Tài liệu Skkn một số biện pháp kết hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ mầm non

  • Số trang: 20 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 10533 |
  • Lượt tải: 13
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN TÂN UYÊN TRƯỜNG MẦM NON SỐ 1 THỊ TRẤN TÂN UYÊN -----------------------  ----------------------------- SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP KẾT HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, GIÁO DỤC TRẺ MẦM NON ----------------------------------------- Người thực hiện: Hồ Thị Vinh Chức vụ: Hiệu trưởng Tổ chuyên môn: Mẫu giáo Tân Uyên, tháng 3 năm 2012 1 PHẦN MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài: Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của nhân cách con người. Chính vì thế, hầu hết các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều xác định giáo dục mầm non là một mục tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi người. Thụy Điển coi giai đoạn mầm non là “Thời kỳ vàng của cuộc đời''. Chăm sóc giáo dục trẻ ở tuổi mầm non là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết; công việc đó đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội để tạo ra một môi trường giáo dục thống nhất và thuận lợi, đây cũng là một nguyên tắc cơ bản được quán triệt trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non. Điều 93 Luật Giáo dục 2005 khẳng định“Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục”. Trường Mầm non có nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ để trẻ phát triển một cách toàn diện và chuẩn bị tâm thế cho trẻ bước vào lớp 1. Song không thể coi trường Mầm non là nơi duy nhất đảm bảo hoàn toàn quá trình giáo dục cho trẻ, bởi vì hàng ngày trẻ chỉ ở trường Mầm non với một thời gian nhất định, còn lại trẻ sống ở gia đình và chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của môi trường giáo dục gia đình. Do đó để thực hiện mục tiêu giáo dục nói chung, giáo dục Mầm non nói riêng, không những phải làm tốt công tác giáo dục trong nhà trường mà còn phải kết hợp chặt chẽ với gia đình và xã hội để làm tốt công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Hồ Chủ Tịch đã dạy: "Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn". Vì vậy việc kết hợp thống nhất giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội đã trở thành một nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong thực tế hiện nay cho ta thấy trường nào có chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ tốt hơn thì nơi đó mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội gắn bó, thường xuyên có sự kết hợp chặt chẽ thống nhất ba môi trường giáo dục trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ. Xác định được tầm quan trọng cũng như vai trò, vị trí của công tác kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc chăm sóc giáo dục trẻ nhằm làm tốt hơn công tác chăm sóc giáo dục trẻ, tăng cường mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội, từng bước đáp ứng mục tiêu, chiến lược phát triển giáo dục Mầm non trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nªn t«i ®· chän ®Ò tµi “Một số biện pháp kết hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội nhằm 2 nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ mầm non” ở trường Mầm non số 1 thị trấn Tân Uyên - HuyÖn T©n Uyªn. II. Phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu công tác chỉ đạo “Kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ” ở trường Mầm non số 1 thị trấn Tân Uyên. Nghiên cứu nội dung và biện pháp chỉ đạo kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ Mầm non trong 2 năm học trước tại trường Mầm non Thân Thuộc; tiếp tục nghiên cứu, vận dụng trong năm học 2011- 2012 tại trường Mầm non số 1 thị trấn Tân Uyên. Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp kết hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ mầm non” tôi đã sử dụng phối hợp các phương pháp: Phương pháp nghiên cứu lý luận (Tìm đọc sách và tài liệu có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu); phương pháp nghiên cứu thực tiễn; phương pháp quan sát sư phạm; phương pháp trò chuyện; phương pháp thống kê toán học. IV. Mục đích nghiên cứu: Làm rõ vấn đề lý luận của công tác kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ. Dựa vào tình hình thực tiễn, đề tài phân tích thực trạng về công tác kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ trường Mầm non. Đưa ra những giải pháp nhằm khai thác các tiềm năng về nguồn lực, vật lực, tài lực trong xã hội. Phát huy có hiệu quả các nguồn lực tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục trong nhà trường phát triển, nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ trong trường Mầm non. V. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm về ngành học cho mọi tầng lớp nhân dân, tạo niềm tin tưởng vào chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ ở nhà trường, tuyên truyền sâu rộng về ngành học, nâng cao chất lượng đội ngũ. Quan tâm chỉ đạo xây dựng kế hoạch, nội dung, hình thức để tuyên truyền tới phụ huynh học sinh và các đoàn thể xã hội, tổ chức hoạt động dựa trên đặc trưng của ngành học và có vận dụng linh hoạt giữa lý thuyết và thực tiễn quản lý. Kết hợp công tác chỉ đạo kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội với giáo viên. 3 PHẦN NỘI DUNG I. Cơ sở lý luận: 1. Chức năng của gia đình trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ. Dân tộc ta vốn có truyền thống rất coi trọng gia đình vì nó là nơi sản sinh, nuôi dưỡng và là trường học đầu tiên của mỗi con người. Mỗi con người sinh ra ai cũng có gia đình, việc nuôi dạy con là công việc quan trọng nhất của mỗi gia đình. Gia đình là một tế bào của xã hội, là một xã hội thu nhỏ, gia đình có cấu trúc đa dạng về đời sống, là một tập thể không thuần nhất, khác nhau về tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp. Do đó việc giáo dục mang tính phối hợp mhiều mặt, phương pháp giáo dục của gia đình là thuyết phục, giảng giải, lắng nghe và trao đổi ý kiến. Gia đình là cái nôi của xã hội, cái nôi đầu tiên giáo dục, nuôi dưỡng nhân cách trẻ. Chăm sóc giáo dục trẻ là một quá trình liên tục và lâu dài, diễn ra mọi lúc, mọi nơi. Trẻ nhỏ chủ yếu sống trong sự đùm bọc yêu thương của cha mẹ, của những người thân trong gia đình và trường Mầm non, đặc biệt là sự chăm sóc giáo dục tận tình của cô giáo Mầm non. Giáo dục gia đình có ưu thế hơn xã hội và giáo dục nhà trường vì nó xuất phát từ tình cảm và thông qua tình cảm, có khi không cần lời nói mà chỉ cần qua thái độ, việc làm, cách đối xử trong gia đình, gia đình là một tổ ấm đảm bảo điều kiện an toàn cho trẻ nhỏ phát triển. Nhân cách của đứa trẻ phụ thuộc một phần vào nề nếp gia đình, giáo dục phải được bắt đầu từ gia đình rồi mới đến nhà trường và xã hội. Gia đình là cơ sở hết sức quan trọng cho sự hình thành nhân cách của mỗi con người từ nhỏ đến khi trưởng thành và về sau. Ngày nay xã hội đã xác định giáo dục con cái là trách nhiệm của gia đình, như điều 64 Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định “Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con trở thành người công dân tốt, con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông, bà, cha, mẹ”. Với một nguồn tình cảm tự nhiên các gia đình đã thực hiên chức năng giáo dục con cái một cách tích cực với mong muốn có những đứa con khoẻ mạnh, thông minh, ngoan ngoãn, lớn lên là người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội. Maraken đã khẳng định: “Những gì bố mẹ làm được cho con trước 5 tuổi đó là đã đạt 90% kết quả của quá trình giáo dục”. 2. Vị trí, nhiệm vụ của trường Mầm non trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ. Có thể nói giáo viên mầm non là người đặt viên gạch đầu tiên xây dựng nền móng cho sự phát triển nhân cách của trẻ. Theo su thế tiến bộ của thời đại đây là khâu đầu tiên của quả trình giáo dục thường xuyên cho mọi người, những 4 năm đầu của cuộc đời trẻ nhỏ có tầm quan trọng đặc biệt, đó là thời kỳ mà sự tăng trưởng và phát triển rất nhanh, nhân cách bắt đầu được hình thành; khối lượng thu hoạch đạt được rất lớn khiến chúng ta có thể coi sự thành đạt trong những năm đầu đời của trẻ quyết định lớn đến tương lai sau này. Nhiệm vụ của Giáo dục mầm non là chăm sóc, giáo dục trẻ từ 0 đến 6 tuổi thành người chủ tương lai của đất nước, đó là một người con người cường tráng về thể chất, phát triển về trí tuệ, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức. Bởi vậy trường Mầm non được xác định là sự khởi đầu cực kỳ quan trọng của sự nghiệp đào tạo con người vì đối với trẻ nhỏ đây là thời kỳ hình thành và phát triển nhân cách. Do vậy, việc chăm sóc giáo dục trẻ ở trường Mầm non phải nhằm đạt được mục tiêu: Hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Để thực hiện được mục tiêu trên trường Mầm non cần kết hợp chặt chẽ việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ ở nhà trường với gia đình và xã hội nhằm tạo ra môi trường giáo dục thống nhất. 3. Sự cần thiết phải kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Trong văn kiện Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã khảng định: "Giáo dục và Đào tạo là sự nghiệp của toàn đảng, của nhà nước và của toàn dân. Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội, các gia đình và các cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp Giáo dục & Đào tạo, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục đào tạo. Kết hợp chặt chẽ giáo dục ở nhà trường, gia đình và xã hội tạo nên một môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi, trong từng cộng đồng và từng tập thể". Trường Mầm non là nơi nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ một cách khoa học. Đội ngũ giáo viên Mầm non được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực sư phạm, thực sự biết tổ chức và thu hút trẻ tích cực tham gia các hoạt động bằng phương pháp và hình thức giáo dục phù hợp, tạo điều kiện tối ưu cho sự phát triển toàn diện nhân cách của trẻ và trang bị những kiến thức cơ bản nhất định, chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp 1. Kết hợp giữa nhà trường và gia đình sẽ tạo ra môi trường thuận lợi và thống nhất về nội dung, phương pháp, cách tổ chức chăm sóc trẻ ở lớp cũng như ở nhà, tránh được sự trái ngược về cách thức tác động đến trẻ, nâng cao hiệu quả nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ. II. Thực trạng của đề tài 1. Thực trạng: Năm học 2011-2012 được sự phân công UBND, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Tân Uyên bản thân tôi được điều động về công tác tại trường Mầm non số 1 thị trấn Tân Uyên. Trường có 2 điểm trường cách nhau 1,5 km; địa bàn tương đối rộng gồm 9 khu phố. Thị trấn Tân Uyên là nơi sinh sống của 10 dân 5 tộc gồm: Thái, Kinh, Mông, Khơ Mú, Dao, Lào, Dáy...Trong đó, người Kinh chiếm số đông với gần 58%. Mặc dù là trường thị trấn thuộc trung tâm huyện nhưng phần đa học sinh là con em công nhân Công ty trà, nông dân, buôn bán; và một điểm trường 100% học sinh là dân tộc thiểu số nên phần do mải lo toan cuộc sống gia đình, phần nhận thức về ngành học Mầm non của một số phụ huynh còn hạn chế bởi vậy chưa thực sự quan tâm tới việc chăm sóc, nuôi dạy trẻ còn phó mặc cho nhà trường; đóng góp bữa ăn cho trẻ tại trường chưa đủ nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ…. Tìm hiểu những năm qua cho thấy công tác phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội của trường Mầm non số 1 thị trấn Tân Uyên đã được quan tâm và bước đầu đạt những kết quả nhất định. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy quá trình triển khai công tác này còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Để đẩy mạnh hơn nữa công tác phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non cần sử dụng một cách đồng bộ các giải pháp khác nhau. Với việc vận dụng có hiệu quả kinh nghiệm chỉ đạo “Kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội", sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, sự nhiệt tình tâm huyết với nghề của đội ngũ cán bộ, giáo viên nên năm học 2011 - 2012 nhà trường đã đạt được những thành công nhất định, góp phần phát triển giáo dục mầm non trên địa bàn thị trấn Tân Uyên nói riêng và huyện Tân Uyên nói chung. Năm học 2011 - 2012 quy mô phát triển được tăng lên rõ rệt, mạng lưới lớp học được phát triển theo quy hoạch. Toàn trường hiện có 2 điểm trường/ 11 lớp với 328 học sinh. Công tác phát triển số lượng, chất lượng của nhà trường ngày càng tăng lên được thể hiện ở bảng 1 và bảng 2. * Bảng 1: Công tác phát triển số lượng: Năm học 2010 - 2011 2011 - 2012 Tổng số lớp 10 11 Tổng số học sinh 0 đến 2 tuổi 81 96 Tỷ lệ huy động 0 - 2 tuổi ra lớp 36% 45,3% Tổng số học sinh 3 - 5 tuổi ra lớp 221 232 90,1% 95,7% 69 72 100% 100% Tỷ lệ huy động 3 -5 tuổi ra lớp Học sinh 5 tuổi Tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi ra lớp 6 Qua bảng 1 cho thấy tỷ lệ trẻ đến trường tăng dần, hệ thống trường lớp ngày càng phát triển, đáp ứng nhu cầu học tập của con em các dân tộc địa phương. * Bảng 2: Công tác chất lượng nuôi dạy trẻ: Năm học 2010 -2011 nhà trường có 90% học sinh được ăn bán trú với hình thức nấu ăn, mức ăn 8000 đồng/ngày/1 trẻ; 10% học sinh ăn cơm cặp lồng. Đến năm 2011 -20112 đã có 100% học sinh ăn bán trú với hình thức nấu ăn, mức ăn nâng lên 12000 đồng/ngày/1 trẻ; chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ngày được nâng cao. Cụ thể: Chất lượng chăm sóc Chất lượng giáo dục Năm học CNBT 273 2010 - 2011 (90,4%) 310 2011 - 2012 (94,5%) SDDV 29 (9,6%) 18 (5,5%) CCBT 272 TCĐ1 Bé khoẻ Bé ngoan 30 272 258 Bé chăm sạch 273 284 (90,1%) (9,9%) (90,1%) (85,4%) (90,4%) 307 21 (93,5%) (6,5%) 315 (96%) 310 Bé (94%) 312 (94,5%) (95,1%) 326 (99,4) * Về cơ sở vật chất: - Các lớp đều được cấp bộ đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học tối thiểu theo độ tuổi đáp ứng yêu cầu chăm sóc, nuôi dưỡng và học tập của học sinh. - 100% học sinh có đủ đồ dùng học tập, đồ dùng vệ sinh cá nhân. - Các lớp trang trí đẹp phù hợp chủ đề và môi trường giáo dục. - Bếp ăn được trang cấp đầy đủ dụng cụ phục vụ công tác nuôi dưỡng. - Nhà trường được cấp đất chuẩn bị xây dựng trường theo quy hoạch mới nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của con em địa phương. * Về danh hiệu thi đua, giáo viên dạy giỏi: - Năm học 2010 - 2011: Đạt giáo viên dạy giỏi cấp trường là 50%; tổ Mẫu giáo và tổ Nhà trẻ được UBND huyện tặng Giấy khen “Tập thể lao động tiên tiến”, có 56,5% cá nhân đạt lao động tiên tiến trở lên, trong đó 12,5% cán bộ giáo viên đạt danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở”. - Năm học 2010 - 2011: Đạt giáo viên dạy giỏi cấp trường là 72,5%. Tập thể nhà trường và 2 tổ Nhà trẻ, Văn phòng phấn đấu đạt danh hiệu “Tập thể lao động tiên tiến” đề nghị UBND huyện tặng Giấy khen; tổ mẫu giáo phấn đấu đề nghị UBND tỉnh tặng Bằng khen “Tập thể lao động xuất sắc”. 7 2. Đánh giá thực trạng: Đời sống của một số phụ huynh trên địa bàn còn khó khăn về kinh tế, sự nhìn nhận về giáo dục mầm non một số phụ huynh còn chưa đúng, chưa nhận thấy trách nhiệm của mình trong công tác phối hợp chăm sóc giáo dục trẻ; các yêu cầu của nhà trường chưa được phụ huynh thực hiện đầy đủ, bữa ăn của trẻ ở trường chưa đủ dinh dưỡng. Một số giáo viên chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác tuyên truyền với cha mẹ trẻ, các biện pháp kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội chưa đồng bộ. Xuất phát từ những tồn tại cơ bản trên, muốn nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ trong nhà trường cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Từ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn và từ nhận thức vấn đề nêu trên tôi đã tiến hành nghiên cứu vận dụng một số biện pháp “Kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ” mà tôi đã thực hiện thành công tại trường Mầm non Thân Thuộc III. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề: 1. Nâng cao nhận thức vai trò vị trí ngành học mầm non cho đội ngũ giáo viên, đoàn thể xã hội và cộng đồng. Tổ chức cho cán bộ giáo viên học tập các Chỉ thị Nghị quyết của Trung ương, Nghị quyết của tỉnh và chính sách phát triển giáo dục Mầm non, kế hoạch thực hiện đề án phổ cập cho trẻ năm tuổi giai đoạn 2010 - 2015. Tiếp tục tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị cho đội ngũ giáo viên gắn liền với việc học tập “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”. Qua việc học tập các Nghị quyết cán bộ giáo viên nhận thức sâu sắc quan điểm chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục Mầm non đồng thời thấy rõ vị trí, nhiệm vụ quan trọng của bậc học mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục Mầm non hiện nay. Xây dựng kỷ cương, nề nếp nhà trường; xây dựng môi trường giáo dục khoa học lành mạnh phù hợp với giáo dục Mầm non. Tăng cường công tác Đảng trong nhà trường, lấy Chi bộ Đảng là hạt nhân chính trị giúp đội ngũ giáo viên nắm bắt nhanh nhất các quan điểm của Đảng về giáo dục mầm non; đồng thời giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ. Nâng cao hiệu lực của tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên; thực hiện cuộc vận động “Kỷ cương, tình thương, trách nhiệm”, “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; xây dựng tập thể đoàn kết. Khi cán bộ, giáo viên nhà trường hiểu, nhận thức rõ vai trò, nhiệm vụ của mình, của ngành học thì chính họ là những tuyên truyền viên tuyên truyền tới phụ huynh học sinh, cộng đồng và toàn xã hội về ngành học. Từ đó nâng cao 8 trách nhiệm, phối hợp giũa nhà trường, gia đình và xã hội nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. Bản thân tôi nhận thấy giáo dục Mầm non khác với các bậc học khác trong hệ thống giáo dục quốc dân: Giáo dục Mầm non gắn liền với dân, sự tồn tại, phát triển hay tụt hậu phụ thuộc vào sự phối kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Như Bác Hồ đã dạy: "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong ". Vì vậy làm tốt công tác kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội sẽ đẩy giáo dục Mầm non tiến lên đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, tạo niềm tin và đáp ứng nguyện vọng của nhân dân các dân tộc địa phương. 2. Xây dựng kế hoạch, nội dung, hình thức để tuyên truyền với các gia đình và đoàn thể xã hội. * Đối với lãnh đạo nhà trường: - Trường Mầm non là nơi tập trung lực lượng phụ huynh khá đông nên công tác tuyên truyền có nhiều thuận lợi, vì vậy tôi đã lập kế hoạch, nội dung hình thức tuyên truyền cụ thể thiết thực. - Thông qua chỉ tiêu, nhiệm vụ năm học mà nhà trường cần được thực hiện trong năm học. Cụ thể về số lượng, chất lượng, xây dựng cơ sở vật chất thực hiện các chuyên đề… - Thông báo các nội quy, nề nếp quy định cụ thể về cán bộ giáo viên, phụ huynh, học sinh để thống nhất cùng thực hiện. - Thông qua Hội nghị phụ huynh toàn trường đầu năm học, cuối học kì và tổng kết năm học, để phụ huynh cùng nắm được những kết quả của cô, trẻ và nhà trường đã đạt được đồng thời cùng đánh giá chỉ rõ những tồn tại cần quán triệt khắc phục cho năm học tới. - Xây dựng kế hoạch nội dung và thời gian để cùng ban phụ huynh họp bàn trao đổi các vấn đề liên quan đến các hoạt động của nhà trường tối thiểu 5 lần /năm. * Đối với giáo viên đứng lớp: - Xây dựng góc tuyên truyền của lớp học: 100% các lớp đều có góc tuyên truyền với nội dung tuyên truyền và hình thức phong phú hấp dẫn: Ví dụ: - Tuyên truyền về một số bài học trong tháng: Làm quen với Toán, Chữ Cái, Thơ, Truyện, Môi trường xung quanh, kết hợp góc chơi: Bé tập làm bác sĩ, an toàn giao thông . - Tuyên tuyền về chăm sóc bảo vệ sức khoẻ cho học sinh theo giai đoạn, theo mùa, một số thức ăn phù hợp giáo dục dinh dưỡng và sức khoẻ, vệ sinh an toàn thực phẩm, đề phòng ngộ độc thức ăn, phòng chống các bệnh thường gặp ở trẻ, kết quả khám sức khoẻ và theo dõi biểu đồ định kỳ. 9 - Tuyên truyền về các hoạt động của cô và cháu trong trường, lớp. - Trưng bày một số sản phẩm tạo hình cô và cháu tự làm như: vẽ, nặn, cắt, xé, dán.... - Các nội dung tuyên truyền được thay đổi theo mùa, theo tháng nên gây được sự chú ý và để phụ huynh nắm bắt được nhiều thông tin mới. - Thống nhất với các bậc phụ huynh của nhóm lớp về nội quy, nề nếp, những yêu cầu về đồ dùng, đồ chơi, đồ dùng phục vụ các chuyên đề cần có của trẻ ở trường để cùng kết hợp thực hiện. Tối thiểu 3 lần /năm (họp toàn thể) và các hình thức khác ngoài các cuộc họp đã định cần chủ động tuyên truyền qua góc tuyên truyền, qua sinh hoạt hàng ngày, qua các sản phẩm của trẻ và nhiều hình thức khác. * Lãnh đạo nhà trường và giáo viên: Cần chủ động về phương tiện tuyên truyền, nội dung tuyên truyền sao cho sát với yêu cầu của từng thời điểm, tạo hiệu quả cao nhất. 3. Tuyên truyền qua thông tin đại chúng: Nhà trường có hệ thống loa đài thường xuyên mở nhạc để cho các cháu tập thể dục buổi sáng và mở băng nhạc thiếu nhi, những băng cô hát cho trẻ nghe, băng trẻ thơ hát chúng tôi đã sắp xếp thời gian để mở băng tuyên truyền và đọc tin bài viết qua loa phát thanh vào giờ đón, trả trẻ phụ huynh đưa đón con vào các ngày thứ 3 và thứ 5. Để có tin nhà trường đã mua các băng tuyên truyền của Vụ giáo dục Mầm non; băng của y tế về chăm sóc sức khoẻ ban đầu; viết tin bài cứ một tháng viết một bài, nội dung viết được thống nhất trong ban giám hiệu. Tuỳ theo thời điểm và các hoạt động trong tháng mà viết bài cho phù hợp. Ví dụ: Ngày khai giảng thì đưa tin về ngày toàn dân đưa trẻ đến trường; Ngày tết trung thu thì đưa tin về lễ hội trung thu mà nhà trường đã tổ chức cho các cháu tại trường; bài viết về kết quả khám sức khoẻ lần 1, 2 cho trẻ trong trường Mầm non; bài viết về các hội thi của trường trong năm học; bài viết về cách phòng chống bệnh chân tay miệng….bên cạnh đó nhà trường còn mời phóng viên truyền thanh truyền hình huyện về quay hình ảnh và đưa tin các hội thi do trường tổ chức để đông đảo quần chúng nhân dân được nghe, được nhìn thấy các hoạt động, kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ của nhà trường. Qua hội thi họ hiểu hơn về các hoạt động của trường Mầm non, nắm bắt được các nội dung giáo dục trẻ trong nhà trường, tạo niềm tin về chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ và có trách nhiệm hơn về công tác phối hợp với nhà trường thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ. Đây là biện pháp tuyên truyền của nhà trường trong năm học qua có sự thành công đáng kể. 10 4. Nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục tạo niềm tin tưởng của các bậc phụ huynh, đoàn thể xã hội. Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ là tiền đề quan trọng để nhà trường phát huy tầm ảnh hưởng của mình đến với cộng đồng. Chất lượng nuôi dưỡng, giáo dục của nhà trường có đảm bảo, trẻ em có khoẻ mạnh và phát triển tốt thì vai trò của nhà trường mới được phụ huynh và cộng đồng thừa nhận. Vì vậy, nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dạy trẻ phải là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong trường Mầm non. Để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng và giáo dục trẻ trường Mầm non cần chú ý đến việc đảm bảo môi trường, cảnh quan sư phạm. Các phòng học, phòng ăn, phòng ngủ, khu vệ sinh phải thoáng mát, sạch sẽ. Khuôn viên của Trường phải đủ rộng để tạo dựng được một khu vui chơi rộng rãi, an toàn. Trong việc nuôi dưỡng, nhà trường phải thực hiện nghiêm túc các chế độ sinh hoạt của trẻ theo qui định của Bộ Gáio dục và Đào tạo, phải nuôi dưỡng trẻ theo khoa học như: Cung cấp cho trẻ đủ năng lượng phù hợp với từng độ tuổi; cân đối các chất protit, lipit, gluxit, các vitamin và khoáng chất, cân đối năng lượng cần cung cấp cho trẻ trong các bữa ăn trong ngày; phấn đấu giảm tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng và tỉ lệ trẻ béo phì. Trong việc dạy dỗ phải thực hiện đúng nội dung, chương trình các lĩnh vực phát triển để cung cấp cho trẻ những tri thức ban đầu về thế giới xung quanh, giúp trẻ phát triển được các phẩm chất nhân cách phù hợp với yêu cầu của xã hội. Trên cơ sở đó, chuẩn bị cho trẻ những tiền đề cần thiết để bước vào học lớp một và các lớp tiếp theo một cách thuận lợi. Nhà trường thực hiện phương châm “Trăm nghe không bằng được thấy, được nhìn, được trực tiếp quan sát”. Do đó nhà trường đã có những yêu cầu cụ thể với các lớp như sau: Các lớp mẫu giáo mời phụ huynh tham dự ít nhất 2 tiết học/1 học kỳ. (việc tổ chức không bắt buộc phải có 100% phụ huynh tham gia một lần nhưng tối thiểu/ 1 học kì hoặc /1 chủ điểm mỗi phụ huynh được dự 1 lần, sau mỗi lần dự, hoặc 1 đợt dự giáo viên và phụ huynh sẽ giành 1 khoảng thời gian nhất định để cùng trao đổi, thống nhất, cùng có trách nhiệm bồi dưỡng chăm sóc con em mình đặc biệt trong việc đáp ứng yêu cầu về đồ dùng học tập, đồ chơi và sưu tầm các vật liệu thiên nhiên sẵn có bổ sung thêm đồ chơi cho trẻ. Tham mưu cho ban phụ huynh chia nhóm 3 lần/tháng đến kiểm tra công tác vệ sinh an toàn thực phẩm và chất lượng bữa ăn của trẻ. Với cách làm này cán bộ giáo viên nhà trường cũng nâng cao ý thức trách nhiệm hơn trong công việc và phụ huynh qua kiểm tra thấy chất lượng bữa ăn của trẻ tại trường đảm bảo thì họ yên tâm và tin tưởng nhà trường hơn. Đây là kinh nghiệm mà nhà trường tổ chức trong năm qua đây là hình thức mới song mang hiệu quả cao và thiết thực nhất. 11 5. Phối hợp với các ban nghành đoàn thể: - Hội phụ nữ: Đây là lực lượng đông đảo và mạnh nhất để làm công tác tuyên truyền do vậy tôi đã làm việc với hội phụ nữ thị trấn trình bày kế hoạch phối hợp với các chi hội phụ nữ các khu phố, nắm các số liệu của các hội viên lên lịch tổ chức các cuộc họp tuyên truyền. Tuỳ vào tình hình của từng khu phố có thể tổ chức riêng một buổi họp với các hội viên phụ nữ hoặc có thể kết hợp với các buổi họp của khu. Ví dụ: Vào thời điểm tổ chức ngày 20/10, 8/3 trước đó các chi hội đều có họp chuẩn bị nhân buổi đó tôi phát tài liệu cho các chi hội lồng luôn vào nội dung họp để tuyên truyền kiến thức nuôi dạy con theo khoa học cho các bậc cha mẹ với nhiều hình thức: Trao đổi, thảo luận,.... Chi hội nào có tuyên truyền viên tốt, các chi hội tự đảm nhiệm công tác tuyên truyền, còn chi hội nào cần phối hợp của nhà trường thì tôi cử giáo viên về cùng kết hợp. Trong năm qua nhờ công tác phối hợp tốt tôi đã tổ chức tuyên truyền qua các buổi họp khu phố số phụ huynh tham gia là 94%. - Trung tâm y tế thị trấn: Đây là đơn vị thường xuyên phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc khám sức khoẻ định kỳ cho các cháu và có nhiều nội dung tuyên truyền phong phú về chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho trẻ em và phụ nữ, chính vì vậy tôi đã xây dựng kế hoạch liên hệ với trung tâm y tế thị trấn khám sức khoẻ cho học sinh và giáo viên. Ví dụ: Một năm 2 lần nhà trường đã kết hợp với y tế khám sức khỏe cho học sinh và cán bộ giáo viên để xác định nắm bắt điều trị kịp thời bệnh tật, sau đó giáo viên chủ nhiệm trao đổi cụ thể với phụ huynh về tình trạng sức khoẻ của các cháu, đồng thời tuyên truyền một số bệnh thường gặp ở trẻ và cách phòng tránh một số bệnh, phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ. Chính vì vây mà tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm so với năm trước là 4,1%. - Toàn thể khu phố: Khu phố là nơi gắn các mối quan hệ gần gũi nhất với nhà trường. Để làm tốt công tác kết hợp ở đây đạt hiệu qủa tôi đã làm việc với cán bộ khu phố về kế hoạch tuyên truyền kiến thức nuôi dạy con cho mọi người dân cùng biết và thực hiện, đặc biệt là phụ huynh có con ở độ tuổi Mầm Non. Khi họ đã hiểu được biện pháp chăm sóc giáo dục trẻ, biết rõ hơn về các hoạt động trong nhà trường thì việc huy động học sinh đến trường, duy trì tỉ lệ học sinh đi học chuyên cần sẽ thuận lợi hơn và công tác vận động nhân dân đóng góp xây dựng cơ sở vật chất, tu sửa trường lớp cũng dễ dàng hơn. 12 Ví dụ: Như điểm trường 24 là điểm trường có 100% học sinh dân tộc với cách làm như trên được sự ủng hộ của cán bộ khu phố, nhân dân và phụ huynh học sinh công tác huy động học sinh ra lớp đạt 100% kế hoạch giao, tỉ lệ học sinh đi học chuyên cần đạt 95%, cao hơn năm học trước 4,2%; phụ huynh đóng góp để nấu ăn tại trường cho trẻ thay trước đây mang cơm cặp lồng; phụ huynh tích cực tham gia đóng góp quỹ "Khuyến học". 6. Xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ: Lê nin dạy: “Cái quyết định trong nhà trường không phải là chương trình, sách giáo khoa mà là đội ngũ thầy, cô giáo”. Đội ngũ giáo viên là nguồn lực quý báu, có vai trò quyết định đến chất lượng giáo dục trong nhà trường. Xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, là thực hiện quan điểm “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Muốn công tác bồi dưỡng được thực hiện tốt cần phải triển khai tổ chức một cách hợp lý. Xây dựng kế hoạch, chương trình nội dung bồi dưỡng đồng bộ bao gồm: Kiến thức văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực sư phạm và các kiến thức bổ trợ khác để bổ sung kiến thức, tăng vốn hiểu biết cho giáo viên, hình thành năng lực truyền đạt kiến thức, phát huy sáng tạo, tinh thần tự học tự bồi dưỡng. Bồi dưỡng bằng nhiều hình thức như: Bồi dưỡng qua sinh hoạt chuyên môn, bồi dưỡng qua dự giờ kiểm tra, bồi dưỡng chuyên môn thông qua phong trào hội giảng, xây dựng đội ngũ nòng cốt trong nhà trường, đa dạng hoá các loại hình bồi dưỡng. Nội dung bồi dưỡng phải chú ý đến từng đối tượng giáo viên, trình độ đào tạo, nhu cầu bồi dưỡng của từng giáo viên để lựa chon nội dung, phương pháp bồi dưỡng phù hợp. Chú ý đến đặc tính đi trước của công tác bồi dưỡng giáo viên, những kinh nghiệm tiên tiến phải hướng vào phục vụ và đón trước những thay đổi của giáo dục Mầm non. Nội dung bồi dưỡng phải đi đôi với thực hành, rèn luyện kỹ năng, năng lực sư phạm. IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm: Sáng kiến kinh nghiệm “Kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ” đã được áp dụng tại trường Mầm non số 1 thị trấn Tân Uyên và đã đạt được một số kết quả như sau: - Công tác huy động số lượng học sinh ra lớp đạt 110,4% kế hoạch; tỉ lệ trẻ trong độ tuổi nhà trẻ đến trường đạt 45,3%, tăng so với năm học trước 9,3%; tỉ lệ trẻ 3 - 5 tuổi ra lớp 95,7%, tăng so với năm học trước 5,6%; tỉ lệ học sinh đi học chuyên cần đạt 95,1%, cao hơn năm học trước 4,7%. - Giảm tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi so với đầu năm là 3,8%; giảm so với năm học trước 3,4%. Đến nay trẻ có cân nặng bình thường 94,5%, chiều cao phát triển bình thường đạt 93,5%. - Chất lượng giáo dục 100% học sinh đạt yêu cầu trở lên. 13 - Các lớp có đủ đồ dùng phục vụ sinh hoạt, học tập của trẻ; bếp ăn đảm bảo yêu cầu nuôi dưỡng. - Phụ huynh học sinh tham gia đóng góp quỹ khuyến học với số tiền là 92.150.000 đồng (Chín mươi hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng). 14 PHẦN KẾT LUẬN I. Những bài học kinh nghiệm: Với điều kiện thực tế hiện nay muốn làm tốt sự phối kết hợp này không phải đơn giản mà rất phức tạp, vì nó đụng chạm đến thời gian, kinh tế, đặc biệt là đụng chạm đến thói quen nhận thức từ thời bao cấp nhiều năm nay của một số người dân chưa thay đổi. Bởi vậy chúng ta không được nóng vội mà phải làm từng bước một, trước hết là nhận thức tư tưởng và người quản lý phải biết kết hợp tốt các thành viên trong nhà trường. Thiết lập chặt chẽ mối quan hệ giữa nhà trường, đoàn thể, cơ quan, chính quyền địa phương nhằm tạo ra các mối quan hệ thuận lợi cho sự phát triển đồng bộ về vật chất lẫn tinh thần. Khi tham mưu phải kiên trì, bền bỉ tạo được niềm tin cho lãnh đạo và nhân dân, phụ huynh học sinh - Vận dụng linh hoạt giữa lý thuyết và thực tiễn, phát huy trách nhiệm, huy động tối đa các nguồn lực. - Tăng cường công tác tuyên truyền về ngành học bằng nhiều hình thức cho phụ huynh học sinh, cộng đồng, lãnh đạo địa phương. - Tổ chức các hoạt động thiết thực, tranh thủ sự quan tâm của các cấp, các ngành, cộng đồng xã hội, phụ huynh học sinh... - Phối hợp với các ban nghành đoàn thể. Thực hiện tốt các biện pháp đã đưa ra trong phần “Giải pháp thực hiện” trong bài viết này. II. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm đối với việc quản lý trường mầm non: Công tác kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội của trường Mầm non đây chính là môi trường tạo ra các mối quan hệ với các cấp, các ngành, với cộng đồng và phụ huynh học sinh, nhằm thu hút các lực lượng trong xã hội cùng chăm lo cho sự nghiệp phát triển giáo dục Mầm non. Nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Đây chính là động lực thúc đẩy đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trong các nhà trường cần cố gắng nhiều hơn nữa, đồng thời cũng là một địa chỉ đáng tin cậy để các bậc phụ huynh yên tâm gửi gắm con em mình. III. Khả năng ứng dụng triển khai: Công tác "Kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội mà tôi đã chỉ đạo áp dụng tại trường Mầm non số 1 thị trấn Tân Uyên trong năm qua đã đạt được những thành công nhất định. Đây là những biện pháp đảm bảo tính hiệu quả, kinh tế và có khả năng áp dụng ở bất cứ trường Mầm non nào, tuy nhiên còn nhiều biện pháp khác chưa có điều kiện đề cập tới tôi sẽ nghiên cứu trong những năm học tiếp theo. Do tài liệu và khả năng còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Kính mong hội đồng khoa học góp ý và giúp đỡ để đề tài của 15 tôi được hoàn thiện hơn. IV. Kiến nghị, đề xuất: - Đối với UBND huyện: Ưu tiên đầu tư kinh phí xây dựng trường mới tại khu vực đất đã quy hoạch. - Đối với phòng giáo dục: Tham mưu tạo nguồn kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cho nhà trường. Mở các lớp tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý, giúp cán bộ quản lý làm giàu thêm tri thức và kinh nghiệm chỉ đạo. - Đối với UBND thị trấn Tân Uyên: Có kế hoạch chỉ đạo các đoàn thể ở cơ sở kết hợp với nhà trường để làm tốt hơn công tác tuyên truyền về ngành học mầm non.. 16 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Hồ Chủ Tịch - Bài nói tại Hội nghị cán bộ Đảng toàn ngành giáo dục tháng 6/1957 2. Đào Thanh Âm - Trịnh Dân - Nguyễn Hoà (Tài liệu giáo dục mầm non ĐHSP Hà Nội - 1993). 3. Nhà xuất bản Lao động - Xã hội (Luật giáo dục 2005) 4. NXB chính trị quốc gia - 1993 “Giải pháp tình huống gia đình” 5. NXB phụ nữ 1996 - “Thành công trong bổn phận làm cha mẹ”. 6. Văn kiện Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII 7. Những vấn đề lý luận và thực tiễn của giáo dục mầm non. 8. Báo cáo tổng kết năm học từ năm 2009 – 2010; 2010 - 2011 và 2011 2012 trường Mầm non số 1 thị trấn Tân Uyên. \ 17 MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG PHẦN MỞ ĐẦU: 01 I. Lý do chọn đề tài 02 II. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 03 III. Mục đích nghiên cứu 03 IV. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu 03 PHẦN NỘI DUNG 04 I. Cơ sở lý luận 04 1. Chức năng của gia đình trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ. 2. Vị trí của trường Mầm non trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ 04 3. Sự cần thiết phải kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. 05 II. Thực trạng của đề tài 05 1. Thực trạng 05 2. Đánh giá thực trạng 08 III. Biện pháp giải quyết 08 1. Nâng cao nhận thức vai trò vị trí ngành học mầm non cho đội ngũ giáo viên, đoàn thể xã hội và cộng đồng. 08 2. Xây dựng kế hoạch, nội dung, hình thức để tuyên truyền với các gia đình và đoàn thể xã hội. 09 3. Tuyên truyền qua thông tin đại chúng 10 4. Nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục tạo niềm tin tưởng của các bậc phụ huynh, đoàn thể xã hội. 11 5 Phối hợp với các ban ngành đoàn thể 12 6 Xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ 13 IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 13 PHẦN KẾT LUẬN 15 I. Những bài học kinh nghiệm 15 II. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm đối với việc quản lý trường Mầm non III Khả nảng ứng dựng và triển khai 15 IV. Kiến nghị đề xuất 16 TÀI LIỆU THAM KHẢO 17 18 04 15 19 PHẦN NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC HUYỆN TÂN UYÊN PHẦN NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TỈNH LAI CHÂU 20
- Xem thêm -