Tài liệu Skkn một số kinh nghiệm tổ chức các trò chơi dân gian cho trẻ 5 – 6 tuổi

  • Số trang: 28 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 1103 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

MỤC LỤC TT Nội dung Trang I ĐẶT VẤN ĐỀ 3,4 ∕ 28 1 Cơ sở lý luận 3 2 Cơ sở thực tiễn 4 3 Mục đích của đề tài 5 4 Phạm vi của đề tài 5 II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 5,6∕ 28 1 Nội dung lý luận nghiên cứu 6 2 Thực trạng của vấn đề 7 a Thuận lợi 7 b Khó khăn 7 c Khảo sát thực tế 8 3 Các biện pháp thực hiện 9∕ 28 Biện pháp 1:Lựa chọn các trò chơi dân gian phù hợp với lứa tuổi của trẻ. Biện pháp 2: Chuẩn bị đồ dùng, đồ chơi, lời ca trước khi tổ chức cho trẻ tham gia vào các trò chơi dân gian: Biện pháp 3: Chuẩn bị địa điểm để tổ chức trò chơi 17 - 19 Biện pháp 4: Tổ chức trò chơi dân gian vào các hoạt động học: 23,24 Biện pháp 5: Động viên tất cả các trẻ tham gia vào trò 24 chơi 1 ∕ 28 9 - 17 19 - 24 4 Kết quả của sáng kiến kinh nghiệm 25 III KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 25 IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 27 Nhận xét, đánh giá của HĐ trường 28 I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1.Cơ sở lý luận 2 ∕ 28 Di sản văn hoá truyền thống Việt Nam có nhiều loại hình khác nhau, trong đó có thể nói, trò chơi dân gian cũng là một di sản văn hoá quý báu của dân tộc. Nó được kết thành từ quá trình lao động và sinh hoạt, trong đó tích tụ cả trí tuệ và niềm vui sống của bao thế hệ người Việt xưa. Đặc biệt đối với trẻ em, trò chơi dân gian với những chức năng đặc biệt của nó đã mang lại cho thế giới trẻ thơ nhiều điều thú vị và bổ ích, đồng thời thể hiện nhu cầu giải trí, vui chơi, quyền được chia sẻ niềm vui của các em với bạn bè, cộng đồng. Nó làm cho thế giới xung quanh các em đẹp hơn và rộng mở; tuổi thơ của các em sẽ trở thành những kỉ niệm quý báu theo suốt cuộc đời; làm giàu nguồn tình cảm và trí tuệ cho các em. Chính vì vậy, trò chơi dân gian rất cần thiết được lựa chọn, giới thiệu trong nhà trường tuỳ theo lứa tuổi của trẻ. Đúng như PGS. TS Nguyễn Văn Huy, giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã nói: “ Cuộc sống đối với trẻ em không thể thiếu những trò chơi. Trò chơi dân gian không đơn thuần là một trò chơi của trẻ con mà nó chứa đựng cả nền văn hoá dân tộc Việt Nam độc đáo và giàu bản sắc. Trò chơi dân gian không chỉ chắp cánh cho tâm hồn trẻ, giúp trẻ phát triển tư duy, sáng tạo, mà còn giúp các em hiểu về tình bạn, tình yêu gia đình, quê hương, đất nước. Ngày nay, các em ở một xã hội công nghiệp, chỉ quen với máy móc và không có khoảng thời gian chơi cũng là một thiệt thòi. Thiệt thòi hơn khi các em không được làm quen và chơi những trò chơi dân gian của thiếu nhi ngày trước - đang ngày càng bị mai một và quên lãng, không chỉ có ở các thành phố mà còn ở cả các vùng quê. Vì thế, giúp các em hiểu và quay về nguồn với các trò chơi dân gian là một việc làm cần thiết” Đối với trẻ em, chơi dân gian thiếu nhi với những chức năng đặc biệt của nó đã mang lại cho trẻ thơ nhiều điều thú vị và bố ích, đồng thời thể hiện nhu cầu giải trí, vui chơi, quyền được chia sẻ niềm vui của các em với bạn bè, cộng đồng. Nó làm cho thế giới xung quanh các em đẹp hơn và rộng mở; tuổi thơ của các em sẽ trở thành những kỉ niệm quý báu theo suốt cuộc đời; làm giàu nguồn tình cảm và trí tuệ cho các em. Trò chơi dân gian trẻ em đã gắn liền với tuổi thơ 3 ∕ 28 của biết bao thế hệ người Việt Nam, góp phần nuôi dưỡng, bồi đắp tình yêu quê hương, đất nước. Những trò chơi dân gian hồn nhiên hấp dẫn ngày nay đang bị mai một. Hiện nay trong nhà trường có dạy những trò chơi nhưng còn nặng về mục đích “học”, nhẹ về “chơi”, gia đình học sinh thì quá bận bịu với công việc khác nên thiếu quan tâm hướng dẫn các em chơi. Vì vậy chúng ta rất hiếm khi bắt gặp hình ảnh các em tụm năm, tụm bảy rồng rắn lên mây, bịt mắt bắt dê… Chính vì vậy các trò chơi dân gian dường như đã bị lãng quên, có những em không biết gì về các trò chơi dân gian, các bài hát, bài đồng dao, các câu thành ngữ như: “Một đập ăn quan” (Trò chơi Ô ăn quan). Bài đồng dao trò chơi “Mèo đuổi chuột”, trò chơi “Rồng rắn lên mây”, “Thả đỉa ba ba”, “Bịt mắt bắt dê”… không được nhắc đến. Nhưng chúng ta đã quên đi một phương pháp giáo dục đầy hiệu quả mà chúng ta có sẵn đó là kho tàng đồng dao và trò chơi dân gian, về lĩnh vực giáo dục thì kho tàng này đã cung cấp nội dung và phương pháp giáo dục “Không thầy, không sách” tương đối rõ ràng và đầy đủ hơn cả. 2. Cơ sở thực tiễn Ở lứa tuổi mẫu giáo, vui chơi là hoạt động chủ đạo. Thông qua hoạt động vui chơi, trẻ phát triển trí tuệ, thể chất, tình cảm quan hệ xã hội, qua đó nhằm phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ. Chính vì vậy, giáo viên cần tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi nói chung và trò chơi dân gian nói riêng. Năm học 2008 – 2009, Bộ giáo dục và đào tạo phát động phong trào: “ Xây dựng trường học thân thiện – Học sinh tích cực” trong đó có nội dung đưa trò chơi dân gian vào trường học. Nhưng làm thế nào để tổ chức được các trò chơi dân gian thực sự có hiệu quả, lôi cuốn và hấp dẫn được trẻ là một bài toán khó với các giáo viên, đặc biệt là các giáo viên mầm non. ( Vì khả năng chú ý có chủ định của trẻ mầm non còn kém. Trẻ dễ dàng tham gia vào trò chơi nhưng cũng nhanh chán, nhanh bỏ cuộc ). Hiện nay, trẻ em ở một xã hội công nghiệp chỉ quen với máy móc hiện đại với nhiều tiện ích nhưng theo đó là sự dần lãng quên những trò chơi dân gian truyền thống. Phải chăng với các em, trò chơi dân gian không còn là sự thu hút, hấp dẫn. Liệu rằng trẻ em hôm nay có còn nhớ đến những trò chơi dân gian nữa hay không là ở chính chúng ta – những người giáo dục. 4 ∕ 28 Nhận thấy tầm quan trọng của các trò chơi dân gian việt nam đối với trẻ mầm non nên trong quá trình giảng dạy, tôi không ngừng nghiên cứu, tìm tòi các biện pháp làm thế nào để tổ chức các trò chơi dân gian cho trẻ một cách hiệu quả nhất. Vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Sáng kiến kinh nghiệm tổ chức trò chơi dân gian, Một số kinh nghiệm tổ chức các trò chơi dân gian cho trẻ 5- 6 tuổi” để nghiên cứu và thực hiện đề tài này tôi đã thực hiện 3. Mục đích của đề tài - Khảo sát thực trạng tổ chức sử dụng trò chơi dân gian cho trẻ mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi ở trường mầm non Tân Ước - Xây dựng tổ chức các trò chơi dân gian cho trẻ 5 – 6 tuổi. 4. Phạm vi của đề tài Lớp 5 tuổi A2 Trường Mầm non Tân Ươc s- Huyện Thanh Oai-TP Hà Nội. - Thời gian thực hiện đề tài: Trong 1 năm học: Từ tháng 9/ 2015 đến tháng 4/2016 II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1.Nội dung lý luận nghiên cứu Trò chơi dân gian là loại trò chơi do nhân dân nghĩ ra và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Người lớn dùng để dạy trẻ học nói, học đếm, học tính toán…Trò chơi dân gian là một hình thức văn hóa phản ánh cuộc sống của mỗi dân tộc, mỗi địa phương qua các thời kỳ lịch sử. Chính vì vậy mỗi dân tộc, mỗi địa phương đều có những trò chơi của dân tộc mình, các trò chơi đó lớn lên, sống mãi theo thời gian với dân tộc mà ngày nay người ta gọi là trò chơi dân gian. Trò chơi dân gian Việt Nam thường bắt nguồn từ những bài đồng dao, một thể loại văn vần độc đáo của dân tộc. Đấy là những bài ca có nhịp điệu đơn giản, gieo vần một cách thoải mái, có thể ngắn dài bất kỳ hoặc lặp đi lặp lại không dứt. Đồng dao được cấu trúc theo một logic riêng, đôi khi không có nghĩa gì cả, nhưng bằng tư duy lien tưởng trẻ em vẫn có thể nhập vào câu hát để dẫn đến những kết cục bất ngờ: cái ngược đời, cái phi lý lại có thể chấp nhận vì đấy là những bài hát của trẻ em. Trò chơi dân gian có nhiều thể loại phù hợp với các sở thích, các tính khác nhau của nhiều đối tượng người chơi như sôi nổi, điềm đạm 5 ∕ 28 hay trầm tĩnh. Mỗi trò chơi lại có quy luật riêng, mang những sắc thái khác nhau khiến trẻ em chơi không biết chán. Trò chơi dân gian trẻ em không chỉ đơn thuần là một trò chơi của trẻ con mà nó còn chứa đựng cả nền văn hóa dân tộc Việt Nam độc đáo và giàu bản sắc. Nó không chỉ chắp cánh cho tâm hồn trẻ, giúp trẻ phát triển tư duy sáng tạo, mà còn giúp các em hiểu về tình bạn, quê hương, đất nước. Chính vì vậy, trò chơi dân gian rất cần thiết được lựa chọn, tổ chức trong trường mầm non. Qua từng thời kỳ phát triển của xã hội, các hình thức chơi của trẻ cũng thay đổi. Một số trò chơi dân gian truyền thống, dần bị mai một, thay thế bằng những trò chơi hiện đại với máy móc, công nghệ tiên tiến. Tuy nhiên, trò chơi dân gian có nhiều thế mạnh riêng. Giáo viên có thể sử dụng những vật liệu sẵn có, rẻ tiền, thậm chí không cần đồ dùng, dụng cụ mà chỉ cần trẻ chơi với nhau. Điều này rất phù hợp với tình hình thực tế của cấp học. Trẻ em được tiếp cận và trực tiếp tham gia chơi các trò chơi dân gian sẽ giúp cho trẻ sớm hình thành các thói quen hoạt động có hệ thống, tính tập thể giúp trẻ tự tin, linh hoạt hơn trong mọi hoạt động cũng như sự phát triển sau này của trẻ. Thông qua trò chơi dân gian, trẻ sẽ phát triển được các giác quan (thị giác, thính giác, vị giác, xúc giác, khứu giác), phát triển trí nhớ, phát triển tư duy, trí tưởng tượng, ngôn ngữ. Trẻ mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi ham học hỏi, thích khám phá, tìm tòi và tìm hiểu về thế giới xung quanh. Chúng thực sự là những chủ thể với những năng lực riêng, có khả năng tư duy sáng tạo và giao tiếp với mọi người. Chúng có kỹ năng nghe, hiểu lời nói của người khác và noi cho người khác hiểu. Trẻ 5 – 6 tuổi chủ động, độc lập, có sáng kiến, biết tự tìm kiếm các phương thức giải quyết các nhiêm vụ đặt ra, tự kiểm tra…kết quả trong hoạt động học và vui chơi. Trẻ 5 – 6 tuổi tập trung chú ý và nỗ lực, cố gắng giải quyết và hoàn thành nhiệm vụ trong hoạt động của chúng. Các hành động của trẻ 5 tuổi đòi hỏi phải có tính liên tục và tuần tự. Nhiều trò chơi phải nghĩ kỹ trước khi chơi như: Ô ăn quan, Cờ đi đường…đây là cơ sở để phát triển tính tư duy logic cho trẻ. Mối quan hệ giữa cô giáo và trẻ 5 tuổi trong trò chơi dân gian ngày càng gần gũi. Cô giáo vừa như người bạn chơi với trẻ vừa như người hướng dẫn trẻ chơi, chính nhờ sự giúp đỡ của cô giáo mà trẻ tự lựa chọn nguyên vật liệu để làm đồ chơi và có thể tự tổ chức các trò chơi dân gian mà mình yêu thích. 2. Thực trạng của vấn đề 6 ∕ 28 Trẻ mẫu giáo "chơi mà học, học mà chơi". Trẻ rất hiếu động, tò mò, ham muốn học hỏi, tìm hiểu thế giới xung quanh. Trong khi chơi, trẻ thực sự học để lĩnh hội các khái niệm ban đầu hoặc các tri thức tiền khoa học. Biết được tầm quan trọng đó, là một người giáo viên tôi cần phải coi trọng việc tạo ra môi trường giáo dục trẻ bằng những hoạt động thiết thực, nhằm phát triển một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: Trí tuệ - Đạo đức - Thẩm mĩ - Thể lực. Từ đó, giúp trẻ hoàn thiện nhân cách, ngôn ngữ, tư duy, phát triển các kỹ năng thực hành, giao tiếp, ứng xử. a. Thuận lợi - Luôn được sự hướng dẫn, chỉ đạo sát sao về chuyên môn của phòng giao dục huyện, ban giá hiệu nhà trường. - Được sự quan tâm tạo điều kiện về cơ sở vật chất của ban giám hiệu nhà trường. - Giáo viên trong lớp đoàn kết biết tìm tòi sáng tạo và sưu tập nhiều trò chơi dân gian để tổ chức cho trẻ. - Học sinh của lớp đều học qua các khối nhà trẻ, mẫu giáo bé, nhỡ, 100% học sinh đều học đúng độ tuổi nên việc tổ chức các trò chơi dân gian cho trẻ rất dễ dàng, trẻ dễ nhớ cách chơi các trò chơi. b. Khó khăn - Công việc của giáo viên ở lớp rất nhiều, không có thời gian riêng để làm đồ dùng đồ chơi. - Lớp có nhiều trẻ hiếu động, cha mẹ chưa quan tâm đến con, rất ít cho con nghe và chơi trò chơi dân gian. - Nhiều trẻ chưa thực sự thích chơi các trò chơi dân gian, chỉ thích siêu nhân, hoạt hình. - Đội ngũ giáo viên trong trường trẻ, phần nhiều trong độ tuổi sinh nở và nuôi con nhỏ nên thời gian trao đổi kinh nghiệm giữa đồng nghiệp còn bị hạn chế. * Về phía gia đình: Nhận thức của một số phụ huynh học sinh còn chưa đồng đều, còn cho rằng việc trẻ đến trường chỉ là chơi chứ học vẫn là thứ yếu. 7 ∕ 28 * Về phía nhà trường: Đồ dùng đồ chơi tương đối đầy đủ cho công tác giảng dạy, Ban giám hiệu tạo điều kiện cho giáo viên làm đồ dùng, đồ chơi ở các lớp đáp ứng nhu cầu sử dụng hàng ngày của giáo viên. - Giáo viên được quán triệt, tiếp thu, bồi dưỡng nội dung kế hoạch chuyên đề một cách đầy đủ, sử dụng nguyên vật liệu sẳn có ở địa phương và đã thể hiện đồng bộ về chương trình đổi mới cho từng độ tuổi. * Về phía trẻ: - Số trẻ trong lớp chưa đồng đều về chất lượng, nhiều cháu còn nhút nhát trẻ vẫn chưa tích cực và chủ động trong học tập. Một số trẻ không học qua lởp Mẫu giáo nên các kĩ năng vẽ , nặn , xé dán vẫn còn yếu . - Các bậc phụ huynh mải làm ăn kinh tế ít quan tâm đến việc học tập của con nên khả năng tiếp cận nghệ thuật của trẻ chưa tốt. c. Khảo sát thực tế Căn cứ vào khả năng nhận thức của trẻ lớp mình, căn cứ vào kế hoạch thực hiện các hoạt động theo các chủ đề, tôi lựa chọn sưu tập những trò chơi dân gian TT Chủ đề Trò chơi dân gian Trường mầm non Nhảy bao bố, thả đỉa ba ba, kéo co, bắn bi 2 Gia đình Nu na nu nống,chi chi chành chành, hội dồng tổng cốc, chốn tim,ô ăn quan… 3 Nghề nghiệp Đi cà kheo, kéo cưa lừa xẻ. 4 Thế giới động vật Nặn tò he, rồng rắn lên mây, mèo đuổi chuột, bịt mắt bắt dê, gắp cua bỏ giỏ,. 5 Thế giới thực vật, Tết và mùa xuân Tập tầm vông, trồng nụ trồng hoa, đua thuyền, cướp cờ, đập niêu, chơi đu. 6 Phương tiện và quy định Rải rồng rải rét, trồng đống trồng kê,đua 1 1 8 ∕ 28 giao thông xe bò. 7 Nước và các mùa trong năm Kéo co 8 Trường tiểu học Nhảy dây, gẩy chun nịt. 9 Quê hương đất nước – Bác Hồ Kéo cưa lừa xẻ, cướp cờ,đồ, chơi đu. *Kết quả đạt được Tôi đã lựa chọn, sưu tầm được 35 trò chơi dân gian. Khi đã lựa chọn được theo chủ đề, đã giúp tôi sử dụng các trò chơi dân gian dạy trẻ một cách hiệu quả. Trẻ hào hứng tham gia trò chơi dân gian mà tôi tổ chức. Trẻ nắm được cơ bản cách chơi, luật chơi của các trò chơi. 3.Các biện pháp thực hiện Biện pháp 1: Lựa chọn các trò chơi dân gian phù hợp với lứa tuổi của trẻ. Trò chơi dân gian rất phong phú và đa dạng, vì thế không hẳn trò chơi nào cũng phù hợp với trẻ nhỏ. Bởi vậy, khi lựa chọn trò chơi dân gian tôi đã lựa chọn những trò chơi đơn giản, dể hiểu, dễ nhớ đối với trẻ. Với trẻ 5 – 6 tuổi, khả năng chú ý có chủ định và nhận thức của trẻ đã cao hơn rất nhiều so với lứa tuổi trước. Vì thế, trẻ có thể chơi được các trò chơi dài hơn và khó hơn. Khi lựa chọn các trò chơi dân gian cho trẻ MGL, tôi thực hiện theo các tiêu chí sau: + Trò chơi không quá đơn giản nhưng cũng không quá phức tạp. + Đồ dùng đồ chơi phục vụ cho trò chơi dễ kiếm, dễ tìm. + Giúp củng cố tư duy, ngôn ngữ, vận động, kỹ năng cho trẻ. + Gây được hứng thú, thu hút sự chú ý của trẻ. + Có sự tham gia của tập thể lớp hoặc nhóm trẻ trong lớp. Từ những tiêu chí trên, tôi đã lựa chọn các trò chơi sau cho trẻ: “Thả đỉa ba ba”, “Ô ăn quan”, “Chuyền thẻ”, “Lộn cầy vồng”, “Trốn tìm”, “Đếm sao”, “Kéo co”, “Mèo đuổi chuột”, “Rồng rắn lên mây”, “Chồng đống chồng đe”, “Trồng nụ trồng hoa”, “Vuốt hột nổ”, “Cướp cờ”… 9 ∕ 28 Với mỗi trò chơi tôi thường nghiên cứu số lượng người chơi, cách chơi, địa diểm chơi, cách chơi, luật chơi để tổ chức, hướng dẫn trẻ chơi. Ví dụ: * Trò chơi: “Thả đỉa ba ba”: – Số lượng người chơi: 10 đến 12 người chơi. – Địa điểm chơi: Sân rộng. – Cách chơi: Vẽ một vòng tròn rộng 3m hoặc vẽ 2 đường thẳng song song, cách nhau 3m để làm sông (tùy theo số lượng người chơi để vẽ sông to hay nhỏ). Các bạn chơi đứng thành vòng tròn quay mặt vào trong. Chọn một bạn vào trong vòng tròn vừa đi vừa đọc bài đồng dao: Thả đỉa ba ba Chớ bắt đàn bà Phải tội đàn ông Cơm trắng như bông Gạo tiền như nước Đổ mắm đổ muối Đổ chuối hạt tiêu Đổ niêu nước chè Đổ phải nhà nào Nhà đấy phải chịu Cứ mỗi tiếng đọc lại đập nhẹ vào vai một bạn. Tiếng cuối cùng rơi vào ai thì bạn đó phải làm đỉa. 10 ∕ 28 Hình ảnh minh họa trò chơi” Thả đỉa ba ba” Đồ dùng đồ chơi của các trò chơi dân gian cũng vô cùng đa dạng và phong phú, mang tính đặc trưng và được thiết kế dựa vào cách chơi và luật chơi của từng trò chơi. Chính vì vậy, trước khi tổ chức cho trẻ chơi một trò chơi dân gian nào đó thì giáo viên cần phải tìm hiểu trước về cách chơi, luật chơi cũng như các đồ dùng trong trò chơi cần đếm. Để từ đó có thể chuẩn bị đầy đủ những thứ cần thiết cho một trò chơi và tổ chức được tốt. Mỗi trò chơi dân gian có một hoặc nhiều loại đồ dùng đồ chơi tương ứng mà thiếu nó thì trò chơi không thể tiến hành được. Ví dụ như trò: “Chơi chuyền” đòi hỏi phải có 10 que chuyền và một đồ vật có dạng khối cầu như quả bóng, quả bưởi non… Trò chơi “Ném còn” không thể diễn ra nếu thiếu quả còn – đồ chơi truyền thống của trò chơi đó. Hay đơn giản như trò chơi “Bịt mắt bắt dê” cũng không thể được tổ chức nếu không có dải vải hoặc dải khăn bịt mắt… Chính vì vậy, trước khi tổ chức cho trẻ chơi một trò chơi dân gian nào đó, giáo viên cần tìm hiểu kỹ lưỡng về luật chơi, cách chơi cũng như việc có hay không có đồ dùng đồ chơi phục vụ cho trò chơi để từ đó có thể chuẩn bị đầy đủ các yếu tố cần thiết cho trò chơi. “Đỉa” đứng vào giữa sông, người chơi tìm cách lội qua sông, vừa lội vừa hát: “Đỉa ra xa tha hồ tắm mát”. Đỉa phải chạy đuổi bắt người qua sông. Nếu 11 ∕ 28 chạm được vào ai (bạn chưa lên bờ) thì coi như bị thua, phải làm đỉa thay, trò chơi lại tiếp tục. – Luật chơi: + Người đọc bài ca phải lưu loát hấp dẫn, mỗi tiếng ca phải chỉ đúng vào một bạn, không được bỏ sót bạn nào. + Đỉa phải chạy được trong ao hoặc sông, không được lên bờ.Người phải lội qua ao, không được đi hoặc đứng mãi trên bờ. + Đỉa chạm vào bất cứ phần thân thể của ai khi họ còn trong ao thì người đó phải bị thua, vào làm đỉa thay. + Với một khoảng thời gian mà đỉa không bắt được ai thì đổi bạn làm đỉa, trò chơi lại tiếp tục. * Trò chơi: “Ô ăn quan”: – Số lượng người chơi: 2 đến 5 người chơi. – Địa điểm chơi: Trong phòng nhóm hoặc ngoài sân trường. – Cách chơi:Vẽ 1 hình chữ nhật chia đôi theo chiều dài và ngăn thành 5 hàng dọc cách khoảng đều nhau, ta có được 10 ô vuông nhỏ. Hai đầu hình chữ nhật được vẽ thành 2 hình vòng cung, đó là ô quan lớn đặc trưng cho mỗi bên, đặt vào đó 1 viên sỏi lớn có màu sắc khác nhau để dễ phân biệt 2 bên, mỗi ô vuông được đặt 5 viên sỏi nhỏ, mỗi bên có 5 ô. Hai người ngồi bên. Người thứ nhất đi quan nắm sỏi trong 1 ô vuông bất kỳ, sỏi rải đều xung quanh từng viên một trong những ô vuông cả phần ô quan lớn. Khi đến hòn sỏi cuối cùng ta vẫn lấy ô bên cạnh và cứ thế tiếp tục đi quan (bỏ những viên sỏi nhỏ vào từng ô liên tục). Cho đến lúc nào viên sỏi cuối cùng được dừng cách khoảng là 1 ô trống, như thế ta chập ô trống bắt lấy phần sỏi trong ô bên cạnh để nhặt ra ngoài. Vậy là những viên sỏi đó đã thuộc về người chơi và người đối diện mới bắt đầu được chơi. Đến lượt đối phương đi quan cũng như người đầu tiên. Cả hai thay phiên nhau đi quan cho đến khi nào nhặt được phần ô quan lớn và lấy được hết phần của đối phương. Như thế người đối diện đã thua hết quan. – Luật chơi: + Hết quan toàn dân thu quân kéo về. + Hết ván lại bày như cũ. + Ai thiếu phải vay của bên kia. + Tính thắng thua theo nợ các viên sỏi. Quan ăn 10 viên sỏi. 12 ∕ 28 Hình ảnh minh họa trò chơi “ Ô ăn quan’ * Trò chơi: “Mèo đuổi chuột”: – Số lượng người chơi: Từ 7 đến 10 người chơi hoặc có thể chơi tập thể lớp. – Địa điểm chơi: Sân rộng. – Cách chơi: Tất cả đứng thành vòng tròn, tay nắm tay giơ lên cao rồi hát: Mèo đuổi chuột Mời bạn lại đây Tay nắm chặt tay Đứng thành vòng rộng Chuột luồn lỗ hổng Mèo chạy theo sau Chuột cố chạy mau Trốn đâu cho thoát Thế rồi chú chuột Lại hóa vai mèo Co cẳng chạy theo Bỗng mèo hóa chuột. 13 ∕ 28 Một người được chọn làm mèo và một người được chọn làm chuột.Hai người này đứng giữa vòng tròn, quay lưng vào nhau. Khi mọi người hát đến câu cuối thì chuột bát đầu chạy, mèo chạy đuổi theo sau. Tuy nhiên mèo phải chạy đúng lỗ chuột đã chạy. – Luật chơi: Nếu mèo không chạy đúng lỗ để bắt chuột thì mèo sẽ bị thua. Nếu chuột bị mèo bắt thì chuột cũng bị thua. * Trò chơi: “Rồng rắn lên mây“: – Số lượng người chơi: từ 7 đến 10 người chơi hoặc có thể tập thể lớp. – Địa điểm chơi: Sân rộng. – Cách chơi: Một người đứng ra làm thầy thuốc những người còn lại xếp hàng một, tay người sau nắm vạt áo hoặc đặt lên vai người đằng trước. Sau đó tất cả bắt đầu đi lượn qua lượn lại như con rắn, vừa đi vừa hát: Rồng rắn lên mây Có cây lúc lắc Có nhà điểm binh Hỏi thăm thầy thuốc Có nhà hay không? Người đóng vai thầy thuốc trả lời: – Thầy thuốc đi chơi (hay đi chợ, đi câu cá, đi vắng nhà). 14 ∕ 28 Đoàn người lại tiếp tục đi và hát tiếp cho đến khi nào thầy thuốc trả lời: – Có! Và bắt đầu đoạn đối thoại như sau: Thầy thuốc hỏi: – Rồng rắn đi đâu? Người đứng đầu làm cái trả lời: – Rồng rắn đi lấy thuốc để chữa bệnh cho con. – Con lên mấy? – Con lên một. – Thuốc chẳng hay. – Con lên hai. – Thuốc chẳng hay. Cứ như thế cho đến khi cái trả lời: Con lên mười. Thuốc hay vậy. Tiếp theo thầy thuốc đòi hỏi – Xin khúc đầu. – Những xương cùng xẩu. – Xin khúc giữa. – Những máu cùng me. – Xin khúc đuôi. – Tha hồ thầy đuổi. Lúc đó thầy thuốc phải tìm cách bắt được người cuối cùng trong hàng. Người đứng đầu hàng phải dang tay chạy cố ngăn cản không cho thầy thuốc bắt được người ở cuối hàng. Trong lúc đó người ở cuối hàng phải chạy và tìm cách né tránh thầy thuốc. – Luật chơi: Nếu người thầy thuốc bắt được người cuối cùng thì người đó phải làm thay thầy thuốc. * Trò chơi: “Bịt mắt bắt dê“: – Số lượng: 10 đến 12 trẻ hoặc tập thể lớp. 15 ∕ 28 – Địa điểm: Sân chơi rộng rãi. – Cách chơi: Sau khi chơi trò “Oẳn tù tì”, người thua sẽ phải bị bịt mắt và đi tìm dê, những người khác làm dê chạy nhảy xung quanh. Những người làm dê phải luôn miệng kêu “be, be” hoặc trêu chọc người bị bắt làm dê, phải luôn né tránh người bị bịt mắt đang tìm cách bắt dê. Khi nào người bị bịt mắt chạm vào con dê nào thì người đó bị bịt mắt. Sau khi dùng khăn tay bịt mắt, mọi người sẽ chạy xung quanh người bịt mắt bằng cách đập vào vai hay vuốt má người bị bịt mắt rồi chạy khi người đó chụp mình. – Luật chơi: Khi người bị bịt mắt chụp được người nào, phải đoán và nói tên người đó. Nếu nói đúng thì người bị bắt bị bịt mắt, nếu nói sai trò chơi tiếp tục như cũ. Người bị bắt có thể lừa người bị bịt mắt bằng cách khụy chân xuống giả làm người lùn hoặc kiễng chân lên cao, cốt làm sao cho người bị bịt mắt không đoán ra mình. * Trò chơi: “Kéo co“: – Số lượng: 10-12 người hoặc tập thể lớp. – Địa điểm: Sân chơi rộng rãi. – Cách chơi: Một sợi dây thừng dài được đặt ở sân và ở giữa dây có mốc đánh dầu. Số người chơi được chia đều về 2 đội. Mọi người cùng nắm tay vào sợi dây và dùng sức để kéo. – Luật chơi: Mốc đánh dấu về phía đội nào thì đội đó là đội chiến thắng. Hình ảnh minh họa trò chơi “ kéo co” 16 ∕ 28 * Trò chơi: “Trồng nụ trồng hoa“: Số lượng: Chơi theo nhóm từ 5 trẻ trở lên. – Địa điểm chơi: Trong phòng hoặc ngoài sân trường. – Cách chơi: Chọn hai người ngồi bệt xuống đất, đối diện nhau. Chồng các bàn chân rồi đến các bàn tay, lần lượt nắm rồi xòe ra. Số người còn lại nhảy qua. Khi nào đủ bốn chân bốn tay xòe mà người nhảy không bị chạm thì người nhảy được quyền chơi tiếp ván khác. – Luật chơi: Khi người nhảy chạm vào chân thì mất lượt, phải ngồi vào thay thế. * Trò chơi: Lộn cầu vồng: – Số lượng: Chơi theo nhóm, mỗi nhóm có 2 người. – Địa điểm chơi: Trong phòng hoặc ngoài sân trường. – Cách chơi: Hai trẻ đứng quay mặt vào nhau, vừa vung tay lên theo nhịp vừa hát: Lộn cầu vồng Nước trong nước chảy Có cô mười bảy Có chị mười Hai chị em ta Ra lộn cầu vồng. Khi hát tiếng cuối cùng cả hai trẻ vẫn nắm tay vào nhau cùng giơ lên đầu rồi cùng chui qua tay về một phía, quay lưng vào nhau. Ở tư thế quay lưng vào nhau các em tiếp tục vung tay lên rồi hạ tay xuống như lần trước vừa vung tay vừa hát. Đến tiếng cuối cùng các em lại chui qua tay lộn lại và về tư thế như ban đầu. Biện pháp 2: Chuẩn bị đồ dùng, đồ chơi, lời ca trước khi tổ chức cho trẻ tham gia vào các trò chơi dân gian: * Chuẩn bị đồ dùng đồ chơi: Đồ dùng đồ chơi của các trò chơi dân gian cũng vô cùng đa dạng và phong phú, mang tính đặc trưng và được thiết kế dựa vào cách chơi và luật chơi của từng trò chơi. Chính vì vậy, trước khi tổ chức cho trẻ chơi một trò chơi dân gian nào đó tôi cần phải tìm hiểu trước về cách chơi, luật chơi cũng như các đồ 17 ∕ 28 dùng trong trò chơi cần đến. Để từ đó có thể chuẩn bị đầy đủ những thứ cần thiết cho một trò chơi và tổ chức được tốt. Mỗi trò chơi dân gian có một hoặc nhiều loại đồ dùng đồ chơi tương ứng mà thiếu nó thì trò chơi không thể tiến hành được. Ví dụ như trò: “Chơi chuyền“: tôi chuẩn bị 10 que chuyền và một đồ vật có dạng khối cầu như quả bóng, quả bưởi non… Trò chơi “Ném còn“ tôi chuẩn bị quả còn – đồ chơi truyền thống của trò chơi đó. Hay đơn giản như trò chơi “Bịt mắt bắt dê” cũng không thể được tổ chức nếu không có dải vải hoặc dải khăn bịt mắt… Chính vì vậy, trước khi tổ chức cho trẻ chơi một trò chơi dân gian nào đó, tôi tìm hiểu kỹ lưỡng về luật chơi, cách chơi cũng như việc có hay không có đồ dùng đồ chơi phục vụ cho trò chơi để từ đó có thể chuẩn bị đầy đủ các yếu tố cần thiết cho trò chơi. Đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho trò chơi * Dạy trẻ đọc thuộc lời ca (đối với những trò chơi có lời đồng dao): Một đặc điểm đặc trưng của trò chơi dân gian đó là khi chơi trẻ không bao giờ chỉ hùng hục thực hiện các vận động của mình mà chúng thường vừa chơi vừa hát hoặc đọc lời đồng dao nào đó. Các bài đồng dao đó khiến cho không khí chơi vui vẻ, nhộn nhịp hơn. Mặc dù không phải bài đồng dao nào cũng có ý nghĩa, song bài nào cũng phù hợp với tư duy hồn nhiên của trẻ. Ví dụ như: chơi ” Chi chi chành chành”, trẻ đọc: “Chi chi chành chành Cái đanh thổi lửa Con ngựa chết trương Tam vương ngũ đế Bắt dế đi tìm Ù à ù ập…”. Câu hát dường như chẳng có mạch ý nào rõ ràng, nhưng thiếu nó thì trò chơi không thể tiến hành. Hay như chơi “Rải ranh” trẻ hát: “Rải ranh Bẻ cành Hái ngọn Chọn đôi”. 18 ∕ 28 Cùng với lời hát trong trẻo là bàn tay rải những viên sỏi một cách khéo léo, tung viên cái lên, nhặt một hoặc hai viên con dưới đất, rồi lại giơ tay đỡ viên cái vừa rơi xuống. Trò chơi chỉ có thể được tổ chức khi trẻ đã thuộc lời đồng dao. Chính vì vậy, tôi thường cho trẻ làm quen với lời đồng dao của các trò chơi dân gian trước khi hướng dẫn trẻ chơi vào các thời điểm trong ngày của trẻ như: hoạt động chiều, hoạt động ngoài trời… Khi trẻ đã thuộc lời đồng dao, tôi tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi tương ứng với lời đồng dao đó. Vì thế, trẻ chơi rất hứng thú và tích cực tham gia chơi. Biện pháp 3: Chuẩn bị địa điểm để tổ chức trò chơi: Mỗi trò chơi dân gian có một cách chơi và luật chơi khác nhau. Có những trò và đòi hỏi địa điểm chơi phải có diện tích rộng như “Kéo co”, “Rồng rắn lên mây”, “Thả đỉa ba ba”, “Trồng nụ trồng hoa”… Trẻ chơi trò chơi “Kéo co” Nhưng lại cũng có những trò chơi tĩnh, trẻ hay chơi theo các nhóm nhỏ như “Chi chi chành chành”, “Ô ăn quan”, “Rải ranh”. Trẻ chơi trò chơi “Ô ăn quan” Biện pháp 4: Tổ chức trò chơi dân gian vào các hoạt động học: Mỗi hoạt động của trẻ đều nhằm đạt được một mục đích nhất định. Vì thế, hoạt động nào cũng có tính chất riêng của nó. Nếu như hoạt động chung được tổ chức nhằm cung cấp các kiến thức cho trẻ thì hoạt động ngoài trời lại giúp trẻ được gần gũi với thiên nhiên, khám phá các hiện tượng tự nhiên và phát triển thể chất; hay như ở hoạt động góc trẻ lại được mở rộng thêm về kinh nghiệm sống và kỹ năng chơi theo nhóm. Chính vì vậy, tôi chú ý lựa chọn và tổ chức các trò chơi dân gian cho phù hợp với tính chất của từng hoạt động. * Hoạt động ngoài trời: tôi tận dụng không gian rộng và thoáng, tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi vận động nhằm rèn luyện và phát triển thể lực cho trẻ như: “Rồng rắn lên mây”, “Bịt mắt bắt dê”, “Nhảy dây”, “Nhảy lò cò”, “Thả đỉa ba ba”, Lộn cầu vồng… Trẻ chơi trò chơi “Bịt mắt bắt dê” * Hoạt động góc: tôi đã tổ chức cho trẻ các trò chơi có thể chơi theo nhóm nhỏ trong một không gian hẹp như: ” Ô ăn quan”, “Chơi chuyền”, “Rải ranh”, “Chuyền thẻ”, “Kéo cưa lửa xẻ” 19 ∕ 28 Trẻ chơi trò chơi “Chơi chuyền” * Hoạt động chung và hoạt động chiều ( chủ yếu diễn ra trong phòng nhóm): nên tổ chức cho trẻ các trò chơi tĩnh nhằm phát triển nhận thức cho trẻ như: “Ô ăn quan”, “Tập tầm vông”, “Rải ranh”, “Chơi chuyền”, “Chơi cờ”, “Vấn đáp”, “Đếm sao”, “Đọc câu”… Trẻ chơi trò chơi “Rải ranh” Đặc biệt khi tích hợp trò chơi dân gian trong hoạt động chung, giáo viên cần lựa chọn trò chơi phù hợp với đặc điểm của từng môn học. * Hoạt động giáo dục thể chất: tôi lựa chọn các trò chơi vận động nhằm rèn luyện thân thể khoẻ mạnh, hoạt bát và năng động. Nhiều trò chơi đòi hỏi trẻ phải mạnh mẽ, nhanh chân, nhanh mắt, nhanh miệng. Trẻ phải có sức khỏe mới có thể vui chơi và ngược lại vui chơi giúp cho trẻ thêm khỏe mạnh và năng động. Ví dụ: + Trò chơi “Rồng rắn lên mây“, khi trẻ đọc xong câu cuối: “Xin khúc đuôi – Tha hồ thày đuổi”, lập tức trẻ làm “đuôi” (đứng sau cùng) phải chạy thật nhanh, nếu không sẽ bị “thầy” tóm lấy, sau đó có thể bị thay người khác hoặc lại phải làm “thầy” để đuổi những trẻ khác. Trò chơi “Rồng rắn lên mây” + Trò chơi “Nhảy dây”, “Trồng nụ trồng hoa”, “Nhảy lò cò” có nhiều nấc chơi nho nhỏ: từ bàn một, bàn hai… đến bàn mười (Nhảy lò cò ); từ một nụ, một hoa… đến tám hoa (Trồng nụ trồng hoa )… Trẻ phải vượt qua dần từng nấc, hết nấc này mới đi tiếp nấc sau. Như vậy, trẻ phải dai sức, khỏe mạnh, nhanh nhẹn và khéo léo mới có thể tiến dần đến được nấc cuối của trò chơi. Trẻ chơi trò chơi “Nhảy dây” + Trò “Chi chi chành chành” lại buộc trẻ phải rất nhanh tay, nhanh miệng vì nếu câu cuối bài là “ù à ù ập” được đọc xong mà trẻ không rút kịp tay ra, ngón tay của nó sẽ bị giữ lại, như thế là thua. Trẻ chơi trò chơi “Chi chi chành chành” – Làm quen môi trường xung quanh, làm quen với toán, làm quen văn học khi lựa chọn các trò chơi tôi đã lồng ghép các trò chơi dân gian để cung cấp cho trẻ những kỹ năng như: kỹ năng hoạt động theo nhóm, kỹ năng sử dụng đồ dùng, đồ chơi và rèn luyện trí nhớ, khả năng tư duy cho trẻ. 20 ∕ 28
- Xem thêm -