Tài liệu Thực hiện pháp luật về hộ tịch từ thực tiễn quận 7, thành phố hồ chí minh

  • Số trang: 76 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 41 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Tham gia: 31/07/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THANH PHONG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH TỪ THỰC TIỄN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số: 8380102 ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI, năm 2020 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của cá nhân tôi. Các kết quả nghiên cứu, điều tra xã hội học trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các thông tin, tư liệu trích dẫn trong luận văn có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Thanh Phong LỜI CẢM ƠN Luận văn này được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội, cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh. Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể. Trước hết tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới PGS.TS. Vũ Văn Nhiêm đã hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này. Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô, những người đã đem lại kiến thức vô cùng hữu ích cho tôi trong suốt hai năm học qua. Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc, Phòng Đào tạo của Học viện cùng toàn thể cán bộ, giáo viên cơ sở Học viện tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập. Cuối cùng, tôi xin gửi tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu của mình. MỤC LỤC Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘ TỊCH VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH 1.1. Khái niệm hộ tịch; thực hiện pháp luật về hộ tịch 1.1.1. Khái niệm về hộ tịch 1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, hình thức thực hiện pháp luật về hộ tịch 1.2. Nội dung thực hiện pháp luật về hộ tịch 1.2.1. Ban hành văn bản quy định 1.2.2. Nội dung thực hiện pháp luật về hộ tịch 1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về hộ tịch 1.3.1. Ý thức pháp luật 1.3.2. Chất lượng của văn bản pháp luật quản lý về hộ tịch 1.3.3. Công tác tổ chức bộ máy và công chức thực hiện pháp luật quản lý về hộ tịch. 1.3.4. Kinh phí và cở sở vật chất. Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH TỪ THỰC TIỄN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1. Tổng quan các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh 2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về hộ tịch tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh 2.2.1. Kết quả đăng ký hộ tịch trên địa bàn Quận 7 2.2.2. Kết quả công tác quản lý hộ tịch trên địa bàn Quận 7 2.2.3. Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra xử lý vi phạm trong quá trình thực hiện quản lý hộ tịch trên địa bàn các phường 2.3. Đánh giá thực trạng, hạn chế và nguyên nhân thực hiện pháp luật về hộ tịch tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. 2.3.1. Đánh giá kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật về hộ tịch trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh 2.3.2. Những hạn chế 2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH 3.1. Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về hộ tịch 3.1.1. Thực hiện pháp luật về hộ tịch phải bảo đảm phù hợp với các quy định pháp luật có liên quan 3.1.2. Thực hiện pháp luật về hộ tịch phải đề cao quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân 3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch 3.2.1. Rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về Hộ tịch 3.2.2. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về hộ tịch 3.2.3. Kiện toàn bộ máy quản lý và nâng cao năng lực của đội ngũ công chức làm công tác Hộ tịch 3.2.4. Cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký và quản lý hộ tịch 3.2.5. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong thực hiện pháp luật về hộ tịch 3.2.6. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, xử lý vi phạm trong thực hiện pháp luật về hộ tịch DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Số liệu các trường hợp đăng ký kết hôn từ năm 2015 – 2019……27 Bảng 2.2: Số liệu kết quả đăng ký khai sinh từ năm 2015 – 2019………….. 28 Bảng 2.3: Thống kê số liệu đăng ký khai tử trên địa bàn Quận 7 từ năm 2015 – 2019………………………………………………………………………. 30 Bảng 2.4: Thống kê số liệu đăng ký hộ tịch khác trên địa bàn Quận 7 từ năm 2015 – 2019……………………………………………………………….. 31 Biểu đồ 2.1: Các trường hợp đăng ký kết hôn từ năm 2015 – 2019………... 27 Biểu đồ 2.2: Tỉ lệ đăng ký khai sinh quá hạn và đăng ký lại khai sinh từ năm 2015 – 2019………………………………………………………………… 28 Biểu đồ 2.3: Tỉ lệ khai tử đúng hạn, quá hạn trên địa bàn Quận 7 từ năm 2015 – 2019……………………………………………………………………… 30 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Một trong những nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia luôn được quan tâm và thực hiện là đăng lý và quản lý hộ tịch. Nhà nước công nhận quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân đồng thời bảo hộ quyền con người, có biện pháp quản lý dân cư khoa học, hiệu quả thiết thực trong xây dựng và hoạch định chính sách phát triển KTXH, QPAN của đất nước. Các sự kiện hộ tịch của con người tại hầu hết các nước từ khi sinh ra đến khi chết như khai sinh, khai tử, kết hôn, ly hôn, giám hộ, nuôi con nuôi, cải chính hộ tịch.. đều phải được quản lý chặt chẽ và đăng ký theo luật định Ở nước ta, thực hiện pháp luật về hộ tịch được xác định là khâu trung tâm của toàn bộ hoạt động quản lý dân cư. Công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội. Do đó, thời gian qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật về hộ tịch tạo hành lang pháp lý cho hoạt động thực hiện pháp luật về hộ tịch. Tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIII, ngày 20/11/2014 thông qua Luật Hộ tịch. Ngày 01/01/2016 Luật Hộ tịch có hiệu lực thi hành là cơ sở pháp lý thực hiện pháp luật về hộ tịch. Thời gian qua công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch đã có những bước pháp triển ổn định, đạt được những kết quả quan trọng. Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục thực hiện pháp luật về hộ tịch đã từng bước được coi trọng. Trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch ngày càng đơn giản hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia đăng ký. Vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch khẳng định quyền và lợi ích hợp pháp của mọi công dân. Cùng với những kết quả đã đạt được vẫn còn những hạn chế đó là: Việc quản lý hộ tịch còn thiếu khoa học, chưa đáp ứng với yêu cầu thực tiễn, cán bộ công chức còn hạn chế về năng lực và trình độ; việc giáo dục, tuyên truyền 1 thực hiện pháp luật về hộ tịch còn chưa sâu rộng. Điều đó làm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả trong công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch. Quận 7 là một quận thuộc thành phố Hồ Chí Minh đang trong giai đoạn phát triển với tỷ lệ tăng trưởng dân số cao nên công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế của quận. Vì vậy, nghiên cứu thực hiện pháp luật về hộ tịch nói chung cũng như thực tiễn tại quận 7 nói riêng nhằm làm rõ hơn cơ sở lý luận, thực tiễn của việc thực hiện pháp luật về hộ tịch và đưa ra những giải pháp góp phần bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch trên địa bàn quận 7 là việc cần thiết hiện nay. Đó cũng chính là lý do chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về Hộ tịch từ thực tiễn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Đã có nhiều công trình nghiên cứu, các luận án, luận văn, bài báo tạp chí đề cập đến hộ tịch và các chính sách thực hiện hộ tịch, trong thời gian qua: Bài “Cơ quan nhà nước cần tôn trọng quyền yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp của công dân” tác giả Vũ Đình Tuấn Phương, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 6 năm 2005; Bài “Kỳ vọng về một nền nếp mới trong công tác hộ tịch” tác giả Phạm Trọng Cường, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 6 năm 2006; Bài “Nâng cao năng lực đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch trong giai đoạn hiện nay” Tác giả Trần Văn Quảng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tháng 9 năm 2006; Số chuyên đề về “Công chứng, Hộ tịch và Quốc tịch” phần 2 Hộ tịch và Quốc tịch, Bộ Tư pháp, Hà Nội, 2007; Bài “Tư pháp Hà Nội không vì khó khăn mà từ chối đăng ký khai sinh” tác giả Đàm Thị Kim Hạnh, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 3 năm 2008; Giáo trình “Quản lý Hành chính Tư pháp” của Học viện hành chính, nhà xuất bản khoa học kỹ thuật năm 2008 (dành cho đào tạo trung cấp hành chính); Chuyên đề “Quản lý Hành chính-Tư pháp” trong chương trình bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch chuyên viên chính của Học viện Hành chính; Bài báo “Hộ tịch và pháp luật về 2 hộ tịch” tác giả Trần Duy Rô Nin, tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 5/2008; Bài “Thực trạng đội ngũ công chức Tư pháp- Hộ tịch và yêu cầu chuẩn hóa” của tác giả Trần Thị Lệ Hoa, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề pháp luật Hộ tịch năm 2013; Bộ Tư pháp (2006) “Hướng dẫn nghiệp vụ Đăng ký và quản lý hộ tịch”, NXB Tư pháp, Hà Nội; Bộ Tư pháp (2007), “Nghiệp vụ đăng ký hộ tịch”, NXB Tư pháp, Hà Nội; Sách chuyên khảo “Từ quản lý đinh đến quản lý hộ tịch” của tác giả Phạm Trọng Cường, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2007; Số chuyên đề “Công chứng, hộ tịch và quốc tịch”, Bộ Tư pháp, Hà Nội, 2007; Bộ Tư pháp (2010) “Tài liệu Hướng dẫn nghiệp vụ Tư pháp xã, phường, thị trấn”, NXB Tư pháp; Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đăng ký và quản lý hộ tịch ở tỉnh Hòa Bình – Thực trạng và giải pháp” của Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình, tác giả Trần Việt Hưng chủ nhiệm đề tài, Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp, 2010; Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công “Quản lý nhà nước về hộ tịch ở cấp xã, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội”, tác giả Phạm Hồng Hoàn, Học viện Hành chính Quốc gia, 2010. Các công trình khoa học nói trên đã đề cập từng khía cạnh của công tác quản lý và thực hiện pháp luật về hộ tịch. Hiện nay, chưa có công trình khoa học nào trực tiếp nghiên cứu về thực hiện pháp luật về hộ tịch từ thực tiễn quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích: Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở trình bày, phân tích cơ sở lý luận, thực trạng thực hiện pháp luật về hộ tịch, nhằm đưa các khuyến nghị khoa học góp phần bảo đảm thực hiện pháp luật về hộ tịch từ thực tiễn Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh. 3.2. Nhiệm vụ: 3 - Hệ thống hóa, đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, từ đó xác định những vấn đề mà luận văn sẽ kế thừa cũng như những vấn đề luận văn cần tiếp tục nghiên cứu. - Luận giải, làm rõ các vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật về hộ tịch như: hộ tịch, đặc điểm, vai trò, chủ thể, nội dung thực hiện pháp luật về hộ tịch. - Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về hộ tịch từ thực tiễn Quận 7, làm rõ những kết quả đạt được, những hạn chế yếu kém và nguyên nhân của những hạn chế. - Đưa ra được những quan điểm, yêu cầu và giải pháp bảo đảm tốt việc thực hiện pháp luật về hộ tịch từ thực tiễn Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng trực tiếp nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận và thực tiễn của thực hiện pháp luật về hộ tịch. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Thực hiện pháp luật về hộ tịch từ thực tiễn Quận 7 từ năm 2015 đến năm 2019 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩ Mác - LêNin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước về chính sách hộ tịch nói chung và thực hiện pháp luật về hộ tịch tại Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp như: quy nạp, tổng hợp, phân tích, diễn dịch, phương pháp hệ thống, phương pháp lịch sử, so sánh... 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 6.1. Ý nghĩa lý luận 4 Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung thực hiện pháp luật về hộ tịch; đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về hộ tịch tại Quận 7. Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp để góp phần bảo đảm hiệu quả của thực hiện pháp luật về hộ tịch từ thực tiễn Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của luận văn làm cơ sở để các cấp chính quyền địa phương ở thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu, vận dụng vào thực tế trong công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch; làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật. Đề tài có thể là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy đối với cán bộ, sinh viên trong các cơ sở đào tạo quản lý hành chính nhà nước. 7. Kết cấu của luận văn Chương 1: Những vấn đề lý luận về hộ tịch và thực hiện pháp luật về hộ tịch Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về hộ tịch từ thực tiễn Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh Chương 3: Quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch từ thực tiễn Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh 5 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘ TỊCH VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH 1.1. Khái niệm hộ tịch; thực hiện pháp luật về hộ tịch 1.1.1. Khái niệm về hộ tịch “Hộ tịch” khi xét từ góc độ ngôn ngữ học, được ghép bởi hai thành tố có nghĩa độc lập, trong đó “tịch” là thành tố chính, “hộ” là thành tố phụ (từ ghép gốc Hán). Từ “hộ” mang nhiều nghĩa khác nhau, có thể hiểu nghĩa trực tiếp là “nhà ở” hoặc “dân cư”, theo nghĩa rộng chính là “quản lý dân số, bao gồm những người cùng sinh sống”. “Tịch” được hiểu là “ sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc” hay chính là “sổ sách”. Tuy nhiên việc tổ hợp hai từ đơn này thành danh từ ghép “hộ tịch” lại là một trường hợp rất đặc biệt về mặt ngôn ngữ dẫn đến có nhiều cách giải nghĩa từ “hộ tịch”. Tác giả Nguyễn Văn Khôn đã nêu khái niệm “hộ tịch” trong cuốn Hán Việt từ điển xuất bản năm 1960 như sau: “Hộ tịch: sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người” [20, tr.404]. Cũng có quan điểm tương tự với tác giả Nguyễn Văn Khôn, tác giả Hoàng Thúc Trâm cũng nêu khải niệm “hộ tịch” trong cuốn Hán - Việt tân từ điển xuất bản năm 1974 là: “Hộ tịch: Sổ biên nhận số một địa phương hoặc cả toàn quốc, trong có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người” [26, tr. 292]. Hay tác giả Nguyễn Lân cũng trình bày giải nghĩa từ “hộ tịch” trong cuốn Từ điển từ và ngữ Hán Việt xuất bản năm 1989: “Hộ tịch: Quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp của mọi người trong một địa phương” [21, tr.321]. Trong cuốn Giản yếu Hán - Việt từ điển xuất bản năm 1992, tác giả Đào Duy Anh trình bày cách hiểu của mình đối với từ ghép “hộ tịch” là: “Hộ tịch: quyển sổ của Chính Phủ biên chép số người, chức nghiệp và tịch quán của từng người” [1, tr.384]. Trong cuốn Từ điển Hán - Việt từ nguyên xuất bản năm 1999 của tác giả Bửu Kế, “hộ tịch” được hiểu là “Sổ sách ghi chép tên, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong xã phường” [19, tr.814]. Có thể nhận thấy 6 cách giải nghĩa từ “hộ tịch” của các tác giả Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Khôn, Bửu Kế, Nguyễn Lân, Hoàng Thúc Trâm tuy rằng khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều giải nghĩa “hộ tịch” có nét khá tương đồng: “hộ tịch” là quyển số chứa đựng các thông tin cơ bản của cá nhân như họ, tên, nghề nghiệp, quê quán. Bên cạnh đó, một số từ điển lại giải nghĩa từ “hộ tịch” ở những khía cạnh khác hẳn, chẳng hạn như: Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt của Viên Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên xuất bản năm 1998, từ ghép “hộ tịch” được giải nghĩa là: “Hộ tịch: sổ của cơ quan dân chính đăng kí cư dân trong địa phương mình theo từng hộ” [24, tr.442] Một cách hiểu khác về “hộ tịch” được tác giả Nguyễn Như Ý trình bày trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1998 đó là: “Hộ tịch: các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật” [18, tr.835]. Đặc biệt tác giả Nguyễn Văn Đạm viết trong cuốn Từ điển tường giải và liên tưởng Tiếng Việt do NXB văn hóa thông tin xuất bản năm 1999 giải thích “hộ tịch” theo một khía cạnh hoàn toàn khác so với các cách giải nghĩa trên: “Hộ tịch: là quyền cư trú, được công nhận bởi chính quyền của một người tại nơi mà mình ở thường xuyên, của những người thuộc cùng một hộ thường trú, do chính quyền cấp cho từng hộ để xuất trình khi cần” [12, tr.385]. Do vậy, từ “hộ tịch” nghĩa của nó xét về khía cạnh xã hội còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau. Theo quan điểm của tác giả, tác giả đồng ý với cách giải nghĩa từ “hộ tịch” của tác giả Nguyễn Như Ý trình bày trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1998: “Hộ tịch: các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật” [18, tr.835]. Về khía cạnh pháp lý, thuật ngữ “hộ tịch” được định nghĩa trong các giáo trình giảng dạy của ĐH Luật khoa Sài Gòn dưới chế độ VNCH, trong đó nổi lên quan điểm của một số tác giả sau: Năm 1958 trong cuốn tài liệu chuyên khảo Hộ tịch chỉ nam, Tác giả Phan Văn Thiết trình bày quan niệm “hộ tịch” như sau: 7 “Hộ tịch - còn gọi là nhân thế bộ - là cách sinh hợp pháp của một công dân trong gia đình và trong xã hội. Hộ tịch căn cứ vào ba hiện tượng quan trọng nhất của con người: sinh, giá thú và tử" [26, tr.7]. Các tác giả Vũ Văn Mẫu - Lê Đình Chân lại trình bày một định nghĩa khác về khái niệm “hộ tịch” trong cuốn Danh từ và tài liệu Dân luật và Hiến luật xuất bản năm 1968 như sau: "Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các người trong nhà. Hộ tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh và khai tử" [22, tr.111]. Các tác giả đưa ra những định nghĩa khác nhau về khái niệm nhưng đều chỉ ra những dấu hiệu đặc trưng của hộ tịch đó là: quan hệ gia đình của một người được ghi chép lại, quan hệ liên quan đến sự kiện của con người là sinh, tử và hôn nhân. Hộ tịch minh chứng cho nhân thân của mỗi cá nhân. Ngày 10/10/1998 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký hộ tịch quy định tại Điều 1: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”. Trước khi có Nghị định số 83/1998/NĐ-CP, Bộ luật dân sự 1995 có riêng một mục quy định về hộ tịch. Bộ luật dân sự 1995 không đưa ra khái niệm “hộ tịch” mà chỉ định nghĩa về đăng ký hộ tịch tại điều 54 như sau: (1). Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện sinh, tử, kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi, giám hộ, thay đổi tên, họ, quốc tịch, cải chính hộ tịch, xác định dân tộc và các sự kiện khác theo quy định của pháp luật về hộ tịch. (2). Việc đăng ký hộ tịch là nghĩa vụ và quyền của mỗi người. (3). Đăng ký hộ tịch theo trình tự và thủ tục do pháp luật về hộ tịch quy định. Khái niệm về hộ tịch được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật đó là: Ngày 27/12/2005 Nghị định 158/2005/NĐ-CP(1) ra đời quy định tại Điều 1(2) , Luật Hộ tịch năm 2014 quy định tại Điều 2(3) 1 Nghị định này thay thế cho Nghị định số 83 ngày 10/10/1998 8 Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác nhận tình trạng nhân thân của một con người từ khi sinh ra đời cho đến khi chết. Hiến pháp năm 2013 quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và quyền nhân thân của con người, cụ thể hóa quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định sự kiện hộ tịch(4) 1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, hình thức thực hiện pháp luật về hộ tịch 1.1.2.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về hộ tịch Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích, định hướng nhằm thực hiện hóa nội dung các quy định pháp luật bằng hành vi hợp pháp của các chủ thể. Thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp khi xem xét ở góc độ của pháp lý, là hành vi thực tế của các chủ thể trong cuộc sống phù hợp với các quy định của pháp luật. Do vậy, có thể hiểu: “Thực hiện pháp luật về hộ tịch là hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về thực hiện đăng ký quản lý hộ tịch đi vào cuộc sống nhằm phát huy cao độ quyền của công dân trong việc đăng ký các sự kiện hộ tịch như: khai sinh, khai tử, kết hôn, theo dõi thực trạng và biến động về hộ tịch bảo đảm các sự kiện hộ tịch được đăng ký kịp thời, đúng quy định của pháp luật, trên cơ sở đó bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình, đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và dân số, kế hoạch hóa gia đình”. 1.1.2.2. Đặc điểm thực hiện pháp luật về hộ tịch Thực hiện pháp luật về hộ tịch là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước khi đăng ký quản lý hộ tịch và thực hiện quyền, nghĩa vụ của Công dân đối với hoạt động đăng ký hộ tịch, khác với thực hiện pháp luật trong các lĩnh vực, các ngành luật khác ở các chủ thể, phạm vi, nội dung và các hình thức thực hiện. Biểu hiện: “Hộ tịch và những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một ngày từ khi sinh ra đến khi chết” “Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của luật này xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết” 4 Quyền xác định lại dân tộc; quyền thay đổi tên, họ; quyền được khai sinh; quyền được khai tử: quyền được kết hôn, quyền ly hôn; quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con; quyền đối với quốc tịch. 2 3 9 Một là, chủ thể thực hiện pháp luật về hộ tịch trước hết là các cơ quan: Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ ngoại giao, các cơ quan đại diện, Lãnh sự quán của Việt Nam nước ngoài, UBND các cấp (xã, huyện, tỉnh), phòng Tư pháp, sở Tư pháp. Hai là, thực hiện pháp luật về hộ tịch phạm vi diễn ra giữa các chủ thể trong đó một bên là cơ quan nhà nước có thẩm quyền và một bên là công dân sinh sống tại một đơn vị hành chính. Ba là, thực hiện pháp luật về hộ tịch đối với chế độ và trách nhiệm pháp lý của chủ thể mang tính chất quản lý hành chính, đồng thời mang tính chất tự tin. Bốn là, thực hiện pháp luật về hộ tịch có nội dung rất rộng, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân nơi cư trú. 1.1.2.3. Hình thức thực hiện pháp luật về hộ tịch Hình thức thực hiện pháp luật là cách thức các chủ thể tiến hành các hoạt động có mục đích để đưa các quy định của pháp luật đi vào thực tiễn của cuộc sống. Trong thực tế để điều chỉnh các quan hệ xã hội thì phải ban hành các quy phạm pháp luật phù hợp với thực tế, là hành lang pháp lý để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Thực hiện pháp luật bao gồm bốn hình thức: Hình thức thi hành pháp luật, hình thức tuân thủ pháp luật, hình thức sử dụng pháp luật và hình thức áp dụng pháp luật. Trong đó, thi hành pháp luật là hình thức các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý được pháp luật đòi hỏi thực hiện. Tuân thủ pháp luật là việc các chủ thể thực hiện các hành vi hợp pháp theo yêu cầu của pháp luật. Sử dụng pháp luật là hình thức các chủ thể thực hiện quyền pháp lý của mình theo quy định của pháp luật. Áp dụng pháp luật là hình thức các chủ thể có thẩm quyền đưa ra các quyết định cá biệt để giải quyết các sự kiện pháp lý cụ thể trong đời sống pháp lý. Thực hiện pháp luật về hộ tịch được thực hiện các hình thức phù hợp với chủ thể tham gia thực hiện. Chủ thể là công dân sử dụng hình thức sử dụng pháp luật là chủ yếu, chủ thể là chính quyền hay các tổ chức chính trị cơ sở 10 thì sử dụng hình thức là áp dụng pháp luật. Do đó, xem xét thực hiện pháp luật về hộ tịch trên cơ sở chính là thực hiện việc đăng ký và quản lý hộ tịch. Tuân thủ pháp luật về hộ tịch: Là hình thức thực hiện pháp luật về hộ tịch, trong đó các chủ thể pháp luật tham gia pháp luật về hộ tịch (công dân và chính quyền, các tổ chức chính trị cơ sở) thực hiện các hành vi hợp pháp theo quy định của pháp luật hộ tịch - Để đảm bảo công tác đăng ký và quản lý hộ tịch được thực hiện kịp thời, đầy đủ theo các quy định của pháp luật về hộ tịch, những yêu cầu chủ thể pháp luật phải luôn luôn tự kiềm chế mình một cách chủ động và tự giác trong mọi điều kiện, hoàn cảnh tình huống luật định mà bản thân mình đang gặp phải để không thực hiện những hành vi pháp luật ngăn cấm trong lĩnh vực hộ tịch. Ví dụ: Luật Hộ tịch năm 2014 có quy định các hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 12 như: Không được cung cấp những thông tin, tài liệu sai sự thật, cấm làm hoặc sử dụng các loại giấy tờ giả, các loại giấy tờ của người khác dùng để đăng ký hộ tịch, hay dùng các hành động như đe dọa, cưỡng ép làm cản trở việc thực hiện quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch. Những hành động can thiệp trái pháp luật vào hoạt động đăng ký hộ tịch; sửa làm thay đổi nội dung làm chúng sai sự thật để đăng ký hộ tịch; Các hình thức làm giả hay sửa chữa làm sai lệch nội dung trong giấy tờ hộ tịch hoặc thông tin trong cơ sở dữ liệu hộ tịch; các hành vi đưa hối lộ, mua chuộc, hứa hẹn việc đem lại lợi ích về vật chất hay tinh thần để được đăng ký hộ tịch; Động cơ vụ lợi trong việc đăng ký hộ tịch hoặc trốn tránh nghĩa vụ đăng ký hộ tịch nhằm mục đích trục lợi hay hưởng chế độ ưu đãi. Công chức làm công tác hộ tịch không được gây khó khăn, phiền hà khi đăng ký, quản lý hộ tịch; không thể hiện thái độ hách dịch, sách nhiễu, trì hoãn, cửa quyền; nghiêm cấm việc nhận hối lộ. Không được thu lệ phí hộ tịch cao hơn mức quy định hoặc tự đặt ra các khoản thu khi đăng ký hộ tịch; không được cố ý kéo dài thời hạn giải quyết đăng ký hộ tịch trái quy định của 11 pháp luật như cố ý tự đặt ra các loại thủ tục, giấy tờ ngoài quy định gây khó khăn trong quá trình đăng ký. Các chủ thể không thực hiện các hành vi nêu trên đó chính là biểu hiện của việc nghiêm túc thực hiện pháp luật về Hộ tịch của chủ thể là người dân hoặc chủ thể được giao quyền thực hiện đăng ký hộ tịch được pháp luật quy định. Thi hành chấp hành pháp luật về hộ tịch: Là một hình thức các chủ thể pháp luật tự thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình để thực hiện pháp luật về Hộ tịch, các chủ thể thực hiện bằng hành động tích cực của mình. Những quy định của pháp luật mang tính bắt buộc thể hiện ở nghĩa vụ của các chủ thể; ngoài ra còn có các quy định mang tính ngăn cấm nhằm hạn chế những hành vi gây ảnh hưởng tiêu cực trong quá trình quản lý, đăng ký hộ tịch. Về trách nhiệm đăng ký khai sinh Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định: Kể từ ngày con sinh ra; cha, mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con trong thời hạn 60 ngày. Nếu trong trường hợp mẹ, cha không thể đăng ký khai sinh cho con thì bà hoặc ông, người thân thích khác, cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ phải có trách nhiệm đăng ký khai sinh. Trong thời hạn quy định Công chức tư pháp - hộ tịch có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc việc đăng ký khai sinh cho trẻ em trên địa bàn; thực hiện đăng ký khai sinh lưu động trong trường hợp cần thiết. Về trách nhiệm đăng ký khai tử Luật Hộ tịch năm 2014 được quy định tại Điều 33(5) Trong thời hạn quy định Công chức tư pháp - hộ tịch có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc việc khai tử cho người chết; trường hợp không xác định được người có trách nhiệm đi khai tử thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký khi tử. Vợ, chồng hoặc con, cha, mẹ hoặc người thân thích khác của người chết có trách nhiệm đi đăng ký khai tử trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có người chết, đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm đi khai tử trong trường hợp người chết không có người thân thích. 5 12 Các chủ thể ở trong các trường hợp quy định đã nêu trên phải nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ của mình, đồng thời nộp phí theo quy định của pháp luật. Như vậy, bằng hành động tích cực trong khi thực hiện các nghĩa vụ - của mình các chủ thể đã tích cực thực hiện các quy phạm pháp luật về Hộ tịch. Sử dụng pháp luật về hộ tịch: là hình thức thực hiện pháp luật về hộ tịch, trong đó các chủ thể sử dụng các quyền về đăng ký, quản lý hộ tịch để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Ví dụ: Khi có hành vi vi phạm pháp luật về hộ tịch, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, pháp luật cho phép các chủ thể có quyền khiếu nại hay tố cáo với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật hộ tịch nhưng họ có thể không thực hiện các quyền này nếu họ cảm thấy không cần thiết. 1.2. Nội dung thực hiện pháp luật về hộ tịch 1.2.1. Ban hành văn bản quy định Thực hiện pháp luật về hộ tịch trên cơ sở các căn cứ pháp lý được quy định tại Luật Hiến pháp 2013, Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hôn nhân và gia đình... Ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 47/SL thể hiện các thể lệ đăng ký hộ tịch đã được quy định trong Bộ luật giản yếu được áp dụng ở Nam kỳ, dân luật Bắc Kỳ, Hoàng Việt được áp dụng ở Trung kỳ. Nghị định số 764TTg ngày 08/5/1956 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Ban Điều lệ hộ tịch. Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số: 04/CP ngày 16/01/1961 kèm theo Bản Điều lệ đăng ký hộ tịch mới(6). Theo quy định tại bản điều lệ này Bộ Nội vụ(7)là cơ quan được Hội đồng Chính phủ giao nhiệm vụ tổ chức quản lý hộ tịch, Ủy ban hành chính xã, thị trấn, thị xã, khu phố phụ trách đăng ký hộ tịch. Ngày 20/11/1987 ra đời Nghị 6 7 thay thế Nghị định số 764 TTg Nay là Bộ Công an 13 định số 219 HĐBT quy định nhiệm vụ quản lý nhà nước về hộ tịch được chuyển giao từ Bộ Nội vụ sang Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân các cấp. Đến năm 2005 việc đăng ký quản lý hộ tịch được thực hiện theo Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, nghị định 06/2012/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về hộ tịch, chứng thực, hôn nhân và gia đình. Nghị định số 06/2012 NĐ-CP đã sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 158/2005/NĐ-CP theo hướng đơn giản hơn các thủ tục khi đăng ký hộ tịch, quy định cụ thể các giấy tờ cần thiết đối với từng sự kiện hộ tịch, bổ sung quy định đối với hồ sơ đăng ký hộ tịch, bổ sung xin - cấp bản sao từ sổ gốc gửi qua hệ thống bản chính. Đồng thời Nghị định 06/2012/NĐ-CP, đã rút ngắn thời hạn giải quyết một số thủ tục về hộ tịch. Ngày 20/11/2014, Quốc Hội ban hành Luật Hộ tịch và bắt đầu có hiệu lực từ 01 tháng 01 năm 2016. Luật hộ tịch chính thức có hiệu lực đã trở thành bước tiến lớn trong công tác đăng ký hộ tịch. 1.2.2. Nội dung thực hiện pháp luật về hộ tịch 1.2.2.1. Thực hiện pháp luật về đăng ký hộ tịch Theo Khoản 2, Điều 2 Luật Hộ tịch: Việc xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân trách nhiệm thuộc cơ quan nhà nước có thẩm quyền để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân thể hiện chức năng nhiệm vụ về quản lý dân cư. Từ nội dung quy định trên có thể hiểu đăng ký hộ tịch là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan quản lý hành chính nhà nước, các cơ quan hành pháp,) thực hiện việc lưu và ghi các sự kiện hộ tịch liên quan đến công dân. Do đó, sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết chính là hộ tịch. Sự kiện liên quan đến nhân thân của công dân được ghi nhận gồm: khai sinh, khai tử, ly hôn, kết hôn, việc hủy hôn, nhận nuôi con nuôi, ly thân tư pháp,.... Điều 3 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định nội dung đăng ký hộ tịch: 14
- Xem thêm -