật xúc động. Anh nêu lên một thực trạng đáng buồn, đáng giận ấy với tinh thần trách nhiệm và rất tâm huyết để bảo vệ cái tốt đẹp” [66]. Côi cút giữa cảnh đời là tác phẩm Ma Văn Kháng dành nhiều tâm huyết trong đó tình người được tác giả đặt ra một cách bức thiết, khi bàn về cuốn tiểu thuyết này Phong Lê nhận định: “Cuốn sách của Ma Văn Kháng đã vục vào cái thực sự tối tăm oan khổ đó như nhiều cuốn sách khác. Nó thật lạ, anh lại đưa con người vào quỹ đạo những tình cảm nhân hậu tốt lành. Có thể nói, đó là hiệu quả thanh lọc tẩy rửa. Cái hiệu quả thanh lọc này vốn dành cho nghệ thuật và dường như cũng chỉ có nghệ thuật đích thực, nghệ thuật cao hơn cuộc đời mới có thể làm nổi” [56], “Côi cút giữa cảnh đời đối với tôi, đó là một cuốn sách đọc không thôi cảm động và đầy ấn tượng. Trên hai trăm trang sách, đọc một thôi, không có gì khúc mắc, tất cả đều dễ hiểu tưởng như không có nghệ thuật... ấy vậy mà đó mới là hoặc vẫn là nghệ thuật đích thực” [56]. Đánh giá chung tiểu thuyết của Ma Văn Kháng khi chuyển cảm hứng viết về đề tài thành thị, Nguyễn Ngọc Thiện cho rằng: “Đã đạt đến trình độ điêu luyện trong ngôn ngữ kể và tả, đối thoại và độc thoại, giọng điệu linh hoạt, khi gấp gáp, sôi nổi, cuồn cuộn, tung phá, lúc lại thong thả, mềm mại, đằm thắm, hiền hòa đã trở thành một thực thể sống động có sức sống mạnh mẽ” [87]. Sự chuyển biến trong cảm hứng song song với cách viết của Ma Văn Kháng thể hiện rõ nét trên tất cả các phương diện nghệ thuật. Nhiều tác giả cho rằng sự chuyển biến rõ nhất là việc xây dựng hình tượng nhân vật, họ là những thực thể tồn tại trong xã hội có quan hệ mật thiết với môi trường xã hội và phức tạp hơn, tính đa diện được chú ý nhiều hơn. Đồng nhất với quan điểm này, Nguyễn Thị 8 Huệ nhận định: “Phong phú, đa dạng hơn, phức tạp hơn không chỉ có công nông binh mà còn có tầng lớp thị dân, đặc biệt là nhân vật trí thức đã như một ám ảnh khôn nguôi, một trăn trở day dứt, một ma lực có sức thu hút lớn đối với ngòi bút Ma Văn Kháng” [25]. Ở giai đoạn sáng tác thứ hai của Ma Văn Kháng, mặc dù một số tác phẩm nặng tính chất triết luận, luận đề nhưng không vì thế mà tiểu thuyết của ông thiếu đi chất thơ và chất trữ tình, nghiên cứu nội dung này Hồ Anh Thái đã có nhận định khá xác đáng: “Những trang hay nhất đều là trữ tình: Khiêm đi về trung du giữa mùa lũ, Hoan lên miền ngược tới vùng trồng thuốc phiện... Anh cứ tách được nhân vật ra khỏi cái không khí văn phòng đầy thịnh nộ thì bản thân anh như cũng linh hoạt, phơi phới hẳn lên” [79]. Trên phương diện nghiên cứu tổng thể sáng tác tiểu thuyết của Ma Văn Kháng còn khá nhiều công trình có thể điểm qua như bài viết “Trữ lượng Ma Văn Kháng” đăng trên báo Văn nghệ, số 20, 21 tháng 05 năm 2005. Đây là công trình có cái nhìn khá toàn diện về sáng tác và con người Ma Văn Kháng lý giải trên nhiều phương diện, đặc biệt là sự tác động sâu sắc của môi trường bên ngoài đến vận mệnh người trí thức; nét độc đáo trong sáng tác của Ma Văn Kháng đặc biệt là thế giới nhân vật; bài “Tư duy mới về nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng những năm 80” của Nguyễn Thị Huệ, tập trung nghiên cứu tổng quan sáng tác của Ma Văn Kháng và phát hiện ra sự chuyển dịch từ cái nhìn sử thi đến cái nhìn tiểu thuyết ứng với hai mảng đề tài; Luận văn Thạc sĩ Sáng tác của Ma Văn Kháng từ đầu thập kỷ 80 lại nay của Hoàng Thị Thúy khảo sát cả tiểu thuyết và truyện ngắn, trong đó chủ yếu tập trung nghiên cứu cảm hứng đạo đức, thế sự, đời tư trên phương diện bi kịch và khát vọng hạnh phúc tự nhiên của con người; Luận văn Thạc sĩ Những nhân vật trí thức với sự đổi mới tư duy nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết sau năm 1980 của Đỗ Phương Thảo, chú ý vào việc đổi mới tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của nhà văn; tác giả Dương Thị Hồng Liên với Luận văn Thạc sĩ Nghệ thuật tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới tìm hiểu những nét mới trên phương diện nghệ thuật cũng 9 như cái nhìn toàn vẹn về quá trình vận động trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng; Luận văn Thạc sĩ Cảm hứng nghệ thuật gắn với nhân vật trong tiểu thuyết về đề tài dân tộc - miền núi của Ma Văn Kháng của Dương Thị Thanh Hương, đã chỉ rõ những thành công của Ma Văn Kháng về đề tài miền núi; Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh Mai Những chuyển biến trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới nghiên cứu sự vận động và chuyển đổi cảm hứng và hình thức trong sáng tác của Ma Văn Kháng ở hai giai đoạn khác nhau; Lê Thị Thao với Luận văn Thạc sĩ Đặc điểm tiểu thuyết Ma Văn Kháng, nghiên cứu tổng quan tiểu thuyết của Ma Văn Kháng cả hai mảng đề tài với những đặc điểm khá quan trọng làm nên diện mạo và đóng góp của nhà văn cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại; Luận văn Thạc sĩ Cảm hứng bi kịch nhân văn trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng của Bùi Thanh Hương, chỉ ra bi kịch của con người thời kỳ sau giải phóng, là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với số phận con người trong thời hiện đại. Tập hợp các nghiên cứu sáng tác nói chung và tiểu thuyết nói riêng của Ma Văn Kháng đã phần nào tái hiện được diện mạo, đặc điểm sáng tác của nhà văn. Song, nhìn chung, các nghiên cứu vẫn còn thiếu tính hệ thống, toàn diện, nhất là với vấn đề chất thơ trong tiểu thuyết của nhà văn. Vì thế, điểm qua các nghiên cứu đề giúp tác giả có cái nhìn khách quan hơn về sáng tác của Ma Văn Kháng. Đây cũng là tài liệu tham khảo quý giá đối với chúng tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này. 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài này được xác định là chất thơ trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng 3.2. Phạm vi khảo sát Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tập trung khảo sát các tiểu thuyết sau: - Đồng bạc trắng hoa xoè (1980) - Mưa mùa hạ (1982) 10 - Vùng biên ải (1983) - Mùa lá rụng trong vườn (1985) - Đám cưới không có giấy giá thú (1989) - Côi cút giữa cảnh đời (1989) - Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (2001) - Một mình một ngựa (2009) Ngoài ra chúng tôi khảo sát thêm các tiểu thuyết khác của nhà văn. 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4.1. Lí giải khái niệm chất thơ, vai trò của chất thơ trong tiểu thuyết và một tổng quan về chất thơ trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng. 4.2. Tìm hiểu chất thơ trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trên các phương diện đề tài, cảm hứng sáng tạo. 4.3. Chỉ ra chất thơ trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trên các phương diện kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu. 5. Phương pháp nghiên cứu Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng các phương pháp: phương pháp thống kê, khảo sát, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh. 6. Cấu trúc của luận văn Tương ứng với mục đích, nhiệm vụ đã đề ra, ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia làm 3 chương: Chương 1. Chất thơ - một yếu tố quan trọng làm nên sức hấp dẫn tiểu thuyết của Ma Văn Kháng Chương 2. Chất thơ trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng nhìn từ phương diện nội dung Chương 3. Chất thơ trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng nhìn từ phương diện hình thức 11 Chương 1 CHẤT THƠ - MỘT YẾU TỐ QUAN TRỌNG LÀM NÊN SỨC HẤP DẪN TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG 1.1. Một số giới thuyết về chất thơ và hướng tiếp cận chất thơ 1.1.1. Giới thuyết về chất thơ Tiểu thuyết ra đời sớm ở Châu Âu. Qua các thời kỳ, thể loại này ngày càng có bước phát triển mạnh. Tiểu thuyết được xem là: “Tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian. Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [13; 268]. Tiểu thuyết với khả năng thẩm thấu và tổng hợp các loại hình nghệ thuật là một quy luật tất yếu không những trong quá khứ mà còn tiếp diễn trong hiện tại. Vậy, tiểu thuyết có những đặc trưng nào? M. Bakhtin cho rằng tiểu thuyết có ba đặc điểm khác với các thể loại văn học khác đó là: “Tính ba chiều có ý nghĩa phong cách học của tiểu thuyết, gắn liền với ý thức đa ngữ được thể hiện trong tiểu thuyết; sự thay đổi cơ bản các tọa độ thời gian của hình tượng văn học trong tiểu thuyết; khu vực mới, nơi xây dựng hình tượng văn chương tiểu thuyết, chính là khu vực tiếp xúc tối đa với hiện tại” [2; 33]. M. Bakhtin nhấn mạnh đến tính chất độc lập của các hình tượng nghệ thuật được xây dựng, tính đa thanh, phức điệu trong tiểu thuyết, nhưng quan trọng và khác với các thể loại khác, tiểu thuyết gần với cuộc sống, phản ánh sát với những chuyển biến hiện tại. Như trên đã phân tích thì khả năng tổng hợp của tiểu thuyết là một tất yếu trong sự phát triển của lịch sử thể loại, bởi sự vận động của hình thức văn học nào cũng dần đi đến ổn định phát triển và kết thúc, khuynh hướng đó trở thành một quy luật tất yếu, diễn ra cả một quá trong lâu dài và mang theo những đặc trưng thẩm mỹ khác biệt của thể loại nhưng cơ bản có thể nhận thấy các trường 12 hợp sau: nội dung các thể loại khác nhau được viết với hình thức thể loại khác; sự kết hợp của các thể loại tạo thành một thể loại mới; các đặc trưng của thể loại này xuất hiện trong thể loại khác. Khả năng tổng hợp cao của tiểu thuyết cho phép kết hợp một cách tự nhiên, hài hòa các yếu tố khác để làm cho tiểu thuyết không khô cứng, đông đặc mà mềm mại, uyển chuyển hơn trong tiến trình phát triển của nó. Đó còn là khả năng trữ tình hóa, yếu tố chất thơ đan cài trong chất văn xuôi tạo nên những sắc màu thẩm mỹ mới đem đến cho tiểu thuyết khả năng tiếp cận cuộc sống được phong phú và đa dạng hơn, khả năng uyển chuyển khi xây dựng hình tượng và tính dân chủ của thể loại này, theo Phan Cự Đệ: “Trong tiểu thuyết các màu sắc thẩm mỹ pha trộn, đan chéo nhau, chuyển hóa lẫn nhau, có khi trong một yếu tố tự sự có pha lẫn cái cao cả và cái thấp hèn, cái đẹp và cái xấu, chất thơ và chất văn xuôi” [8,409]. Như vậy, có thể thấy rằng trong quá trình phát triển các phương thức biểu hiện đời sống, thông qua thể loại có sự giao thoa, pha trộn, thẩm thấu vào nhau tạo nên hiện tượng có tính quy luật trong sự phản ánh của văn chương thẩm mỹ. Chất thơ trong tiểu thuyết nói riêng và trong các thể loại văn học khác nói chung không nằm ngoài vấn đề đã nêu trên. Trước hết nói về: “Chất văn xuôi, tức là một sự tái hiện cuộc sống không thi vị hóa, lãng mạn hóa, lý tưởng hóa. Miêu tả thực tại cuộc sống như một thực tại cùng thời, đang sinh thành” [13; 269], không đồng nghĩa sự lãng mạn, lý tưởng hóa sẽ làm giảm chất văn xuôi, những yếu tố này vốn có trong các thể loại trong quá khứ, các tác phẩm bám sát diễn biến thực tại, tập trung khám phá chiều sâu của sự sống trong lăng kính đa chiều, chất văn xuôi là một thành tố quan trọng làm nên diện mạo của tiểu thuyết hiện đại. Nói như thế không có nghĩa là những cái gì có trong cuộc sống được đưa vào tiểu thuyết đều có “chất văn xuôi”. Tiểu thuyết, xét dưới tính đặc trưng của thể loại thì chất văn xuôi được đề cao, là yếu tố quan trọng hàng đầu làm nên diện mạo của thể loại này trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, chất thơ xuất hiện trong tiểu thuyết làm nên sức hấp dẫn của thể loại này 13 không chỉ đem đến cho người đọc mỹ cảm mà còn là cách hình dung thế giới đối với người đọc. Chất thơ là khái niệm còn nhiều quan điểm khác nhau, Đỗ Lai Thúy cho rằng: “Chất thơ trước hết theo nghĩa rộng gắn với cái đẹp. Cái đẹp có thể là do tự nhiên mang lại, hoặc cũng có thể tạo ra từ những tình cảm, hành động của con người như sự nhớ nhung, sự uyển chuyển của các điệu múa” [93], ý kiến trên nhấn mạnh đến yếu tố tự nhiên tạo nên chất thơ, yếu tố đó góp phần đem lại hiệu ứng khoái cảm thẩm mỹ cho người đọc hoặc xuất phát từ tình cảm của con người những tình cảm dễ gây sự xúc cảm thẩm mỹ, những rung động, đồng cảm của người với người. Nhưng chưa bao quát hết các cấp độ khác của yếu tố chất thơ như tính loại hình, cảm hứng, sắc điệu thẩm mỹ mà chỉ mới chú ý đến biểu hiện của chất thơ trong văn xuôi. Đồng quan điểm đó, Văn Giá nhận định: “Chất thơ lại thể hiện trong những mơ mộng, cảm xúc nội tâm hoặc trong cả những chất liệu huyền thoại được nhà văn công khai sử dụng” [12]. Ở đây tác giả đề cao cảm hứng sáng tạo của người viết và hình thức người sáng tạo sử dụng để kiến tạo nên hình tượng để lại những ấn tượng cảm xúc trong lòng người đọc. Từ điển Thuật ngữ văn học định nghĩa: “Chất thơ chỉ những sáng tác văn học (bằng văn xuôi hoặc văn vần) giàu cảm xúc, nội dung cô đọng, ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp điệu. Lý tưởng và khát vọng thẩm mỹ của đông đảo nhân dân, chủ nghĩa nhân đạo và những biểu hiện lịch sử của nó là tiêu chuẩn khách quan cho chất thơ chân chính ở mỗi thời đại” [13; 254]. Định nghĩa đã nhấn mạnh đến đặc trưng tính trữ tình của thơ: giàu cảm xúc và nội dung cô đọng. Động lực khiến nhà văn khi xây dựng hình tượng là sự thôi thúc khát vọng muốn vươn tới cái đẹp, những giá trị cao cả mà bản thân các tác phẩm, thể loại khác chuyển tải không hết được thông điệp cuộc sống. Cuối cùng, yếu tố thiên bẩm trong mỗi nhà văn muốn hướng đến giá trị chân thiện mỹ. Đây là khái niệm có khả năng bao quát được nội dung chất thơ trong tiểu thuyết. Nói đến chất thơ người ta xét biểu hiện của nó trên các phương diện như: loại hình, mỹ học, cảm 14 hứng và trong hình thức nghệ thuật. Trên phương diện loại hình, chất thơ mang đặc trưng của thể loại trữ tình, phân biệt với các thể loại tự sự và kịch căn bản dựa trên phương thức phản ánh đời sống của chúng. Trong đó thơ thuộc vào thể loại trữ tình, dù phản ánh sự vật hiện tượng ngay trong bản thân nội tại hay thẩm thấu đều mang vai trò của một hình thức giao thoa thể loại thì căn bản nó vẫn mang đặc trưng của loại hình trữ tình. Nói đến nội dung này tức là đề cập đến cách thức biểu hiện tư tưởng tình cảm riêng mang tính đặc thù của thơ. Bên cạnh đó, thơ còn thể hiện sự hàm súc, cô đọng, ngôn ngữ giàu nhịp điệu. Chất thơ chỉ có thể được biểu hiện và bộc lộ phẩm chất thẩm mỹ mang tính loại hình khi bản thân đối tượng hàm chứa vẻ đẹp dựa trên sự phản ánh, cách thức giải thích thế giới giàu ý nghĩa xã hội. Trên phương diện mỹ học, thơ kết tinh cái đẹp của cảm xúc đem lại cho con người những xúc cảm nên thơ, nhà thơ người chắt lọc cuộc sống qua lăng kính chủ quan của mình đem lại cho thơ vẻ đẹp nhân văn cao cả, hiện lên vẻ đẹp của tình người và cuộc sống. Thơ dù miêu cả các phương diện khác nhau trong cuộc sống thì phải được rọi soi từ phương diện của cái đẹp mang tính lý tưởng thẩm mỹ. Nhiều học giả khẳng định tính chất lý tưởng, cái đẹp biểu hiện trong thơ ca với chức năng và vai trò to lớn với sự phát triển của con người, thơ là cái đẹp duy nhất giàu tính mỹ học có khả năng cứu rỗi thế giới: “Thứ duy nhất có thể cứu được thế giới đó là phục hồi nhận thức của thế giới. Đó là công việc của thi ca” (Allen Ginsberg). Nêu cao tầm quan trọng của thơ ca khả năng cảm hóa con người, nuôi dưỡng đời sống tâm hồn con người George Sand cho rằng: “Người tìm được niềm vui sướng cao quý từ những cảm xúc của thi ca là thi nhân thực thụ, cho dù anh ta không viết được dòng thơ nào trong cả cuộc đời” . Không những trên phương diện cảm xúc và nhận thức, Bôđơle còn quan niệm thơ ca là: “Ước mong của con người vươn tới cái đẹp cao thượng”,… Trên phương diện cảm hứng sáng tác, chất thơ biểu hiện trên cả phương diện đề tài, cảm hứng và tư tưởng thẩm mỹ bao trùm lên hình tượng nghệ thuật. 15 Tác phẩm nghệ thuật chứa đựng sự vận động của yếu tố thơ đan cài trong hệ thống hình tượng lôi cuốn người đọc, làm dấy lên trong lòng người những cảm xúc thẩm mỹ lành mạnh, giàu chất nhân văn. Thứ ba, chất thơ biểu hiện trên mọi phương diện hình thức và cách thức tổ chức tác phẩm, trong cách tổ chức “cấu tứ” tác phẩm tự sự, sự lựa chọn và tổ chức hệ thống ngôn ngữ. Ở điểm này ngôn ngữ giàu chất thơ là giàu hình ảnh và nhịp điệu, có tính hàm súc cao. Từ đây, giọng điệu cũng vì thế mà những dư vang của nó thấm sâu trong lòng người đọc đưa lại những ấn tượng và rung động, khoái cảm thẩm mỹ khôn cùng. Từ những vấn đề đã nêu trên, vấn đề tiếp cận, đọc và nhận diện chất thơ trong tiểu thuyết yêu cầu người đọc cần có một tâm hồn giàu cảm xúc, tinh tế và nhạy cảm để hòa nhập vào dòng cảm xúc và thế giới hình tượng trong tác phẩm để cảm nhận hết sức âm vang của cái đẹp bột khởi từ trong tác phẩm. 1.1.2. Chất thơ như một nhu cầu thiết yếu của tiểu thuyết Việt Nam đương đại Hiện tượng văn học có sự giao thoa với nhau giữa các thể loại diễn ra khá lâu, riêng tiểu thuyết được xem là một thể loại dang dở và chưa hoàn thiện. Theo M.Bakhtin: “Tiểu thuyết tiếp xúc với môi trường cái hiện tại chưa hoàn thành, chính đặc điểm này không cho phép thể loại ấy bị đông cứng lại” [2; 57]. Tiểu thuyết Việt Nam đương đại thể hiện đậm nét các mức độ giao thoa lẫn nhau của các thể loại văn học như một nhu cầu khách quan. Điều này vừa phản ánh sự vận động tất yếu của thể loại, vừa thể hiện nhu cầu của lịch sử đòi hỏi. Càng ngày, tiểu thuyết Việt Nam có xu hướng đi đến chỗ xây dựng văn bản ngắn hơn, bám sát thực chất cuộc sống hơn và cũng vì thế tính đa dạng trong phương thức phản ánh thể hiện rõ nhất, Kristjana Gunnars trong tác phẩm Về những tiểu thuyết ngắn (On writting shot books) cho rằng tiểu thuyết có ba đặc trưng cơ bản trong quá trình phát triển đó là “tính phân mảnh, tính thơ và lý luận” và tác giả này cũng chỉ ra: “Chất thơ thể hiện trong những mơ mộng, xúc cảm nội tâm, hoặc cả 16 trong những chất liệu huyền thoại được nhà văn công khai sử dụng. Và đương nhiên cả tính thơ và tính triết lý còn được thể hiện trong hình tượng nhân vật. Hầu như tiểu thuyết nào cũng có cách biểu đạt này” [12], không những là nhu cầu mà còn thể hiện khát vọng biểu đạt. Nội dung này phản ánh sự tất yếu của chất thơ trong tiểu thuyết là có cơ sở về mặt lý luận M. Bakhtin khẳng định: “Trước sự có mặt của tiểu thuyết, tất cả các thể loại đều âm vang một cách khác. Bắt đầu cuộc đấu tranh dai dẳng để tiểu thuyết hóa các loại khác, lôi cuốn chúng vào khu vực tiếp xúc với cái hiện thực đương dang dở. Con đường đấu tranh ấy còn đang phức tạp và dang dở” [2; 75]. Điều này khá rõ trong các tiểu thuyết lãng mạn của Tự lực văn đoàn khi nó thẫm đẫm chất nhân văn trong việc lên tiếng đấu tranh với lễ giáo, đề cao ý thức, tư tưởng, tình cảm của con người những cái thuộc về con người trước đó chìm khuất trong bóng tối của lề luật. Tiểu thuyết giai đoạn 1945 - 1975 mang khuynh hướng sử thi, đề cao con người mang phẩm chất cao đẹp cả trong nội dung lẫn hình thức, trong nỗ lực hướng đến cái cao cả của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Một phương diện khác, các nhà tiểu thuyết hiện đại còn thể hiện nhu cầu phản ánh cuộc sống vừa có cái ngổn ngang, bề bộn, vừa giàu chất nhân văn, nhân ái mang tính truyền thống của người Việt Nam, điều này như một đặc tính tất yếu, nhu cầu phản ánh chất thơ là: “Lý tưởng và khát vọng của động đảo nhân dân, chủ nghĩa nhân đạo với những biểu hiện lịch sử của nó là tiêu chuẩn khách quan cho chất thơ chân chính ở mọi thời đại” [13; 254]. Trong giai đoạn nhân dân ta thực hiện hai cuộc trường chinh vĩ đại, chất thơ còn được bồi đắp bởi điều kiện khách quan tác động, giúp nhà văn hướng theo để kịp thời phản ánh tầm vóc tự hào của dân tộc: “Đảng luôn chủ trương tính hiện thực gắn với tính đảng, tính hiện thực gắn với tính lý tưởng, chức năng nhận thức thẩm mỹ với chức năng giáo dục văn nghệ” [8; 108]. Và sự tác động của đường lối đó đã mang đến cho tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này phẩm chất lý tưởng, chất thơ hòa quyện trong chất tiểu thuyết, chất sử thi. Sau 1975, với việc trở lại với con
- Xem thêm -