Tài liệu Skkn hình thành biểu tượng về một số động vật nuôi cho trẻ 5 tuôi

  • Số trang: 31 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 784 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

MỤC LỤC. A. PHẦN MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài…………………………………………………...Trang 4. II. Mục đích nghiên cứu……………………………………………....Trang 5. III. Khách thể và đối tượng nghiên cứu………………………………Trang 5. 1. Khách thể……………………………………………….…...Trang 5. 2. Đối tượng nghiên cứu…………………………...………..…Trang 5. IV. Nhiệm vụ nghiên cứu…………………………………………….Trang 5. V.Phương pháp nghiên cứu lí luận…………………………………...Trang 5. 1. Phương pháp nghiên cứu lý luận……………………………Trang 5. 2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn………………………… Trang 5. 3. Các phương pháp lí số liệu nghiên cứu, phương pháp thống kê…………. ……………………………………Trang 6. VI. Phạm vi nghiên cứu………………………………………………Trang 6. VII. Kế hoạch nghiên cứu.....................................................................Trang 6. B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU. CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THÀNH BIỂU TƯỢNG VỀ MỘT SỐ ĐỘNG VẬT NUÔI CHO TRẺ 5 TUỔI THÔNGQUA HOẠT ĐỘNG CHUNG. 1. Khái quát cơ bản………………………………………………….. Trang 6. 1.1. Khái niệm về làm quen Môi Trường Xung Quanh……....Trang 6. 1.2. Khái niêm biểu tượng…………………………………….Trang 5. 1.3. Khái niệm biểu tượng động vật…………………………..Trang 6. 2. Quá trình hình thành biểu tượng về động vật nuôi cho trẻ 5 tuổi thông qua hoạt động chung...................................................................Trang 6. 2.1. Mục đích hình thành biểu tượng về động vật nuôi……….Trang 6. 2.2. Nội dung hình thành biểu tượng về động vật nuôi……….Trang 7. 2.3. Phương pháp hình thành biểu tượng……………………...Trang 7. a. Nhóm phương pháp trực quan……………………..Trang 7. b. Nhóm phương pháp dùng lời………………………Trang 8. c. Nhóm phương pháp thực hành……………….......Trang 10. d. Sự phối hợp các phương pháp………………...….Trang11. 2.4. Hình thức tổ chức…………………………………….....Trang 11. 3. Đặc điểm của việc hình thành biểu tượng động vật nuôi trong gia đình cho trẻ 5 tuổi. 3.1. Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 5 tuổi…………………………….Trang 11. a. Đặc điểm sinh lý………………………………………………….11 b. Đặc điểm tâm lý…………………………………………………..12. CHƯƠNG II. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG ĐỘNG VẬT NUÔI CHO TRẺ 5 TUỔI (THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CHUNG) 1 I. Vài nét về khách thể nghiên cứu………………………………….Trang 14. II. Thực trạng của việc hình thành biểu tượng động vật nuôi trong gia đình cho trẻ 5 tuổi thông qua hoạt động chung ở Trường……….....…………………………..…..Trang 15. 1. Nhận thức của giáo viên về vấn đề liên quan đến việc hình thành biểu tượng về một số động vật nuôi cho rẻ 5 tuổi (Thông qua hoạt động chung)……………….....................................Trang 15. 2. Thực trạng về mức độ hình thành biểu tượng một số động vật nuôi cho trẻ 5 tuổi (thông qua hoạt động chung) ở trường mầm non…………………………………………………..Trang 16. 3. Thực trạng về mức độ hình thành biểu tượng một số động vật nuôi cho trẻ 5 tuổi (thông qua hoạt động chung) ở trường mầm non………………………..Trang 16. CHƯƠNG III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG MỘT SỐ ĐỘNG VẬT NUÔI TRONG GIA ĐÌNH CHO TRẺ 5 TUÔI (THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CHUNG) 1. Cơ sở xác định biện pháp hình thành biểu tượng một số vật nuôi trong gia đình cho trẻ 5 tuôi (Thông qua hoạt động chung)…………………………….Trang 20. 1.1. Dựa vào mục đích giáo dục trẻ………………………….Trang 20. 1.2. Dựa vào mục đích cho trẻ LQVMTXQ…………………Trang 21. 1.3. Dựa vào đặc điểm nhận biết của trẻ Mầm non về MTXQ……………………………………………………………Trang 21. 1.4. Dựa vào thực tế của Trường Mầm Non…………………Trang 21. 2. Các biện pháp hình thành biểu tượng động vật nuôi trong gia đình cho trẻ 5 tuổi (Thông qua hoạt động chung)………………Trang 22. 2.1. Biện pháp 1……………………………………………..Trang 22. 2.2. Biện pháp 2……………………………………………...Trang 23. 2.3. Biện pháp 3……………………………………………...Trang 24. 3. Mối quan hệ giữa các biện pháp để tổ chức cho trẻ hình thành biểu tượng động vật nuôi trong gia đình cho trẻ 5 tuổi (Thông qua hoạt động chung)………………Trang 25. C. KẾT LUẬN CHUNG 1. Kết luận…………………………………………………………...Trang 25. 2. Bài học thành công……………………………………………….Trang 26. 3. Một số kiến nghị………………………………………………….Trang 27. 2 A. PHẦN MỞ ĐẦU. I. Lý do chọn đề tài. - Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì giáo dục con người có đủ đức, trí, thể, mỹ, lao động là một vấn đề vô cùng quan trọng. Trẻ em là mầm móng tương lai của đất nước. Muốn phát triển toàn diện phải đầu tư giáo dục. Chúng ta cần nghiên cứu giáo dục trẻ như thế nào? Giáo dục có cơ sở khoa học là một vấn đề cần suy nghĩ và vô cùng trăn trở. - Giáo dục trẻ ở lứa tuổi Mầm Non theo chủ đề và tổ chức hoạt động mang tính tích cực là su thế chung của giáo dục mầm non trên thế, trong khu vực và đang được nghiên cứu áp dụng ở Việt Nam. - Ở độ tuổi mẫu giáo đang thời kỳ tiền thao tác, các chức năng sinh lý và tâm lý còn chưa phân hóa rõ rệt. Do vậy trẻ chưa lĩnh hội tri thức khoa học theo các bộ môn riêng biệt mà chỉ có thể lĩnh hội tri thức với các hình thức mang tính tích hợp theo chủ đề (hoặc chủ yếu có quan điểm cơ bản và nội dung chăm sóc, giáo dục trẻ mang tính kế thừa chương trình chăm sóc giáo dục mẫu giáo lấy trẻ làm trung tâm). - Môi trường xung quanh là một môn học và là nhu cầu không thể thiếu được đối với trẻ mầm non. Nó phản ánh toàn bộ sự vật hiện tượng và tạo điều kiện cần thiết cho con người tồn tại và phát triển,chỉ có trong khi trẻ tìm hiểu môi trường xung quanh mới thực sự là một chủ thể tích cực hoạt động. Tìm hiểu môi trường xung quanh mang lại cho trẻ những ấn tượng mới, sự thỏa mãn nhu cầu về tìm tòi và khám phá thế giới xung quanh trẻ. - Hoạt động làm quen với môi trường xung quanh giúp trẻ hiểu biết thế giới tự nhiên, xã hội một cách sâu sắc nhất. Giúp cho ngôn ngữ của trẻ phát triển và vốn từ của trẻ ngày càng hoàn thiện hơn. - Trong thiên nhiên thế giới động vật rất đa dạng và phong phú. Động vật làm cho cuộc sống con người thêm sinh động và đẹp đẽ. Đặc biệt động vật nuôi trong gia đình là nhữn con vật rất gần gũi, quen thuộc, thân thiết nhất với trẻ. Trẻ rất thích quan sát, tìm tòi, khám phá về đặc điểm, sự vận động, sinh sản của các con vật. Tuy nhiên vẫn còn một số trẻ phát âm chưa chuẩn, chưa phân biệt được sự giống nhau và khác nhau của các con vật cho dù những con vật đó rất quen thuộc và gần gũi đối với trẻ. Trẻ chưa biết chúng vận động và sinh sản như thế nào? Có lợi ích gì? Làm gì để chăm sóc và bảo vệ các con vật nuôi…? Đây cũng là vấn đề nan giải và rất cần thiết, là cơ hội để cô giáo mầm non bổ sung kiến thưc về động vật nuôi cho trẻ. Giúp cho trẻ có tầm hiểu biết sâu rộng hơn đặc biệt là trẻ 5 tuổi, để trẻ có những kiến thức vững vàng bước vào trường Tiểu Học khỏi bị ngỡ ngàng, lạ lẫm. - Trong thực tiễn giáo dục hiện nay ở địa phương chúng tôi có nhiều sự quan tâm đến giáo dục mầm non, đã đầu tư thêm về cơ sở vật chất, đủ 3 phòng học cho trẻ, đầu tư thêm kinh phí mua đồ dùng giảng dạy nhưng chưa đầy đủ để đáp ứng theo chương trình giáo dục mầm non mới hiện nay. * Ưu điểm: Trường rất sạch sẽ, đầy đủ lớp học và đầy đủ điều kiện để trẻ được đến trường. Cô giáo nhiệt tình, yêu nghề mếm trẻ, luôn học hỏi để tiếp cận chương trình giáo dục mới. Trẻ thích đến lớp, ham hiểu biết. Ở địa phương em về đè tài này rất đa dạng và phong phú, dể kiếm, dể tìm, trẻ dể dàng nhận biết vì rất quen thuộc và là động vật ở nhà trẻ nuôi, sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường có sự thống nhất cao. * Hạn chế: Cơ sở vật chất còn đơn sơ, phòng học chưa đủ và đúng tiêu chuẩn theo quy định, phòng chật hẹp, bàn ghế chưa đúng quy cách. Trình độ dân trí cón quá thấp, dân di cư tự do nhiều và điều kiện kinh tế còn khó khăn. Học sinh trong lớp quá đông, điều kiện để giáo viên học hỏi kinh nghiệp còn hạn chế, trẻ học lớp ghép nên còn nhút nhác, chưa hòa đồng cùng tập thể, ngôn ngữ còn đơn điệu, chưa rõ rang, vốn hiểu biết về thế giới xung quanh còn hạn chế. * Để khắc phục những hạn chế này nên chúng tôi chon đề tài “Hình thành biểu tượng về một số động vật nuôi cho trẻ 5 tuôi”. Nhằm góp phần mang lại lợi ích cho cá nhân trẻ, mở rộng tầm hiểu biết của trẻ từ những cái đơn giản nhất, gần gũi nhất và cũng nhằm phát triển toàn diện cho trẻ. II. Mục đích nghiên cứu. Chúng tôi nghiên cứu đề tài nhằm mục đích khảo sát khả năng nhận thức về thế giới động vật đặc biệt là một số động vật nuôi trong gia đình cho trẻ mấu giáo. Xem trẻ đã nắm vững tên gọi, cấu tạo, đặc điểm, lợi ích của từng động vật nuôi như thế nào để góp phần giáo dục trí tuệ, làm rõ mức độ hình thành biểu tượng, làm rõ thực trạng nhận biết về thế giới động vật nuôi trong gia đình để giáo dục toàn diện. Trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp nhằm năng cao mức độ, khả năng hoàn thện và hình thành nhân cách cho trẻ. III. Khách thể và đối tượng nghiên cứu. 1. Khách thể. Quá trình hình thành biểu tượng về “Một số động vật nuôi trong gia đình” cho trẻ 5 tuổi thông qua hoạt động chung. 2. Đối tượng nghiên cứu. Bước đầu khảo sát mức độ hình thành biểu tượng về một số động vật nuôi trong gia đình cho trẻ 5 tuổi thông qua hoạt động chung. IV. Nhiệm vụ nghiên cứu. * Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc hình thành biểu tượng về một số động vật nuôi cho trẻ 5 tuổi thông qua hoạt động chung. * Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của việc hình thành biểu tượng “Một số động vật nuôi trong gia đình” cho trẻ 5 tuổi thông qua hoạt động chung. V.Phương pháp nghiên cứu lí luận. 1. Phương pháp nghiên cứu lý luận. 2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn. a. Phương pháp điều tra: Chúng tôi tiến hành điều tra 20 trẻ. + Địa điểm: Tại lớp Lá. + Lứa tuổi: 5 tuổi. 4 + Thời gian: 10/01/2012 đến 10/03/2012. + Thông qua hoạt động chung. b. Phương pháp quan sát. c. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm 3. Các phương pháp lí số liệu nghiên cứu, phương pháp thống kê. VI. Phạm vi nghiên cứu. - Điều tra trên số lượng: 20 cháu. - Lớp lá. - Thời gian: 02 tháng. VII. Kế hoạch nghiên cứu. - Từ ngày: 10/01/2012 – 10/03/2012 - Từ ngày: 10/01/2012 đến ngày 10/03/2012 làm đề cương. - Khảo sát: 10/01/2012 – 10/03/2012 - Hoàn thiện đề tài: 10/03/2012 - Nộp đề tài: 12/03/2012 B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU. CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THÀNH BIỂU TƯỢNG VỀ MỘT SỐ ĐỘNG VẬT NUÔI CHO TRẺ 5 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CHUNG. 1. Khái quát cơ bản. 1.1. Khái niệm về làm quen Môi Trường Xung Quanh. Làm quen môi trường xung quanh thực chất là cho trẻ khám phá môi trường tự nhiên và xã hội một cách tích cực, một thế giới muôn màu vẽ. Ở trẻ nhu cầu khám phá về thế giới xung quanh là rất cần thiết, bởi vậy ngay từ khi bẩm sinh mỗi dứa trẻ là một nhà thám hiểm. Ở trẻ mầm non việc khám phá thế giới xung quanh là để thỏa mãn nhu cầu hiếu động, tính tò mò, ham hiểu biết rất tự nhiên ở trẻ. Trẻ tìm hiểu thế giới xung quanh thông qua việc tiếp xúc, tìm hiểu khám phá, luôn quan tâm đến MTXQ điều đó sẽ hình thành, củng cố và phát triển những tri thức về các sự vật hiện tượng xung quanh trẻ. Thông qua những hoạt động LQMTXQ giúp trẻ mở rộng sự hiểu biết, trẻ sẽ lĩnh hội được các kỷ năng tư duy (quan sát,so sánh, phân loại, dự đoán…). Từ đó hình thành các khái niệm và biết cách giải quyết vấn đề, làm thõa mãn nhu cầu nhận thức của chính bản thân trẻ. Cần khơi dậy cho trẻ những cảm xúc, giáo dục trẻ có thái độ thân thiện, gần gũi, biết cách ững xử với thiên nhiên và xã hội bằng lòng nhân ái, tình yêu đối với cái đẹp, có thái độ tôn trọng và từ đó trẻ có ham muốn tham gia, giữ gìn và cải tạo MTXQ. 1.2. Khái niêm biểu tượng. Biểu tượng là hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật và giác quan đã chấm dứt. 1.3. Khái niệm biểu tượng động vật. Là những hình ảnh của động vật được giữ lại trong trí nhớ của trẻ sau khi tác động của những động vật và sử dụng các giác quan khi tri giác, quan sát từng động vât. 2. Quá trình hình thành biểu tượng về động vật nuôi cho trẻ 5 tuổi thông qua hoạt động chung. 5 2.1. Mục đích hình thành biểu tượng về động vật nuôi. - Trang bị tri thức về động vật nuôi: Như gọi tên, cấu tạo, đặc điểm, sinh sản, nhu cầu của động vật về thức ăn, môi trường sống của động vật. - Cho trẻ biết động vật khác thực vật là có khả năng vận động, động vật có tiếng kêu, động vật có sự vận động của các chi nên động vật có thể bay, chạy, nhảy, bơi…. - Hình thành thái độ tích cực của trẻ đối với động vật nuôi như: Cho động vật ăn, uống, dọn chuồng trại sạch sẽ. 2.2. Nội dung hình thành biểu tượng về động vật nuôi. - Mở rộng sự hiểu biết của trẻ về động vật nuôi trong gia đình. - Dạy trẻ biết tên gọi của các con vật nuôi như: Con gà, con vịt, con chó, con mèo, con bò, con trâu…. - Dạy trẻ biết được cấu tạo bên ngoài của các con vật gồm có 3 phần (Đầu, mình và đuôi) so sánh để biết được sự giống nhau và khác nhau của các con vật nuôi trong gia đình. - Mở rộng sự hiểu biết của trẻ về tập tính của động vật nuôi. + Vận đông: Đi, chạy, nhảy, bay… + Ăn uống: Ăn, nhai, gặm, mổ… + Sinh sản: Đẻ con và đẻ trứng. + Nơi ở: Trong gia đình. - Dạy trẻ biết được quá trình hình thành, sự sinh trưởng và phát triển của các con vật nuôi trong gia đình. - Qua môn học giúp cho trẻ được hoạt động tích cực, phát triển vốn từ và ngôn ngữ cho trẻ như: Gia súc, gia cầm, động vật có 2 chân, động vật có 4 chân, động vật nuôi có cánh biết bay…. - Giáo dục lòng yêu quý và ý thức chăm sóc, bảo vệ các con vật nuôi trong gia đình. 2.3. Phương pháp hình thành biểu tượng. a. Nhóm phương pháp trực quan. * Khái niêm. Phương pháp trực quan là phương pháp huy động các giác quan của trẻ em tham gia vào quá trình nhận biết các sự vật và hiện tượng xung quanh làm cho việc tiếp thu kiến thức trở nên để dàng và sự ghi nhớ trở nên bền vững, chính xác. * Mục đích và ý nghĩa. - Tạo điều kiện cho trẻ tiếp cận với các sự vật hiện tượng xung quanh. Do đó giúp trẻ sống gần gũi, hòa mình với môi trường tự nhiên và xã hội. - Cũng cố những tri thức mà trẻ đã lĩnh hội. - Hình thành và rèn luyện khả năng cảm giác, tri giác và óc quan sát. - Tạo điều kiện cho trẻ có thể thực hiện các thao tác trí tuệ. - Tạo điều kiện cho trẻ hoạt động tìm tòi, khám phá và phát hiện những điều mới lạ xung quanh trẻ. - Có tác dụng trực tiếp giáo dục thẩm mỹ và đạo đức cho trẻ. - Trong phương pháp trực quan phương pháp trực quan là phương pháp quan trọng rnhất, phương pháp trực quan là phương pháp tổ chức cho 6 trẻ tri giác các sự vật và hiện tượng xung quanh một cách có mục đích, có kế hoạch. * Trình tự tiến hành quan sát. - Phải xác định mục đích yêu cầu trước khi quan sát. Yêu cầu là cái cần đạt của hoạt động quan sát còn yêu cầu là mức độ cần đạt được của mục đích. Mục đích và yêu cầu phụ thuộc vào đề tài, nhiệm vụ của trẻ LQVMTXQ và đặc điểm tâm lý của trẻ ở mỗi lứa tuổi. - Lựa chon đối tượng quan sát: Tùy theo mục đích và yêu cầu đã xây dựng cùng với tình hình thực tế của địa phương. Giáo viên nên lựa chon đối tượng quan sát sao cho hợp lý. + Xác định số lượng quan sát. + Xác định thời gian tiến hành quan sát. - Hình dung trước cách tổ chức quan sát: Đối tượng quan sát nên đặt vị trí để tất cả trẻ trong lớp đều thấy rõ và đối tượng phải ở trạng thái tự nhiên. - Hướng dẫn trẻ quan sát đối tượng: Tùy tình hình thực tế của lớp mình mà giáo viên dùng thủ thuật nhằm kích thích trẻ quan sát, tùy theo lứa tuổi giáo viên cho trẻ quan sát theo nhóm, chỉ vào từng đối tượng để trẻ quan sát và đàm thoại với trẻ. Trẻ phải được gọi tên đối tượng, gọi tên từng bộ phận, khi hướng dẫn trẻ quan sát không nên máy móc, cần dựa vào s[r thích của trẻ, trẻ thích cái gì nhất nên cho trẻ tri giác cái ấy trước, tùy theo đối tượng và lứa tuổi của trẻ nên tổ chức trình tự tri giác hợp lý. - Ở nhóm phương pháp trực quan để hổ trợ quan sát tốt cần sử dụng tài liệu trực quan. + Sử dụng tranh ảnh (Chiếu lên powerpoint cho trẻ xem). + Sử dụng mô hình. + Sử dụng đĩa (Hình và âm thanh). b. Nhóm phương pháp dùng lời. * Khái niệm. Nhóm phương pháp dùng lời là phương pháp dùng lời nói của mình để truyền đạt, tiếp nhận và lưu trữ thông tin. * Mục đích và ý nghĩa. - Cũng cố và làm sâu sắc hơn những biểu tượng mà trẻ tri giác được. - Trẻ em có thể khái quát hóa đối tượng. - Làm giàu vốn từ và rèn luyện ngôn ngữ nói cho trẻ. - Giáo duc trẻ cảm xúc, tình cảm thẩm mỹ và đạo đức. Trong nhóm phương pháp dùng lời có phương pháp đàm thoại và phương pháp đọc, kể chuyện. * Phương pháp đàm thoại. * Khái niệm. Phương pháp đàm thoại là quá trình tổ chức hỏi và đáp giữa giáo viên và trẻ một cách có mục đích và có kế hoạch, phương pháp này chỉ sử dụng đối với trẻ từ 3 đến 6 tuổi. - Là quá trình hỏi trẻ và trả lời của giáo viên và trẻ em diễn ra trong bối cảnh đối tượng trực quan đang tồn tại trước mặt trẻ. 7 - Quá trình quan sát luôn luôn phải phục vụ mục đích và yêu cầu đã xác định. Giáo viên phải dùng hệ thống câu hỏi trong quá trình quan sát, câu hỏi là biện pháp vì nó tác dụng hướng dẫn trẻ tri giác những câu hỏi, cũng có khi là thủ thuật vì nó có tác dụng kích thích sự tập trung chú ý tri giác đối tượng của trẻ. Câu hỏi còn có tác dụng làm trẻ tri giác đối tượng kỹ hơn, sâu hơn và phát hiện ra những điều mới lạ của đối tượng. - Trẻ 5-6 tuổi giáo viên phải đặt câu hỏi khó hơn, mang tính gợi mở, có những câu hỏi yêu cầu trẻ phải so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát đối tượng. Đặt biệt có những câu hỏi nhằm rèn luyện và phát triển trí thông minh của trẻ. - Đàm thoại sau khi quan sát ngắn. - Đàm thoại sau khi quan sát ngắn là quá trình hỏi, trả lời của giáo viên và trẻ diễn ra trong bối cảnh không còn đối tượng trực quan trước mặt trẻ. - Giáo viên cần phải hiểu rõ ý nghĩa và sự cần thiết đối với việc đàm thoại sau khi quan sát ngắn. - Tổ chức cho trẻ đàm thoại sau khi quan sát ngắn có tác dụng tăng cường trí nhớ, cũng cố và làm sâu sắc hơn những điều trẻ vừa quan sát được, đồng thời hệ thống lại những trí thức trẻ đã lĩnh hội trong lúc quan sát, mở rộng sự hiểu biết của trẻ về đối tượng, giáo dục thẩm mỹ và đạo đức sâu sắc hơn. - Đối với trẻ 5 – 6 tuổi: Cho trẻ quan sát cần phải tiến hành nhanh gọn (Vì trẻ đã có óc quan sát tốt) nhưng đàm thoại sau khi quan sát lại có tầm quan trọng đặc biệt, giáo viên phải chú ý trong quá trình đàm thoại này. Giáo viên cần tổ chức cho trẻ ngồi thành hình vòng cung hoặc ngồi theo hình chữ U, không khí giữa giáo viên và trẻ phải thật gần gũi, thân mật và cởi mở. * Hệ thống câu hỏi phải nhằm các mục đích sau. Cũng cố những nội dung chính của quá trình quan sát, mở rộng sự hiểu biết của trẻ về các đề tài vừa được quan sát, rèn luyện và phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ. Giáo dục thẩm mỹ và đạo đức cho trẻ. - Đàm thoại theo chủ đề. Đàm thoại theo chủ đề chỉ áp dụng với trẻ 4 – 6 tuổi. Trước khi tiến hành đàm thoại theo chủ đề giáo viên cần giúp trẻ tích lũy tri thức trước, đồ dùng trực quan cũng cần phải chuẩn bị nhưng không quan trọng bằng việc tích lũy tri thức. Giáo viên phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi chu đáo từ trước khi tiến hành đàm thoại. Câu hỏi cần phải ngắn gọn, rõ ràng, đúng ngữ pháp và có tác dụng rèn luyện phát triển tư duy của trẻ, câu hỏi phải phù hợp trình độ nhận biết của trẻ ở mỗi lứa tuổi, câu hỏi khó nên đặc ở gần giữa hệ thống các câu hỏi đàm thoại. - Cách hỏi của giáo viên. Khi hỏi trẻ giáo viên cần nhìn vào mặt tất cả trẻ trong lớp, câu hỏi khó nên đặt đối với trẻ khá, giỏi, câu hỏi dể nên đặt cho trẻ yếu hơn, không nên chỉ tập trung gọi đi gọi lại một vài trẻ trong lớp mà tất cả trẻ phải được tham gia đàm thoại, câu hỏi khó trẻ không trả lời được cô nên gợi mở và đặt thêm câu hỏi phụ cho trẻ, khi trẻ trả lời được câu hỏi phụ giáo viên sẽ đặt lại câu hỏi khó vừa rồi. Cô phải biết dẫn dắt trẻ trở về đề tài đàm thoại khi trẻ đi xa 8 đề tài. Trong quá trình đặt câu hỏi giáo viên phải nói diễn cảm, thái độ triều mến, khích lệ, khuyến khích, động viên trẻ trả lời, không nên vỗ tay nhiều lần trong quá trình đàm thoại. - Cách trẻ trả lời. Câu trả của trẻ phải ngắn gọn, rõ ràng, diễn cảm, không lan man và đúng ngữ pháp, câu trả lời phải to vừa, không ê-a, khi trả lời phải nhìn vào mặt người hỏi, tư thế tự tin, mạnh dạn, đàng hoàng. * Phương pháp đọc kể chuyện. - Giáo viên đưa những câu chuyện phù hợp với đề tài để dạy, cần chọn câu hỏi ngắn gọn, nội dung đơn giản và dể hiểu. - Đặt những câu hỏi bắt buộc trẻ phải trả lời nhưng cũng có những câu hỏi trẻ phải suy nghĩ không cần trả lời. Ngoài ra còn có thể trò chuyện, giait thích, sử dụng tác phẩm như truyện, thơ, ca dao, đồng dao, câu đố, tục ngữ có nội dung phù hợp với mục đích cho trẻ LQMTXQ. Cô có thể sử dụng những bài hát, bản nhạc và điệu múa có nội dung phù hợp với mục đích để sử dụng trong các tiết học. c. Nhóm phương pháp thực hành. * Khái niệm. Phương pháp thực hành là tổ chức cho trẻ hoạt động để tìm tòi kiến thức mới hay vận dụng điều đã học vào thực tiễn để cũng cố tri thức vừa tạo nên một hệ thống các kỹ năng, kỹ xảo thực hành. * Mục đích và ý nghĩa. - Cũng cố tri thức vài ứng dụng sự hiểu biết vào thực tiễn, hình thành và rèn luyện một số kỹ năng cần thiết trong vui chơi, học tập và lao động. - Giúp cho quá trình học tập của trẻ ở trường Mầm non thêm phần thỏa mái và hấp dẫn, giáo dục trẻ sống gần gũi, hòa đồng với môi trường thiên nhiên và xã hội. * Phương pháp tìm kiếm, phát hiện. Đây là phương pháp mà giáo viên phải tổ chức, giáo dục trẻ hoạt động trong thực tiễn để tìm tòi, khám phá và phát hiện về các sự vật và hiện tượng. - Khi tiến hành phương pháp này phải trải qua các bước sau. + Bước 1: Xác định mục đích vàyêu cầu. + Bươc 2: Tổ chức cho trẻ hoạt động trong thực tiễn nhằm thực hiện mục đích và yêu cầu. + Bước 3: Tổ chức cho trẻ đàm thoại nhằm cũng cố nội dung hoạt động và mở rộng sự hiểu biết. * Phương pháp trò chơi. . Là tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi một cách có mục đích và có kế hoạch, nhằm phục vụ cho trẻ LQVMTXQ. Các trò chơi có tác dụng cũng cố kiến thức, mở rộng sự hiểu biết và rèn luyện một số kỷ năng, thói quen cần thiết cho trẻ. . Sử dụng các nhóm trò chơi. - Trò chơi học tập: Như hãy bắt chước tiếng kêu, cách vận động của các con vật. 9 - Trò chơi sáng tạo: Người chăn nuôi giỏi, bác nông dân, bán hàng.... - Trò chơi xây dựng : Xây nhà, xây chuồng, ao.... - Trò chơi vận động : Mèo đuổi chuột, rồng rắn lên mây, cưỡi ngựa, bịt mắt bắt dê.... . Giáo viên cần lựa chọn, cải tiến các trò chơi cũ và sáng tạo nhiều trò chơi mới khác. Ngoài ra sử dụng một số phương pháp thực hành, lồng ghép các hoạt động khác vào MTXQ như vẽ, nặn, cắt dán, xé dán, bắt chước, độc thoại, sưu tầm, biểu diễn để tổ chức cho trẻ thực hành nhằm cũng cố tri thức và rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo cho trẻ. d. Sự phối hợp các phương pháp. Trong quá trình lĩnh hội tri thức của trẻ thì sự thống nhất giữa quá trình nhận thức cảm tính và lý tính, mà sự nhận thức cảm tính là nguồn gốc. Vì vậy cần phải chú ý khi phối hợp các phương pháp. Chúng ta đã nghiên cứu từng phương háp theo một trình tự nhất định nhưng khi sử dụng các phương pháp này giáo viên phải lựa các phương pháp sao cho phù hợp với nội dung, hình thức, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi. Nhưng cần phối hợp các phương pháp sao cho hợp lý. Giáo viên cần rèn luyện cho mình thành những kỷ năng, kỹ xảo sự dụng các phương pháp, tích hợp các nội dung, phương pháp và trong lĩnh vực cho trẻ Làm quen với MTXQ. 2.4. Hình thưc tổ chức. - Dựa vào đặc điểm, tính chất hoạt động của giáo viên và học sinh các hình to thức tổ chức cho trẻ LQVMTXQ ở trường Mầm non gồm hai hình thức. + Hình thức ngoài học. + Hình thức trong tiết học. - Hiện nay theo cương trình đổi mới về nội dung phương pháp và hình thức giáo dục Mầm Non. Các hình thức này gọi là “Hoạt động góc” và “Hoạt động chung”. - Để hình thành biểu tượng một số động vật nuôi trong gia đình ta có thể sử dụng các hình thức như: + Hoạt độngoài chung. + Hoạt động góc. + Hoạt động ngoài trời. + Hoạt động tham quan. + Hoạt động khác như: Lễ hội, vệ sinh… 3. Đặc điểm của việc hình thành biểu tượng động vật nuôi trong gia đình cho trẻ 5 tuổi. 3.1. Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 5 tuổi. a. Đặc điểm sinh lý. - Chúng ta biết đặc điểm chung của cơ thể trẻ em nói chung và từng cơ quan nói riêng không thể hoàn thành giống người trưởng thành. Cơ thể trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại theo một tỷ lệ nhất định, sự hoạt động của cơ thể trẻ không phải gồm những hoạt động riêng lẻ của từng hệ cơ quan, 10 các cơ quan trong cơ thể trẻ đều hoạt động thống nhất trong một hệ thống hoàn chỉnh. - Trẻ em cũng như người lớn hoạt động vô cùng đa dạng, phong phú và cần có sự phối hợp chặt chẽ, chính xác, linh hoạt của hệ cơ và hệ xương nhưng xương của trẻ e còn mềm dẻo, cơ của trẻ em chiếm nhiều nước, cơ thể trẻ phát triển không đồng đều. - Tuy vậy trẻ 5 tuổi đã có những vận động phức tạp và đa dạng có thể cử động các ngón tay một cách chính xác, phối hợp chúng một cách khéo léo. Trẻ có sự phối hợp vận động của nhiều nhóm cơ như người lớn nên khả năng vận động của trẻ 5 tuổi cũng rất nhanh nhẹn, linh hoạt. b. Đặc điểm tâm lý. * Về nhận thức. - Mức độ phong phú của nhiều kiểu loại (Tri giác không gian, thời gian chuyển động cũng như tri giác vận động nhìn, nghe, sờ, cầm nắm…) - Mức độ chủ định các quá trình tâm lý rõ ràng hơn, có ý thức cao hơn. - Tính mục đích hình thành và phát triển ở mức độ cao hơn so với trẻ 4 tuổi. - Độ nhạy cảm của các giác quan được tinh nhạy hơn. - Khả năng kiềm chế các phản ứng tâm lý được phát triển. - Sự phát triển tư duy ở độ tuổi này mạnh mẽ về kiểu loại và các thao tác. Thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ giứa các sự kiện, hiện tượng, thông tin giữa mới và cũ, gần và xa… - Trẻ đã biết phân tích, tổng hợp không chỉ dừng lại ở đồ vật, hình ảnh mà ngay cả từ ngữ. - Tư duy của trẻ dần mất tính duy kỹ (lấy mình làm trung tâm) tiến dần đến khách thể và hiện thực hơn. Dần dần trẻ biết phân biệt được thực và hư. - Trẻ đã có tư duy trừu tượng với không gian, thời gian, quan hệ xã hội và một số khái niệm trừu tượng quen thuộc (Ngoan, hư, tốt, xấu, đẹp…). Ý thức rõ về những ý nghĩ, tình cảm của mình, trách nhiệm đối với hành vi. - Ở trẻ 5 tuổi phát triển cả ba loại tư duy, tư duy bằng hành động trực quan vẫn chiếm ưu thế. Nhiệm vụ hoạt động loại tư duy hình ảnh trực quan, tư duy trừu tượng cũng được phát triển. - Bên cạnh việc phát triển tư duy trực quan – hình tượng còn phát triển thêm kiểu tư duy trực quan – sơ đồ. Tư duy trực quan sơ đồ vẫn chiếm ưu thế hơn nên trẻ có khả năng hiểu một cách dể dàng và nhanh chóng về cách biểu diễn sơ đồ và sử dụng có hiểu quả những sơ đồ để tìm hiểu sự vật. - Ở trẻ 5 – 6 tuổi tư duy trừu tượng, tư duy lôgich cũng đã xuất hiện, trẻ sử dụng khá thành thạo vật thay thế khi đã phát triển tốt chức năng ký hiệu của ý thức. Trẻ bắt đầu hiểu rằng có thể biểu thị một sự vật hay một hiện tượng nào đó bằng từ ngữ hay ký hiệu khác. * Về ngôn ngữ. - Trẻ sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ, nắm vững ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ. Trẻ biết đọc diễn cảm, biết dùng điệu bộ bổ sung cho ngôn ngữ nói. Vốn từ và cơ cấu ngữ pháp phát triển. 11 - Ngôn ngữ giải thích cũng phát triển, trẻ có nhu cầu nhận sự giải thích và giải thích cho các bạn. - Ngôn ngữ tình huống (Hoàn cảnh) do giao tiếp với người xung quanh bằng những thông tin mà trẻ trực tiếp mà trẻ tri giác được. - Tính mạch lạc, rõ ràng do vốn từ của trẻ chiếm 50% là danh từ. Do vậy câu nói của trẻ thường ngắn gon, rõ ràng. - Tính địa phương trong ngôn ngữ: Nói ngọng, nói lắp, nói mất dấu… nền văn hóa địa phương, cộng đồng thể hiện rất rõ trong ngôn ngữ trẻ. - Tính cá nhân đã bộc lộ rõ qua các sắc thái ngôn ngữ khác nhau của trẻ đặc biệt ở chức năng ngôn ngữ biểu cảm. * Về chú ý. - Trẻ đã có khả năng chú ý có chủ định từ 37 – 51 phút. Nếu đồ vật, đối tượng chú ý hấp dẫn, nhiều thay đổi kích thích sự tò mò, ham hiểu biết của trẻ. - Trẻ có thể phân phối được chú ý 2, 3 đối tượng cùng một lúc, tuy nhiên thời gian phân phối chú ý chưa bền vững, dể dao động (Đặc biệt hoạt động nặn, vẽ, kẽ, quan sát tranh ảnh). - Di chuyển chú ý của trẻ nhanh nếu sự di chuyển chú ý tốt. - Phẩm chất chú ý của trẻ còn mạnh, nhiều khi trẻ không tự chủ được do xung lực bản năng (vô thức) chi phối. - Ở độ tuổi này trẻ chú ý nhiều vào tác động của âm thanh, từ âm thanh bên ngoài, trẻ biết chú ý vào sự suy nghĩ, ảm xúc bên trong óc trẻ. * Về ý chí. - Trẻ dần dần đã xác định rõ mục đích của hành động, trẻ cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ. - Trẻ muốn chơi trò chơi này, trẻ muốn được nghe chuyện kể nhều hơn nhưng cô không đáp ứng, khi đó cô sẽ chuyển sang trò chơi mà trẻ không thích. - Tính mục đích công việc ngày càng được trẻ ý thức và cố gắng hoàn thành. - Tính kế hoạch xuất hiện trẻ biết sắp xếp (công việc) làm mọi việc phải xong cho người lớn vui lòng. - Tinh thần trách nhiệm bản thân của con người, của người học trò được dần dần hình thành ở trẻ, được trẻ ý thức từng bước một. * Về xúc cảm và tình cảm. - Ở lứa tuổi này đã xuất hiện tình cảm bạn bè. Đời sống xúc cảm, tình cảm ổn định hơn so với trẻ 4 tuổi, mức độ phong phú, phức tạp tăng dần theo các mối quan hệ giao tiếp với những người xung quanh. - Các sắc thái xúc cảm con người trong quan hệ với các lứa tuổi khác nhau, vị trí xã hội khác nhau được hình thành như tình cảm mẹ con, ông bà, anh chị em…tình cảm với cô giáo, với người thân, người lạ, với bạn bè. - Tuy nhiên đời sống xúc cảm của trẻ còn dễ dao động mang tính tình huống. - Các loại tình cảm cao cấp xuất hiện. 12 + Tình cảm trí tuệ: Tình cảm trí tuệ của trẻ phát triển, mmooix nhận thức mới đều kich thích niềm vui, hứng thú, sự đam mê, thích thú đối với trẻ. Tính tò mò, ham hiểu biết làm nảy sinh nhiều xúc cảm tích cực. + Tình cảm đạo đức: Do lịnh hội được ý nghĩa các chuẩn mực hành vi tốt, xấu, trẻ ý thức được nhiều hành vi tốt đẹp cần thực hiện để vui lòng mọi người ở các hoàn cảnh, quan hệ khác nhau. + Tình cảm thẩm mỹ: Trẻ ý thức rõ nét về cái đẹp, cái xấu theo chuẩn (Lúc đầu theo chuẩn của bé dần dần phù hợp với đánh giá của những người xung quanh) xúc cảm thẩm mỹ, óc thẩm mỹ được phát triển. CHƯƠNG II. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH BIỂU TƯƠNG ĐỘNG VẬT NUÔI CHO TRẺ 5 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CHUNG I. Vài nét về khách thể nghiên cứu. Trường Mầm Non của chúng tôi học sinh vùng kinh tế mới và con em đồng bào rất đông. Trình độ dân trí không đều, người dân chủ yếu làm nông, mấy năm gần đây hạn hán, lũ lục thường xuyên sảy ra, dân mất mùa liên tục, thu nhập rất thấp nên việc đóng góp xây dựng trường còn nhiều hạn chế. Nhà trường phối hợp với các cấp và nhân dân với phương châm “Nhà trường và nhân dân cùng làm” đã xây dựng đầy đủ phòng học cho các cháu được đến Trường, tu sửa các công trình vệ sinh và công trình rửa tay dưới vòi nước sạch cho tất cả các lớp học, ốp gạch lên tường cho các lớp để đảm bảo vệ sinh cho trẻ và đảm bảo cho vệc trang trí theo chủ đề. Tuy nhiên phòng học còn chật hẹp, chưa đúng quy trình của nghành Mầm Non, bàn ghế chưa đúng quy cách. Một số trẻ chưa trải qua 3 độ tuổi, trẻ con em đồng bào chưa nói sành tiếng phổ thông, sự giao tiếp còn nhút nhát, nên việc hình thành biểu tượng động vật nuôi gặp nhiều khó khăn. Hiện nay Trường có: Tổng số CBGVNV: 30 Người, trình độ chuyên môn của giáo viên đều đạt chuẩn và trên chuẩn theo Bộ giáo dục quy định, các giáo viên đang tích cực theo học trình độ đại học để năng cao chuyên môn, tay nghề nhằm đáp ứng nhu cầu dạy và học theo chương trình đổi mới hiện nay. * Về cơ sở vật chất. - Chỉ có một số đồ dùng bằng nhựa về các con vật, tranh lôtô nhà trường mua hổ trợ một ít và giáo viên tự mua. - Chưa có giá trưng bày đồ dùng cho trẻ quan sát. - Giáo viên tay nghề làm đồ dùng, đồ chơi chưa sáng tạo, chưa trau chuốt nên đồ dùng để phục vụ hình thành biểu tượng còn hạn chế. - Học sinh chưa đóng góp thêm để mua đồ dùng, đồ chơi nên kinh phí mua đồ dùng, đồ chơi còn hạn chế, chưa được phong phú. - Trường chưa khoanh vùng khu vườn trường nên chưa có khu nào để nuôi con vật nuôi. Vì vậy trẻ không có điều kiện quan sát trực tiếp các con vật. 13 - Giáo viên hầu hết chưa có máy tính xách tay nên việc coppy những hình ảnh, những đoạn video có thật về các con vật nuôi cho trẻ quan sát còn hạn chế. II. Thực trạng của việc hình thành biểu tượng động vật nuôi trong gia đình cho trẻ 5 tuổi thông qua hoạt động chung ở Trường. 1. Nhận thức của giáo viên về vấn đề liên quan đến việc hình thành biểu tượng về một số động vật nuôi cho trẻ 5 tuổi (Thông qua hoạt động chung). Qua điều tra bằng phiếu quan sát, trao đổi với giáo viên. Phát phiếu điều tra cho 20 giáo viên, tổng hợp được kết quả sau. - Số lượng CBGV cho rằng: 20/20 =100% việc hình thành biểu tượng về một số động vật nuôigia đình trong cho trẻ 5 tuổi (Thông qua hoạt động chung) là rất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ. - 20/20 CBGV = 100% cho rằng việc hình thành biểu tượng về một số động vật nuôi trong gia đình cho trẻ 5 tuổi bao gồm các tri thức. . Tên gọi. . Đặc điểm. . Cấu tạo. - 20/20 CBGV = 100% cho rằng: Để hình thành biểu tượng về một số động vật nuôi trong gia đình cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi cô đã sử dụng các phương pháp. . Phương pháp quan sát. . Phương pháp sử dụng tranh ảnh. . Phương pháp đàm thoại. . Phương pháp trò chơi. - 20/20 CBGV = 100% cho rằng việc hình thành biểu tượng về một số động vật nuôi trong gia đình cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi có thể tiến hành qua các hình thức tổ chức. . Hoạt động chung. . Hoạt động góc. . Hoạt động tham quan. - 20/20 CBGV = 100% cho rằng: Để hình thành biểu tượng về một số động vật nuôi trong gia đình cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi cần có các điều kiện. . Địa điểm. . Đồ dùng, đồ chơi. . Tranh ảnh. + 11/20 CBGV = 55% cho rằng cần có điều kiện vật thật tin học; 9/20 CBGV = 45% cho rằng không có điều kiện vật thật tin học. + CBGV cho rằng quá trình hình thành biểu tượng về một số động vật nuôi trong gia đình cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi trong trường Mầm non gặp những khó khăn sau: . 20/20 CBGV = 100% thiếu cơ sở vật chất. . 19/20 CBGV = 95% thiếu trang thiết bị dạy và học. . 5/20 CBGV = 25% thiếu tài liệu tham khảo. 14 . 1/20 CBGV = 5% thiếu hiểu biết về nội dung. - Qua trao đổi kinh nghiệm về việc hình thành biểu tượng về động vật nuôi trong gia đình cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi ở trường Mầm non để được hiệu quả. - Giáo viên luôn chuẩn bị giáo án trước khi lên lớp, lên kế hoạch cụ thể, nghiên cứu từng đề tài, chuẩn bị địa điểm phù hợp trước giờ học. - Sử dụng trực quan bằng vật thật (Con vật thật hoặc video về hình ảnh vật thật để thu hút trẻ). - Giáo viên lên lớp nhẹ nhàng, linh hoạt, lời nói thu hút trẻ, hệ thống câu hỏi từ dể đến khó. - Hướng dẫn trẻ quan sát mọi lúc, mọi nơi, ở mọi tư thế (Trong chuồng, đang ăn, đang bơi, đang kiếm mồi…). - Tích hợp các môn học phù hợp, loogich, trò chơi tổ chức sinh động phù hợp đề tài, chú ý động viên trẻ kịp thời. 2. Thực trạng của việc hình thành biểu tượng về một số động vật nuôi ở Trường chúng tôi như sau. Về phương pháp tổ chức: Có tổ chức cho trẻ tìm hiểu về động nuôi trong gia đình theo từng loại tiết và sử dụng sử dụng phương pháp đặc trưng của từng loại tiết đó như: - Một số vật nuôi có hai chân, có mỏ, đẻ trứng (Nhóm gia cầm). - Một số vật nuôi có bốn chân, đẻ conn (Nhóm gia súc). - Một số con vật nuôi trong gia đình. - Tiến hành hình thành biểu tượng động vật nuôi thường heo quy trình tổng quát – chi tiết – so sánh – tổng hợp. Khi cho trẻ quan sát chủ yếu bằng hình ảnh, cô ngại mang con vật nuôi đến lớp vì cồng kềnh, khó bảo quản, dễ xảy ra sơ xuất nên trẻ rất nhàm chán, hình ảnh chưa sinh động lôi cuốn được trẻ. Giáo viên tổ chức cho trẻ hoạt động với nhiều hình thức ca nhân, thi đua giữa hai đội qua các trò chơi thi xem đội nào nhanh, hãy chon đúng…Các hoạt động khác như Vẽ, năn, cắt dán…và tích hợp các môn học khác như LQVT, LQVVH, LQCC. Tuy nhiên sự kết hợp còn mang tính hình thức, còn đơn điệu, chưa nhuần nhuyễn, chưa có sự sáng tạo còn mang tính tự phát, chưa phù hợp với nội dung cần thuyền đạt cho trẻ dẫn đến việc hình thành biểu tượng động vật nuôi cho trẻ chỉ diễn ra đơn giản, chưa khắc sâu vào trí tuệ trẻ dù động vật nuôi đã có nhiều kinh nghiệm đối với trẻ, chưa khai thác hết khả năng hoạt động của từng trẻ. 3. Thực trạng về mức độ hình thành biểu tượng một số động vật nuôi cho trẻ 5 tuổi thông qua hoạt động chung ở trường mầm non. - Chúng ta tiến hành điều tra khảo sát 20 cháu lớp Lá 2. Nhìn chung các cháu khỏe mạnh, số lượng học sinh cùng độ tuổi và con em dân tộc như nhau. Chúng tôi đề ra các tiêu chí và thang đánh giá để điều tra hực trạng về mức độ hình thành biểu tượng một số động vật nuôi cho trẻ 5 tuổi thông qua hoạt động chung như sau: 15 STT TIÊU CHÍ NỘI DUNG TIÊU CHÍ ĐIỂM 01 Tiêu chí 1 Tính phong phú của biểu tượng 2 02 Tiêu chí 2 Tính chính xác của biểu tượng 3 03 Tiêu chí 3 Tính khái quát của biểu tượng 2 04 Tiêu chí 4 Khả năng sử dụng biểu tượng trong 3 hoạt động 10 Điểm Cộng Cụ thể. * Tiêu chí 1: Tính phong phú của đối tượng. - Mức độ 1: Trẻ kể được nhiều tên các con vật nuôi (Từ 5-10 con vật trở lên) biết các con vật đó thuộc nhóm gì. (2 điểm). - Mức độ 2: Trẻ kể được một vài con vật nuôi hoặc một vài con vật của nhóm (1 điểm) - Mức độ 3: Trẻ không biết tên các con vật nuôi trong gia đình (0 điểm). * Tiêu chí 2: Tính chính xác của đối tượng. - Mức độ 1: Trẻ gọi đúng tên, tiếng kêu, gọi đúng các bộ phận của con vật nuôi thuộc nhóm gì, nêu một số đặc điểm nổi bặt của nhóm. (2 điểm). - Mức độ 2: Trẻ chưa phân biệt được từng đặc điểm của từng con vật của từng nhóm, chưa phân biệt được gia xúc hay gia cầm. (1 điểm). - Mức độ 3: Trẻ không biết tên các con vật nuôi, không nêu được đặc điểm của từng con vật, của từng nhóm. (0 điểm). * Tiêu chí 3: Tính khái quát của đối tượng. - Mức độ 1: Trẻ biết tất cả các con vật chó, mèo, lợn, gà, vịt, ngang, trâu, bò…là động vật nuôi trong gia đình, biết phân nhóm theo dấu hiệu, đặc điểm. (3 điểm). - Mức độ 2: Trẻ chưa biết tất cả các con vật chó, mèo, lợn, gà, vịt, ngang, trâu, bò…là động vật nuôi trong gia đình, chưa phân biệt được nhóm gia xúc, gia cầm gồm những con vật nào. (2 điểm). - Mức độ 3: Trẻ chưa biết các con vật nào là vật nuôi trong gia đình, sắp xếp các con vật lôn xộn chưa theo yêu cầu. (1 điểm). * Tiêu chí 4: Khả năng sử dụng biểu tượng trong hoạt động. - Mức độ 1: Trẻ sử dụng thành thạo biểu tượng động vật nuôi trong các hoạt động. (3 điểm). - Mức độ 2: Trẻ sử dụng các biểu tượng còn lúng túng, chưa tự nhiên. (2 điểm). - Mức độ 3: Kỹ năng sử dụng các biểu tượng trong hoạt động chưa đúng. (1 điểm). 16 KẾT QUẢ KHẢO SÁT VỀ MỨC ĐỘ HÌNH BIỂU TƯỢNG ĐỘNG VẬT NUÔI CHO TRẺ 5 TUỔI (THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CHUNG) KẾT QUẢ CHÙNGK TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ S TT NGÀY SINH TIÊU CHÍ 1 TIÊU CHÍ 2 TIÊU CHÍ 3 Trần Hà Anh 16/02/2006 2 2 3 3 10 02 Nguyễn Tuấn Anh 06/10/2006 2 1 3 3 9 03 Nguyễn T Ngọc Ánh 02/05/1006 1 2 2 1 6 Lê Thanh Dương 17/12/2006 2 1 2 2 7 Lê Văn Dũng 09/01/2006 2 2 2 2 8 Phan Anh Tuấn 27/07/2006 2 1 2 1 6 Đinh Trung Tính 23/04/2006 2 2 2 3 9 Vũ Trịnh Bảo Trâm 7/11/2006 2 2 3 3 10 01 04 05 06 07 08 HỌ VÀ TÊN TIÊU CHÍ 4 KẾT QUẢ CHUNG 09 Nguyễn Văn Kha 24/9/2006 1 1 2 1 5 10 Bùi Trình Khiêm 01/1/2006 2 2 3 3 10 11 Nguyễn Văn Khải 15/7/2006 1 1 1 2 5 12 Nguyễn Thị Trang 11/5/2006 2 1 2 2 7 13 Trần Thị Trang 10/7/2006 1 2 2 1 6 14 Phạm N Minh Khuê 11/9/2006 2 1 2 1 6 15 Bùi Như Quỳnh 28/9/2006 1 2 2 1 6 16 Vũ Xuân Nhật 16/10/2006 1 2 2 1 6 17 Phạm Vũ Nhật Nam 05/08/2006 2 2 2 3 9 18 Nguyễn Thị H Xuân 10/01/2006 1 2 2 2 8 19 Lê Ngọc Hà 19/02/2006 2 2 3 2 9 20 Nguyễn H Anh Thư 19/09/2006 1 2 2 3 8 2,2 2,25 TRUNG BÌNH 1,6 1,65 7,7 17 NHẬN XÉT. Nhìn vào bảng trên ta thấy rõ mức độ hình thành biểu tượng cho trẻ 5 tuổi thông qua hoạt động chung. * Tính phong phú của đối tượng. - Đa số trẻ biết gọi tên một số con vật nuôi trong gia đình (Gà, vịt, chó, mèo, trâu, bò…). Nhưng vẫn còn một số cháu chưa nói được đầy đủ tên các con vật nuôi. + Có 12/ 20 cháu đạt 60% kể được rất nhiều tên các con vật nuôi trong gia đình. + Có 8/20 cháu đạt 40% kể được một vài tên các con vật nuôi trong gia đình. * Tính chính xác của đối tượng. - Trẻ nói rõ tiếng kêu của từng con vật, nêu được các phần chính của con vật nuôi và biết con vật đó thuộc nhóm gia cầm hay gia xúc, động vật có 2 chân hay có 4 chân, đẻ trứng hay đẻ con. - Vẫn còn một số cháu biết gọi tên, tiếng kêu của con vật nhưng còn lúng túng khi phân biệt nhóm thuộc gia xúc và nhóm gia cầm. + Có 13/20 cháu đạt 65% nêu được chính xác đặc trưng của các con vật nuôi. + Có 7/20 cháu đạt 35% chưa nêu được chính xác đặc trưng của các con vật nuôi. * Tính khái quát của đối tượng. - Giao bài tập trẻ thực hiện và gọi tên các con vật nuôi trong gia đình. - Phân nhóm: Con vật nuôi có 2 chân, 2 cánh, có mỏ, đẻ trứng. - Con vật nuôi có 2 chân, có cánh, biết bơi. - Con vật nuôi 4 chân, đẻ con. - Con vật nuôi có 4 chân, có sừng. - Con vật nuôi có 4 chân, biết trong nhà. + Có10/20 cháu đạt 50% làm đúng theo yêu cầu của bài tập. + Có10/20 cháu đạt 50% làm chưa đúng theo yêu cầu của bài tập. * Khả năng sử dụng biểu tượng trong hạt động. . Quan sát trẻ thực hành trong nhóm. - Nối các con vật tương ứng với thức ăn của chúng. - Nhóm tô màu nhóm gia xúc, nhóm tô màu nhóm gia cầm. - Nặn các con vật nuôi trong gia đình mà trẻ thích. + Qua quan sát có 9/20 cháu đạt 45% cháu có khả năng nhanh nhẹn thực hiện bài tập rất nhanh và đúng thời gian. + Có 11/20 cháu đạt 55% cháu còn lúng túng, nhầm lẫn giơax con vật này với con vật khác, nối thức ăn của con vật nuôi chưa đúng. Như vậy với số trẻ đã quan sát cùng độ tuổi (5 tuổi) nhưng sự hình thành biểu tượng động vật nuôi ở trẻ vẫn có sự chênh lệch. 18 KẾT LUẬN CHƯƠNG II. Qua điều tra, khảo sát, tìm hiểu thực trạng của việc hình thành biểu tượng về một số động vật nuôi trong gia đình cho trẻ 5 tuổi (Thông qua hoạt động chung) ở Trường chúng tôi kết luận như sau. * Về Giáo Viên. Đều nhận thấy rõ việc hình thành biểu tượng về một số động vật nuôi trong gia đình cho trẻ 5 tuổi (Thông qua hoạt động chung) là rất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ, nắm được phương pháp nhưng chưa linh hoạt, sáng tạo còn cứng nhắc theo từng bước, từng phần. Tổ chức hoạt động còn rời rạc. * Về vật chất. Còn thiếu thốn, đồ dùng chỉ mang tính chất minh họa bằng tranh ảnh chưa cho trẻ quan sát con vật thật và những hoạt động của chúng, chưa cho trẻ quan sát quá trình hình thành và phát triển của các con vật, còn thiếu thốn về tài liệu tham khảo. * Về học sinh. Trẻ còn nhút nhác, lúng túng trong hoạt động, khả năng diễn đạt ngôn ngữ mạch lạc còn yếu, trẻ trả lời còn trống không, trẻ hoạt động còn thụ động chưa được rèn luyện thành kỷ năng, kỷ xảo. CHƯƠNG III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG MỘT SỐ ĐỘNG VẬT NUÔI TRONG GIA ĐÌNH CHO TRẺ 5 TUÔI (THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CHUNG) 1. Cơ sở xác định biện pháp hình thành biểu tượng một số vật nuôi trong gia đình cho trẻ 5 tuôi (Thông qua hoạt động chung). 1.1. Dựa vào mục đích giáo dục trẻ. - Trẻ em ở lứa tuổi phổ thông (0 – 6 tuổi) là một giai đoạn quan trọng đặc nền móng cho giáo dục phổ thông và phát triển nhân cách, thực hiện mục đích giáo dục nói chung. Vì thế mục tiêu giáo dục Mầm non phải xuất phát từ mục đích giáo dục, đó là một vấn đề vô cùng quan trọng không thể thiếu được cho việc thực hiện mục đích giáo dục sau này cho mỗi học sinh, mỗi người lao động mai sau. - Xuất phát từ những đặc điểm phát triển của trẻ em trong lứa tuổi đó là đặc điểm sinh lý và tâm lý để xây dựng mục tiêu và tổ chức khoa học là toàn bộ quá trình giáo dục trẻ em. - Tiếp thu những thành tựu khoa học tiên tiến của thế giới trong công tác giáo dục Mầm non và đón trước sự phát triển của trẻ em Việt Nam trong cái gọi là xu hướng phát triển của trẻ em lứa tuổi này. - Trong văn bản chính thức của Bộ Giáo Dục “Quyết định 55 của Bộ giáo dục quy định mục tiêu, kế hoạch đào tạo của nhà trẻ - mẫu giáo” Hà nội 1990 đã đề ra mục tiêu giáo dục Mầm non là: Hình thành cho trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới XHCN Việt Nam. . Khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hòa, cân đối. 19 . Giàu lòng thương, biết quan tâm, nhường nhin, giúp đỡ những người gần gũi (Bố mẹ, ông ba, bạn bè, cô giáo…) thật là lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên. . Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp xung quanh. . Thông minh, ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi, có một số kỷ năng sơ đẳng (Quan sát, so sanh, phân tích, tổng hợp, suy luận) cần thiết đẻ vào trường phổ thông, thích đi học. 1.2. Dựa vào mục đích cho trẻ LQVMTXQ. Trang bị những tri thức về MTXQ và bản thân trẻ. Hình thành thái độ tích cực của trẻ đối với MTXQ. Rèn luyện kỷ năng, hành vi của trẻ trong mối qua hệ với MTXQ. 1.3. Dựa vào đặc điểm nhận biết của trẻ Mầm non về MTXQ. - Trẻ em có nhu cầu cao trong việc nhận biết về MTXQ. - Trẻ em rất thích tìm tòi khám phá thế giới xung quanh, trẻ thích hoạt động trong thiên nhiên, trong sự giao tiếp với bạn bè, với người lớn, trong sự tiếp xúc với đồ vật xung quanh. - Sự nhận biết của trẻ về MTXQ còn mang nặng cảm tính và tính trực quan hành động. - Ở trẻ em Mầm non hoạt động các cơ quan cảm giác còn chưa hoàn thiện, tuy nhiên kết quả hoạt động của các cơ quan cảm giác lại là cơ sở ban đầu của quá trình trẻ nhận biết về MTXQ. - Các động vật tham gia quá trình nhận biết của trẻ (Cảm giác, tri giác, trí nhơ, tư duy…) còn chưa hoàn thiện. Vì thế những tri thức trẻ lĩnh hội được còn thiếu chính xác, hời hợt, nông cạn và rời rạc, tri thức trên chỉ là dấu hiệu bên ngoài chưa phải là bản chất bên trong của sự vật hiện tượng, trẻ dể ghi nhớ nhưng lại chóng quên những đối tượng mới lsj, có màu sắc sặc sỡ thường hấp dẫn trẻ hơn, khả năng chú ý vào đối tượng của trẻ còn yếu. Do vậy khi nhận biết đối tượng nếu có trực quan, trẻ sẽ nhận biết đối tượng dễ dàng hơn, có trực quan nếu trẻ được thao tác, hành động, hoạt động với trực quan thì sự nhận biết của trẻ sẽ sâu sắc hơn, ghi nhớ lâu bền hơn. - Mức độ nhận biết của trẻ về MTXQ phụ thuộc vào đặc điểm tâm lý của trẻ ở từng lứa tuổi khác nhau, nên yêu cầu nội dung, phương pháp và hình thức cho trẻ LQVMTXQ phải phù hợp với mức độ nhận bết của trẻ ở từng độ tuổi khác nhau. 1.4. Dựa vào thực tế của Trường. Trường Mầm Non chúng tôi. Do thời tiết khí hậu khắc nghiệt, hạn hán mất mùa thường xuyên sảy ra nên điều kiện kinh tế của dân cò thấp, dân di cư tự do nhiều nên trình độ dân trí không đồng đều. Trường rất ít phòng học, học sinh trong lớp rất đông, cơ sở vật chất còn hạn hẹp, phòng học, bàn ghế chưa đúng quy định, đồ dùng, đồ chơi còn chưa phong phú, sân chơi, bãi tập chưa đảm bảo. Một số hộ dân cư còn ở bên kia sông, ở đường đất vào mùa mưa việc đi lại của học sinh gặp rất nhiều khó khăn. Khả năng phát âm, trả lời câu hỏi một số trẻ còn chậm, chưa rõ ràng, mạch lạc, kinh nghiệm hiểu 20
- Xem thêm -