Tài liệu Những cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự luận văn ths. luật

  • Số trang: 102 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 448 |
  • Lượt tải: 2
tailieuonline

Đã đăng 39907 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT PHẠM VĂN HUÂN NHỮNG CƠ SỞ VÀ CĂN CỨ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2013 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT PHẠM VĂN HUÂN NHỮNG CƠ SỞ VÀ CĂN CỨ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ Chuyên ngành : Luật hình sự Mã số : 60 38 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí HÀ NỘI - 2013 2 MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ SỞ VÀ CĂN CỨ 1 5 KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.1. 1.1.1. 1.1.2. 1.1.3. 1.2. 1.2.1. 1.2.2. 1.3. 1.4. 1.4.1. 1.4.2. 1.5. Khởi tố vụ án hình sự Khái niệm khởi tố vụ án hình sự Đặc điểm của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự Ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự Cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự Cơ sở khởi tố vụ án hình sự Căn cứ khởi tố vụ án hình sự Chủ thể, phạm vi, hậu quả pháp lý của khởi tố vụ án hình sự Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của luật tố tụng hình sự Việt Nam về cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự Giai đoạn từ sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến khi pháp điển hóa lần thứ nhất, Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 1988 Giai đoạn từ sau khi pháp điển lần thứ nhất, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đến nay Khởi tố vụ án trong các mô hình tố tụng hình sự một số nước Chương 2: THỰC TIỄN VỀ CƠ SỞ VÀ CĂN CỨ KHỞI TỐ VỤ ÁN 5 5 6 7 11 11 14 17 24 24 29 31 39 HÌNH SỰ 2.1. 2.1.1. 2.1.2. 2.2. 2.2.1. 2.2.2. Qui định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về cơ sở và 38 căn cứ khởi tố vụ án hình sự Cơ sở khởi tố vụ án hình sự 38 Các căn cứ khởi tố vụ án hình sự 47 Thực tiễn áp dụng cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự 50 Thực trạng áp dụng cơ sở khởi tố vụ án hình sự 50 Thực trạng áp dụng căn cứ khởi tố vụ án hình sự 53 3 2.2.3. Nguyên nhân của những ưu điểm và tồn tại trong việc thực 56 hiện chế định cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ĐỀ NÂNG CAO HIỆU 61 QUẢ THỰC HIỆN CHẾ ĐỊNH CƠ SỞ VÀ CĂN CỨ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 3.1. 3.2. 3.2.1. 3.2.2. 3.2.3. 3.3. 3.4. 3.5. 3.6. Yêu cầu về việc nâng cao hiệu quả khởi tố vụ án hình sự Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự Hoàn thiện các quy định về tiếp nhận thông tin về tội phạm, kiểm sát việc tiếp nhận và giải quyết thông tin về tội phạm Hoàn thiện các quy định về xác định trách nhiệm xác định dấu hiệu tội phạm Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm khởi tố vụ án hình sự và không khởi tố vụ án hình sự Các giải pháp nâng cao vai trò và hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động khởi tố vụ án hình sự Các giải pháp nâng cao về công tác cán bộ, cơ sở vật chất, kĩ thuật và tài chính cho hoạt động khởi tố vụ án hình sự Các giải pháp về bảo mật thông tin và bảo vệ khen thưởng người tố giác tội phạm Các giải pháp khác KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 4 61 62 62 70 73 80 82 86 88 95 96 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của hoạt động tố tụng hình sự, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định có hay không dấu hiệu tội phạm để quyết định đưa vụ việc giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự với nguyên tắc "Mọi hình vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lí nhanh chóng, công minh, theo đúng pháp luật". Trên tinh thần đó, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 tại Điều 1 quy định: Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự... nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Bộ luật tố tụng hình sự góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân thủ pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm [19]. Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, đây là giai đoạn đầu tiên, mở đầu cho các giai đoạn tiếp theo của tố tụng hình sự trong vụ án hình sự. Giai đoạn này bắt đầu từ việc tiếp nhận và phát hiện các nguồn thông tin về tội phạm và kết thúc bằng việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Khởi tố vụ án hình sự có căn cứ đúng pháp luật là cơ sở cho các hoạt động tiếp theo, ngược lại khởi tố không có căn cứ pháp luật sẽ dẫn đến tình trạng làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm. Các qui định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về khởi tố 5 vụ án hình sự nói chung và căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hình sự nói riêng là cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền thực thi có hiệu quả quyết định đưa sự việc giải quyết bằng thủ tục tố tụng hình sự. Đồng thời nó cũng là những công cụ để bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự góp phần thực hiện đấu tranh phòng ngừa tội phạm có hiệu quả. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành Bộ luật tố tụng hình sự đã bộc lộ những hạn chế trong các qui định của pháp luật, như: các quy định về trách nhiệm tiếp nhận thông tin về tội phạm, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết thông tin về tội phạm; các quy định về trách nhiệm xác định dấu hiệu tội phạm, trách nhiệm quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự, công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra hoạt động khởi tố vụ án hình sự và chế độ bảo mật và bảo vệ người cung cấp thông tin về tội phạm còn hạn chế. Ngoài ra, trong hoạt động tố tụng hình sự vẫn còn tình trạng các cơ quan có thẩm quyền xác định không đúng căn cứ và cơ sở khởi tố vụ án hình sự nên dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm, bắt, giữ, giam, truy tố oan sai người vô tội. Thực trạng đó làm ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước mà trước hết là uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với nền tư pháp xã hội chủ nghĩa. Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài "Những cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự" làm đề tài luận văn của mình. Qua quá trình nghiên cứu tác giả mong muốn hiểu một cách sâu sắc nhất và có hệ thống về các quy định trong chế định "Những cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự" để nâng cao nhận thức bản thân nhằm nắm rõ và hiểu một cách sâu sắc, có hệ thống các quy định của pháp luật về chế định "Cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự". Trên cơ sở đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định về khởi tố vụ án hình sự có cơ sở, đủ căn cứ và đúng pháp luật, góp phần đảm bảo trật tự, an toàn xã hội tạo môi trường thuận lợi để thực hiện sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh". 6 2. Tình hình nghiên cứu Về chế định Những cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự trong tố tụng hình sự đã có một số công trình nghiên cứu nhưng chưa nhiều, nội dung nghiên cứu mới chỉ tập trung vào một vài khía cạnh của chế định: những cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự. Mặt khác, thực tiễn hoạt động khởi tố vụ án hình sự còn nhiều bất cập có nguyên nhân từ các quy định pháp luật tố tụng hình sự có nội dung còn chưa rõ ràng do đó cần phải tiếp tục nghiên cứu. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Nhằm làm sáng tỏ về mặt lý luận về những cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự trong tố tụng hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Đồng thời thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện chế định: những cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự, xác định những nguyên nhân của kết quả cũng như hạn chế, từ đó kiến nghị đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chế định khởi tố vụ án hình sự đảm bảo đúng pháp luật. 4. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quy định của pháp luật, đặc biệt là những chế định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về khởi tố vụ án hình sự và thực tiễn khởi tố vụ án hình sự. Thông qua đó làm rõ những cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự. 5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu - Luận văn vận dụng phương pháp luận và phép biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc tổ chức bộ máy Nhà nước, trong đó có hệ thống cơ quan tư pháp trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác tư pháp thể hiện trong các Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, 48-NQ/TW ngày 24/5, 49-NQ/TW ngày 02/5/2005 của Bộ Chính trị. 7 - Luận văn sử dụng các phương pháp: Phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp, thống kê… Để khái quát đánh giá thực trạng hoạt động tố tụng về khởi tố vụ án hình sự. Trong quá trình nghiên cứu tác giả nghiên cứu các văn bản áp dụng pháp luật liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài, tiếp thu chọn lọc ý kiến của chuyên gia và kết quả các công trình khoa học. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề chung về căn cứ và căn cứ khởi tố vụ án hình sự. Chương 2: Thực tiễn về cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự. Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự. 8 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ SỞ VÀ CĂN CỨ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.1. KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.1.1. Khái niệm khởi tố vụ án hình sự Con người là mục tiêu giải phóng của sự nghiệp cách mạng. Vấn đề quyền con người luôn là trung tâm của mọi cuộc cách mạng và tiến bộ xã hội. Với quan điểm duy vật về lịch sử, triết học Mác - Lênin nói riêng, chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về quyền con người, khẳng định mối quan hệ gắn bó biện chứng giữa các quyền tự do cơ bản với các điệu kiện và biện pháp đảm bảo thực hiện quyền con người trong thực tế. Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, là công cụ sắc bén được Nhà nước sử dụng để quản lý và duy trì trật tự xã hội. Chính vì vậy, mọi công dân đều phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, có như vậy, mới giữ vững được kỷ cương phép nước, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trong xã hội đó, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng. Chính vì vậy họ luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Họ không chỉ được bảo đảm các quyền tự do dân chủ mà "Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm" [16, Điều 71]. Trong lịch sử lập pháp nước ta. Quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội, trong đó với tư cách là người bảo vệ lợi ích của toàn xã hội, Nhà nước có quyền khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người phạm tội, buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm mà họ đã gây ra. 9 Trong khoa học luật tố tụng hình sự, khởi tố vụ án hình sự là một khái niệm được hiểu ở nhiều góc độ khác nhau. Trước hết, có thể hiểu đó là một chế định của luật tố tụng hình sự, gồm tập hợp những quy định về trình tự và thủ tục khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên cũng có thể hiểu khởi tố vụ án hình sự là một hành vi tố tụng mở đầu của một vụ án hình sự mà trước hết là mở đầu cho giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Một cách hiểu phổ biến hiện nay về khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng độc lập trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu: Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của hoạt động tố tụng hình sự, trong đó các cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự, làm cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án hình sự. 1.1.2. Đặc điểm của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự nên cũng có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc. Thời điểm bắt đầu của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự được xác định từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng tiếp nhận thông tin về tội phạm như: tố giác, tin báo về tội phạm; tin báo của cơ quan tổ chức; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; người phạm tội tự thú hoặc các cơ quan có thẩm quyền trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm và thời điểm kết thúc của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là khi các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Từ khái niệm chung nhất về khởi tố vụ án hình sự cho thấy giai đoạn này có những đặc điểm chính sau đây: Một là: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên, được bắt đầu với việc các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo... hoặc trực trực tiếp phát hiện về tội phạm và thời điểm kết thúc của giai đoạn này là việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vị án hình sự. 10 Hai là: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự chỉ có nhiệm vụ xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố hay quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Ba là: Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự chủ thể có quyền tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự bao gồm: Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát; Tòa án; các Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra như Kiểm lâm, Hải quan… Bốn là: Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự các biện pháp mà các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền được áp dụng đó là: Biện pháp yêu cầu các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân cung cấp tài liệu cần thiết, liên quan đến tội phạm; Biện pháp khám nghiệm hiện trường thu thập dấu vết của tội phạm; áp dụng các biện pháp tạm giữ; lấy lời khai của người bị tạm giữ; lấy lời khai của người tố giác tội phạm...; 1.1.3. Ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự Tố tụng hình sự là một quá trình thống nhất của nhiều giai đoạn tố tụng độc lập. Giai đoạn tố tụng trước là tiền đề cho giai đoạn tố tụng sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước. Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự giả quyết một vụ án và là giai đoạn tố tụng độc lập vì giai đoạn này có đầy đủ các dấu hiệu của một giai đoạn tố tụng với mục tiêu và nhiệm vụ riêng thể hiện trên các mặt như: Chủ thể tố tụng, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng. Mục đích chung của tố tụng hình sự là phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm không làm oan người vô tội, để thực hiện mục đích chung đó thì mục đích cụ thể của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là xác định tội phạm, phát hiện người phạm tội trên cơ sở xác định dấu hiệu của tội phạm bảo đảm pháp chế 11 của Nhà nước trước hành vi phạm tội nhằm ngăn ngừa và xử lý kịp thời tội phạm, người phạm tội. Như vậy giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có nhiệm vụ và ý nghĩa về mặt lý luận, ý nghĩa về mặt pháp lý và ý nghĩa về mặt chính trị - xã hội rất rõ ràng: Nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là sự tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm; kiểm tra, xác minh nguồn thông tin đó để xác định có hay không có tội phạm xảy ra làm cơ sở cho việc ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Giai đoạn này có nhiệm vụ làm rõ các tình tiết loại trừ tố tụng của vụ việc, đồng thời với việc giữ gìn, bảo quản những cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật. Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự tạo ra những điều kiện cần thiết để xác định người phạm tội, tội phạm ở giai đoạn tiếp theo như: giai đoạn điều tra; truy tố; xét xử; Thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật. Về mặt pháp lý: Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu cho các giai đoạn tố tụng hình sự tiếp theo để giải quyết vụ án hình sự. Thực hiện việc khởi tố vụ án hình sự làm phát sinh quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Thi hành án hình sự khi thực hiện các hành vi tố tụng để phát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý nghiêm minh tội phạm. Thời điểm bắt đầu áp dụng các qui định của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự là khi các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền quyết định khởi tố vụ án hình sự, từ thời điểm này các quan hệ pháp luật hình sự được thực hiện. Về mặt chính trị - xã hội: Khởi tố vụ án hình sự là biện pháp quan trọng nhằm phòng ngừa, ngăn chặn hành vi phạm tội và là công cụ hữu hiệu để bảo vệ lợi ích của nhà nước, xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đồng thời cũng thể hiện sự phản ứng nhạy cảm và kịp thời của hệ thống đấu tranh phòng và chống tội phạm nhằm xác định sự thật của vụ án hình sự, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, bảo đảm thực 12 hiện nguyên tắc công bằng, nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm và Người phạm tội dù bất kể là ai nếu có lỗi thì phải bị trừng phạt của pháp luật. Việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án các vụ án hình sự sẽ tạo sự tin tưởng của nhân dân vào sự nghiêm minh của pháp luật. Tội phạm là mặt tiêu cực của đời sống xã hội, tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Hậu quả do tội phạm gây ra thường rất lâu dài, xâm phạm đến độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, do đó nó tác động xấu đến các hiện tượng xã hội khác, tác động tiêu cực đến tiến trình phát triển của xã hội. Vì vậy việc đấu tranh phòng và chống tội phạm luôn là đòi hỏi sự quan tâm lãnh đạo và thực hiện nghiêm túc của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngànhh các cấp, các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp và mọi công dân trong đó Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Thi hành án giữ vai trò nòng cốt. Trên tinh thần đó, khởi tố vụ án hình sự có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. khởi tố vụ án hình sự chính thức công nhận sự tồn tại của một vụ án, khẳng định trên thực tế sự kiện phạm tội đã xảy ra, từ đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong việc xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, góp phần đảm bảo pháp chế, giữ vững trật tự, an toàn xã hội. Trên mọi mặt của đời sống xã hội mặc dù đã có các quy phạm pháp luật để điều chỉnh hành vi của mọi chủ thể trong xã hội nhưng cũng không thể tránh khỏi sự xâm phạm các quan hệ pháp luật được pháp luật hình sự bảo vệ. 13 chính vì vậy việc nhiều cơ quan được giao nhiệm vụ có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện dấu hiệu của tội phạm trên lĩnh vực mình phụ trách phát huy được sự phản ứng nhanh chóng, chính xác, xử lý kịp thời đối với tội phạm và người phạm tội Việc khởi tố vụ án hình sự có căn cứ và kịp thời sẽ góp phần bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi công dân,bảo đảm thực hiện công bằng xã hội. Đồng thời, việc khởi tố vụ án hình sự nhanh chóng, kịp thời và chính xác có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giáo dục công dân ý thức nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, góp phần bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa làm cho nước mạnh dân cường, đem lại cuộc sống bình yên cho xã hội, làm cơ sở cho mọi công dân cống hiến để xây dựng đất nước ngày một giàu mạnh và phồn vinh. Tuy nhiên, bên cạnh việc khởi tố vụ án hình sự có căn cứ và kịp thời, pháp luật hình sự cũng dự liệu và điều chỉnh việc khởi tố thiếu căn cứ pháp luật. Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự. đây là một quy định mang tính nhân văn sâu sắc nhằm bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của của công dân. Việc không khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ mà pháp luật quy định là không khởi tố vụ án cũng tạo niềm tin cho nhân dân vào sự công bằng của pháp luật, đồng thời cũng giảm thiểu những chi phí xã hội không cần thiết cho công dân và cho nhà nước cũng như toàn xã hội. Việc khởi tố kịp thời các vụ án hình sự còn góp phần đấu tranh chống tội phạm "ẩn", tình trạng tội phạm ẩn vẫn là vấn đề ngày càng được xã hội và những nhà lập pháp quan tâm trong bối cảnh tình hình đất nước đang trong tiến trình quá độ nên chủ nghĩa xã hội, chính vì vậy việc khởi tố kịp thời các vụ án hình sự sẽ góp phần làm giảm tội phạm ẩn đang diễn ra trên đất nước ta. 14 1.2. CƠ SỞ VÀ CĂN CỨ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.2.1. Cơ sở khởi tố vụ án hình sự a. Khái niệm cơ sở khởi tố vụ án hình sự "Cơ sở khởi tố vụ án hình sự là những nguồn tin mà dựa vào đó cơ. quan có thẩm quyền khởi tố xác định có dấu hiệu tội phạm". Để tránh những sai sót có thể xảy ra, luật quy định chỉ được quyết định khởi tố vụ án hình sự khi xác định có dấu hiệu tội phạm nhưng không phải trong mọi trường hợp khi có tội phạm xảy ra thì cơ quan có thẩm quyền cũng trực tiếp phát hiện được dấu hiệu tội phạm, rất nhiều trường hợp phải thông qua các nguồn tin mà dựa vào đó dấu hiệu tội phạm mới được xác định. Các nguồn tin này là cơ sở ban đầu để cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác minh nhằm xác định dấu hiệu của tội phạm. Dấu hiệu của tội phạm được xác định thông qua các nguồn tin do luật định có giá trị pháp lý để khởi tố vụ án hình sự, nếu không dựa vào những cơ sở do luật định thì cơ quan có thẩm quyền cũng không thể có được căn cứ để khởi tố vụ án hình sự. Mọi thông tin không được xác định từ các cơ sở do luật định thì không thể coi là căn cứ khởi tố vụ án hình sự. b. Những cơ sở khởi tố vụ án hình sự Thứ nhất, tin báo, tố giác về tội phạm của công dân Tố giác về tội phạm là việc công dân tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của một người nào đó mà họ cho rằng là tội phạm. Công dân có quyền và nghĩa vụ tố giác hành vi vi phạm pháp luật hình sự đối với cơ quan, tổ chức. Luật không giới hạn công dân chỉ được tố giác đến cơ quan điều tra, viện kiểm sát hay tòa án và do đó Công dân có thể tố giác tội phạm đến bất cứ cơ quan, tổ chức nào nếu thuận tiện cho họ. Tố giác của công dân có thể trực tiếp bằng miệng, bằng văn, qua điện thoại hoặc hòm thư điện tử... Người bị hại làm đơn trình báo về sự việc phạm tội gây thiệt hại cho họ cũng là một hình thức của tố giác tội phạm của công dân. 15 Khi công dân trực tiếp tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận tố giác đó có trách nhiệm giải thích cho người tố giác về trách nhiệm pháp lý của họ đối với nội dung tố giác và lập biên bản ghi rõ ngày, tháng, năm tiếp nhận, nội dung tố giác và yêu cầu người tố giác ký xác nhận Trong trường hợp công dân tố giác tội phạm qua điện thoại thì cơ quan tiếp nhận phải ghi lại họ, tên, địa chỉ và số điện thoại của người tố giác, nội dung tố giác để trên cơ sở đó liên hệ với người tố giác để kiểm tra xác minh nguồn tin tố giác. Thứ hai, tin báo về tội phạm của cơ quan, tổ chức Tin báo của cơ quan, tổ chức là những thông tin về tội phạm do cơ quan, tổ chức phát hiện hoặc do cơ quan, tổ chức nhận được tố giác của công dân và sau đó báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản. Việc khởi tố vụ án hình sự dựa trên cơ sở tin báo của cơ quan, tổ chức chỉ được thực hiện sau khi cơ quan điều tra, cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đã kiểm ra, xác minh và đã xác định có dấu hiệu tội phạm theo quy định của pháp luật Thứ ba, tin báo tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng Nhằm phát huy vai trò to lớn của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, Bộ luật tố tụng hình sự quy định tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng là cơ sở để để xác định dấu hiệu tội phạm vì vậy khi có tin báo về tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng các cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tiến hành xem xét, xác minh tin báo đó, nếu có dấu hiệu của tội phạm thì khởi tố vụ án hình sự để điều tra phát hiện người phạm tội. Trong một số trường hợp cơ quan thông tin đại chúng đề nghị cơ quan có thẩm quyền có ý kiến trả lời bạn đọc thì cơ quan có thẩm quyền được yêu cầu phải có văn bản trả lời cơ quan thông tin đại chúng đã đưa tin. 16 Thứ tư, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm Đây là những trường hợp các cơ quan nêu trên thông qua các hoạt động thuộc phạm vi trách nhiệm của mình đã phát hiện dấu hiệu của tội phạm và trên cơ sở đó để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Thứ năm, người phạm tội tự thú "Tự thú" là việc người đã thực hiện hành vi phạm tội tự nhận và khai rõ về hành vi phạm tội của mình trước cơ quan, tổ chức. Pháp luật quy định tự thú là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Quy định này thể hiện tính nhân văn và thực hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với những người đã lầm lỗi nhưng biết nhận ra, ăn năn hối cải và quyết tâm sửa chữa để trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Đồng thời với quy định này cũng mang ý nghĩa phòng ngừa tích cực, một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan điều tra nhanh chóng phát hiện tội phạm và ngăn chặn kịp thời những hành vi có thể sẽ tiếp tục thực hiện tội phạm, mặt khác nó còn tác động đến tư tưởng của những đối tượng khác đã hoặc đang có hành vi phạm tội cũng phải tự kiềm chế hành vi và ý đồ thực hiện tội phạm của mình. Người phạm tội có thể tự thú trước cơ quan công an, viện kiểm sát, tòa án hoặc cơ quan, tổ chức khác. Các cơ quan, tổ chức tiếp nhận tự thú phải lập biên bản ghi rõ họ, tên, tuổi nghề nghiệp, chỗ ở và những lời khai của người tự thú, trong đó ghi cụ thể về hành vi phạm tội,những người có thể biết được việc phạm tội, công cụ, phương tiện phạm tội (nếu có) và những tình tiết khác cho phép khẳng định lời khai của người tự thú là đúng. Cán bộ tiếp nhận cùng người tự thú ký tên vào biên bản. trong trường hợp cơ quan, tổ chức tiếp nhận người phạm tội tự thú không phải là cơ quan điều tra, viện kiểm sát thì cơ quan, tổ chức này có trách nhiệm báo ngay cho cơ quan điều tra, viện kiểm sát. 17 1.2.2. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự a. Khái niệm căn cứ khởi tố vụ án hình sự "Căn cứ khởi tố vụ án hình sự là dấu hiệu tội phạm đã được xác định trên những cơ sở khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật". Khi chưa xác định được dấu hiệu của tội phạm thì việc tiến hành các hoạt động điều tra, áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với người bị nghi thực hiện tội phạm có thể dẫn đến oan, sai, vi phạm quyền dân chủ của công dân. Để loại trừ những trường hợp oan, sai, vi phạm quyền tự do, dân chủ của nhân dân, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Như vậy dấu hiệu của tội phạm chính là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự. Việc xác định dấu hiệu của tội phạm dựa trên những cơ sở do luật định (như tố giác của công dân; tin báo của cơ quan, tổ chức; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; người phạm tội tự thú; cơ quan điều ta, viện kiểm sát, tòa án, bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan khác của công an nhân dân, quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm) mới là hợp pháp. Khi xác định dấu hiệu tội phạm thì chỉ cần xác định có sự việc phạm tội xảy ra mà chưa cần xác định ai là người thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi đã khởi tố vụ án hình sự, cơ quan điều tra sẽ tiến hành các hoạt động điều tra để xác định người thực hiện tội phạm. b. Những căn cứ khởi tố vụ án hình sự Để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền phải xác định cho được vấn đề sau đây: Có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra và hành vi đó có dấu hiệu của tội phạm. 18 Hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự,an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Như vậy nếu chỉ dựa vào những nguồn tin chưa có sự kiểm tra, xác minh có dấu hiệu tội phạm hay không mà đã quyết định khởi tố vụ án hình sự thì việc khởi tố vụ án hình sự như vậy không có căn cứ pháp luật. Việc kiểm tra, xác minh các tin báo về tội phạm được pháp luật quy định. Theo quy định của pháp luật khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố, cơ quan điều tra phải kiểm tra, xác minh nguồn tin để quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Thời hạn kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm là hai mươi ngày kể từ khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Đối với tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng thì ngày tính thời hạn kiểm tra, xác minh là ngày cơ quan, phương tiện thông tin đại chúng phát nguồn tin đó. Trong trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra xác minh nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác, tin báo có thể dài hơn nhưng không quá hai tháng. đây là những trường hợp mà nội dung kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo hoặc kiến nghị khởi tố đòi hỏi phải có kiến thức chuyên môn nhất định thì mới có thể đưa ra kết luận chính xác hoặc việc kiểm tra, xác minh nguồn tin liên quan đến nhiều cơ quan, ở nhiều địa điểm cách xa nhau. Luật quy định thời hạn kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm nhằm đề cao trách nhiệm của cơ quan điều tra mỗi khi nhận được nguồn tin về tội phạm phải chủ động và khẩn trương áp dụng các biện pháp hợp pháp do 19 luật định để làm rõ có hay không có dấu hiệu của tội phạm để khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, đối với bất cứ nguồn tin tội phạm nào, cơ quan điều tra phải tiến hành các biện pháp kiểm tra, xác minh nguồn tin bao gồm: - Tiến hành kiểm ra giấy tờ tùy thân, hộ khẩu, đăng ký tạm trú của của người bị tố cáo vi phạm pháp luật; yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân có liên quan đến sự việc cung cấp những thông tin tài liệu cần thiết. Những tài liệu có thể là những hiện vật có giá trị chứng minh sự việc phạm tội hoặc các văn bản, giấy tờ, tài liệu, các biên bản kiểm tra nội bộ cơ quan… trong trường hợp này các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân có liên quan phải chấp hành đầy đủ các yêu cầu của cơ quan khởi tố vụ án hình sự theo đúng quy định của pháp luật. - Yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân có liên quan giải thích rõ sự việc. Nội dung yêu cầu giải thích chủ yếu để làm rõ dấu hiệu tội phạm. khi yêu cầu giải thích, cơ quan khởi tố vụ án hình sự không được áp dụng các biện pháp hỏi cung hoặc cưỡng chế tố tụng đối với người được yêu cầu giải thích. - Khi cần thiết phải kiểm tra nội bộ cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội thì phải yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan tự kiểm tra hoặc yêu cầu cơ quan thanh tra cùng cấp tiến hành thanh tra để làm rõ sự việc. - Trong trường hợp cần thiết thì khám nghiệm hiện trường và tiến hành các biện pháp khác theo quy định của pháp luật để xác định dấu hiệu của tội phạm. Tất cả tố giác, tin báo về tội phạm đều phải được kiểm tra kỹ để xác định căn cứ khởi tố vụ án hình sự và tùy từng sự việc mà đề ra biện pháp kiểm tra cho thích hợp. Khi kiểm tra phải triệt để chấp hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi kiểm tra, xác minh, kết quả giải quyết tố giác, tin 20
- Xem thêm -