Tài liệu Nghiên cứu thành phần loài, sự phân bố và tái sinh của một số cây ngập mặn chính ở vùng ven biển

  • Số trang: 74 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 201 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 20010 tài liệu

Mô tả:

Nghiên cứu thành phần loài, sự phân bố và tái sinh của một số cây ngập mặn chính ở vùng ven biển
Khóa luận tốt nghiệp PHẦN I : MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài. Nằm giữa biển và đất liền, rừng ngập mặn (RNM) là một hệ sinh thái đặc trưng ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới nhưng rất nhạy cảm với tác động của con người. Hệ động thực vật ở đây có những đặc tính sinh học thích nghi đặc biệt với môi trường bùn lầy, ngập nước mặn thường xuyên. Sự tồn tại của RNM có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về môi trường và kinh tế xã hội, RNM không những cung cấp các lâm sản có giá trị như : gỗ, than, củi, tanin, thức ăn, thuốc uống...RNM còn là nguồn cung cấp mựn bó hữu cơ nuôi dưỡng các loài thủy sinh tại chỗ hay những loài sống ở vùng cửa sông, ven biển kế cận, là nơi trú đông của nhiều loài chim di cư, nơi làm tổ của nhiều loài chim nước (Phan Nguyên Hồng, 1991) [12]. RNM có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, điều hòa khí hậu, ngăn chặn gió bão, mở rộng diện tích lục địa, ngăn nước mặn lấn sâu vào đất liền. RNM còn cung cấp thức ăn để chăn nuôi gia súc và thả ong, nhờ RNM mà cuộc sống của người dân nghèo ven biển được cải thiện. RNM còn là địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn của nhiều khách du lịch trong và ngoài nước, là nơi nghiên cứu và học tập của học sinh và sinh viên, các nhà khoa học nghiên cứu về hệ sinh thái RNM. Tuy nhiên thảm thực vật RNM Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng do hậu quả của chiến tranh. Sau chiến tranh, do điều kiện kinh tế kém phát triển, sự bùng nổ dân số, do nhận thức của người dân còn thấp nên việc khai thác RNM bừa bãi làm nguyên liệu, phá RNM làm đầm tôm, lấy đất canh tác, lấy đất làm ruộng muối dẫn đến diện tích RNM ngày càng bị suy giảm, chất lượng RNM cũng suy giảm theo, đất bị thoái hóa nghiêm trọng, hàng vạn hecta đất rừng bị bỏ hoang chưa được khôi phục, tài nguyên đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy hải sản vùng ven biển bị suy giảm, môi trường bị ô nhiễm. Nhận rõ tầm quan trọng của RNM, đặc biệt thấy được hậu quả của thiên tai, trong những năm gần đây ở những vùng ven biển bị mất RNM, phong trào Phạm Bích Thảo 1 K55 – Sinh học Khóa luận tốt nghiệp trồng và khôi phục lại hệ sinh thái RNM đã và đang phát triển mạnh ở các vùng ven biển khắp cả nước như chương trình 327, chương trình trồng 5 triệu hecta rừng, cũng như các tổ chức quốc tế (PAM) và các tổ chức phi chính phủ (SCF UK, ACTMANG, Hội chữ thập đỏ Đan Mạch và Nhật Bản…) hợp tác với trung tâm nghiên cứu hệ sinh thái RNM. Hải Hà là một huyện miền núi biên giới và hải đảo, với chiều dài bờ biển là 35 km, tổng diện tích bãi triều là 8000 hecta, trong đó 1/3 diện tích là RNM, 1/3 diện tích nuôi trồng thủy sản và 1/3 diện tích còn lại là cửa sông bãi lầy chưa được sử dụng. RNM tự nhiên có vai trò rất lớn đối với sự phát triển kinh tế như bảo vệ đê điều, đầm tụm cỏ, cải tạo môi trường, là môi trường sống của các loài thủy hải sản có giá trị kinh tế cao như ngán (Lucina philippinarum), vạng (Geloina coason), sá sùng (Sipunculus nudus), bông thùa (Phascolosoma arcuatum), RNM còn là nơi nuôi dưỡng tôm và cua bố mẹ, nơi trú ngụ của tôm cá con. Tuy nhiên, tình trạng chặt phá RNM lấy nguyên liệu, đặc biệt phá RNM làm đầm nuôi tôm cua đang diễn ra hết sức nghiêm trọng, khiến diện tích RNM bị suy giảm đáng kể, chỉ tớnh riờng xó Quảng Phong cho đến nay đã chặt phá hơn 90/420,36 hecta (theo số liệu của phòng lâm nghiệp Hải Hà năm 2004) [6]. Bên cạnh đó, RNM tự nhiên sau khi chặt phỏ thỡ sự tái sinh lại của hệ thực vật nghèo nàn, chủ yếu là các loài thuộc chi mắm (Avicennia) mọc thuần hoặc mọc xen với sú (Aegiceras corniculatum L.Blanco) những loài này đều thuộc dạng thân bụi, phân cành sát đất, rừng đơn điệu và ít tầng, cây chậm lớn, chậm khộp tán. Để khắc phục hiện tượng này cần có những biện pháp thích hợp quy hoạch bãi nuôi tôm, trồng thờm cỏc loài cây ngập mặn có kích thước lớn như trang (Kandelia obovata, Sheue, Liu & Yong), đõng (Rhizophora stylosa Giff.)… Bên cạnh đó cần nghiên cứu đưa vào trồng thờm cỏc loài cõy khỏc phù hợp với điều kiện sống từng vùng làm tăng độ đa dạng sinh học và trả lại màu xanh cho RNM Hải Hà, song song với việc trồng rừng thì việc phát triển và bảo vệ RNM cũng cần được quan tâm hơn. Xuất phát từ lí do trên, để việc gây trồng chăm sóc, bảo Phạm Bích Thảo 2 K55 – Sinh học Khóa luận tốt nghiệp vệ và phát triển RNM có hiệu quả cần có những kiến thức cơ bản về phân loại, sinh học, công dụng cũng như biết được thành phần loài, phân bố và tái sinh của các loài cây ngập mặn của vùng. Mặc dự đó có nhiều tài liệu nghiờn cứu về RNM nhưng ở Hải Hà chưa có một công trình nào nghiên cứu về thành phần loài, sự phân bố và khả năng tái sinh của cây ngập mặn ở đây. Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiờn cứu thành phần loài, sự phân bố và tái sinh của một số cây ngập mặn chính ở vùng ven biển huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh”. II. Mục đích nghiên cứu Đề tài xác định thành phần loài, nhận biết các loài cây ngập mặn chính để so sánh khi đi thực địa nhằm mục đích: Phục vụ cho nghiên cứu RNM của huyện Hải Hà nhằm hiểu biết sâu sắc mối quan hệ giữa các nhân tố sinh thái môi trường với cây ngập mặn, thấy được sự sinh trưởng của chúng phụ thuộc vào những yếu tố nào, từ đó có thể đưa ra các loài cây ngập mặn nào phù hợp vào trồng rừng. Đề tài nghiên cứu khả năng tái sinh của một số cây ngập mặn , từ đó đưa ra các biện pháp nhằm thúc đẩy khả năng tái sinh, với những cây có khả năng tái sinh thấp do điều kiện môi trường nhưng vẫn sinh trưởng và phát triển tốt thỡ cú biện pháp trồng rừng hợp lí. Thấy được hiện trạng của RNM hiện nay và những biến đổi của RNM ven biển dưới tác động của con người, từ đó đề xuất các biện pháp bảo vệ và phát triển RNM góp phần làm tăng độ đa dạng sinh học của cỏc cõy ngập mặn ở RNM Hải Hà. III. Nội dung nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề sau: 1. Điều tra thành phần loài cây ngập mặn khu vực ven biển cỏc xó ven biển của huyện Hải Hà (thấy được độ đa dạng sinh học của các loài cây ở đõy) Phạm Bích Thảo 3 K55 – Sinh học Khóa luận tốt nghiệp 2. Nghiên cứu đặc điểm, sự phân bố của rừng và khả năng tái sinh của một số cây ngập mặn của RNM Hải Hà. 3. Đề xuất một số phương hướng sử dụng hợp lí, bảo vệ và phát triển RNM Hải Hà. 4. Xây dựng bộ tiêu bản mẫu khô và tiêu bản giải phẫu một số loài cây ngập mặn nhằm: - Phục vụ cho việc nghiên cứu và học tập của sinh viên và học sinh khi học cỏc mụn phân loại thực vật, giải phẫu thực vật, giúp học sinh, sinh viên so sánh được sự khác biệt về hình thái, cấu tạo của cỏc cõy ngập mặn với những cây sinh trưởng và phát triển trong đất liền. - Góp phần tham gia xây dựng bảo tàng thực vật. Phạm Bích Thảo 4 K55 – Sinh học Khóa luận tốt nghiệp Phần II. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU I.Thành phần loài và sự phân bố cây ngập mặn ở Việt Nam và trên thế giới. 1. Trên thế giới Từ lâu các nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu RNM vỡ nó không chỉ có ý nghĩa lớn về kinh tế, khoa học mà nó cũn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường. Người đầu tiên đề cập đến cây ngập mặn là Nearchus, một đô đốc của Alexander Đại đế cách đây hơn 2300 năm, khi ông đi tuần tra 5 tháng trên sông Indus và Euphrates (Java và Tan, 1986) (Theo Phan Nguyên Hồng, 1991) [12]. Kể từ đó cho đến nay đã có rất nhiều nhà khoa học cựng cỏc công trình nghiên cứu về RNM xuất hiện. RNM chỉ có thể mọc tốt ở những vựng cú khí hậu ấm và ẩm, không sống được ở những vùng lạnh. Trên thế giới có khoảng 16.670.000 hecta RNM với hơn 100 loài cây, trong đó châu Á chiếm 41 % diện tích (khoảng 7 triệu hecta), châu Mỹ có 5.781.000 hecta và châu Phi có 3.402.000 hecta. Hai nước có diện tích RNM lớn nhất là Inđụnờxia và Braxin (mỗi nước có RNM rộng hơn 3 triệu hecta) (P.N.Hồng và cộng sự, 1997) [13] Tomlinson (1986) phân chia các quần xã RNM làm 2 nhúm cú thành phần loài cây khác nhau. Nhúm phía Đông tương ứng với vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương với số loài cây đa dạng và phong phú. Nhúm phớa Tõy gồm bờ biển nhiệt đới châu Phi, châu Mĩ ở cả Đại Tây Duơng và Thái Bình Dương, số loài cây ở đõy ít chỉ bằng 1/5 ở phía đông (Spaluding và cộng sự, 1997). Các loài chủ yếu là đước đỏ (Rhizophora mangle), mắm (Avicennia germinans), Laguncularia racemosa. Tuy nhiên kích thước của một số loài cây lại lớn hơn nhóm phía Đông, ví dụ như ở Braxin đước đỏ cao trên 50 m và ở Ecuado loài này cao 63 m.(Theo Phan Nguyên Hồng, 1999) [15]. Còn rất nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu về RNM nữa như Chapman (1975), Rao (1986), Blasco (1984)… Phạm Bích Thảo 5 K55 – Sinh học Khóa luận tốt nghiệp 2. Ở Việt Nam Việt Nam có bờ biển dài khoảng 3260 km và hệ thông sông ngòi dày đặc chở phù sa đổ ra cửa sông, ven biển tạo ra những bãi lầy tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành RNM. Nơi có RNM phát triển tốt nhất là bán đảo Cà Mau. Trước chiến tranh, diện tích RNM Việt Nam là 4 triệu hecta phân bố chủ yếu là ở miền Nam Việt Nam. Đến năm 1999, diện tích rừng còn lại 156.608 hecta trong đó rừng tự nhiên chiếm 38,1% và rừng trồng chiếm 61,95% (Phan Nguyên Hồng và cs, 2007) [16]. Công trình nghiên cứu có hệ thống về RNM ở Việt Nam đầu tiên là luận án tiến sỹ quốc gia của Humbert Vũ Văn Cương (1964): “Flore ve’ge’tation de la mangrove de la re’gion de Saigon, cap saint Jacques”, tác giả mô tả tỉ mỉ các quần xã nước mặn, nước lợ ở vùng Sài Gòn - Vũng Tàu và các yếu tố đất. Tác phẩm thứ hai là cuốn “Rừng ngập mặn Việt Nam” của Nguyễn Văn Thôn và Lâm Bỉnh Lợi (1972), chủ yếu là phân loại và lâm học (Theo P.N.Hồng, 1991) [12]. Từ năm 1972 tới nay, trong nhiều hội thảo khu vực và quốc tế đã có rất nhiều báo cáo của các nhà nghiờn cứu về RNM và luận án phó tiến sỹ, tiến sỹ sinh học về RNM đặc biệt là những nghiên cứu của Phan Nguyên Hồng và ụng đã trở thành giáo sư đầu ngành về nghiên cứu RNM ở Việt Nam. Số loài cây ngập mặn hiện biết ở ven biển Nam bộ (100 loài), phong phú hơn ven biển Trung bộ (69 loài) và ven biển Bắc bộ (52 loài). Có sự khác nhau đó là do sự khác nhau về các đặc điểm khí hậu, địa lí, thuỷ văn (P.N.Hồng, 1999) [14]. Dựa vào các yếu tố địa lí, khảo sát thực địa và một phần kết quả ảnh viễn thám, P.N.Hồng (1991, 1993) đã chia RNM Việt Nam thành 4 khu vực và 12 tiểu khu: Khu vực I: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn. Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ, từ mũi Đồ Sơn đến mũi Lạch Trường. Phạm Bích Thảo 6 K55 – Sinh học Khóa luận tốt nghiệp Khu vực III: Ven biển Trung Bộ, từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng Tàu. Khu vực IV: Ven biển Nam bộ, từ mũi Vũng Tàu đến mũi Nải - Hà Tiên.  Khu vực I: RNM phát triển rộng nhờ cỏc dãy đảo che chắn phía ngoài, các loài cây chủ yếu là đõng (Rhizophora stylosa), trang (Kandelia obovata), vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza (L)), sú ( Aegiceras corniculatum (L) Blanco), mắm biển (Avicennia marina). Do nhiệt độ không khí vào mùa đông lạnh nờn cõy cú kích thước nhỏ, chỉ cao khoảng 1,5 – 7 m.  Khu vực II: Tuy có các bãi bồi rộng, giàu phù sa, nhưng ở đây bãi biển trống trải, không có các đảo che chắn gió bão nên chỉ có một ít RNM ở trong các cửa sông với các loài cây chủ yếu như bần chua (Sonneratia caseolaris L.), trang (Kandelia obovata), sú (Aegiceras corniculatum (L) Blanco), cây thuộc họ Ôrô (Acanthaceae). Bần có kích thước khá lớn, cao 8-12 m , đường kính 15-20 cm.  Khu vực III: Bãi bồi hẹp, ít phù sa do bờ biển dốc, nhiều gió bão nên rừng chỉ là các dải hẹp bên trong các cửa sông. Các loài cây chủ yếu là các loài cây thuộc họ Đước (Rhizophoracaea), vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza (L.) ), sú (Aegiceras corniculatum (L.) Blanco), mắm biển (Avicennia marina), cây thường nhỏ, phân cành nhiều.  Khu vực IV: Ở đây có nhiều bãi bồi rộng, nhiều phù sa do hệ thống sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long cung cấp, ít gió bão nên RNM phát triển rất tốt, đặc biệt là bán đảo Cà Mau. Rừng có nhiều loài cây như đước, đưng, dà vôi, dà quánh, vẹt khang, vẹt tách, vẹt trụ, mắm trắng, mắm đen, mắm biển, mắm quăn, trang, dừa nước, cóc đỏ, cỏc cõy cú kích thước lớn. Theo cách phân chia này thì Hải Hà thuộc khu vực I và mang nhiều nét chung của khu vực này tuy nhiên cũng có những nét riêng biệt về địa hình dẫn tới hệ thực vật ngập mặn có nhiều đặc điểm khác biệt sẽ được nêu ở phần sau Phạm Bích Thảo 7 K55 – Sinh học Khóa luận tốt nghiệp II. Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái tới sự phân bố và khả năng tái sinh của cây ngập mặn. Sống ở môi trường sinh thái nào thỡ cỏc sinh vật sẽ chịu sự tác động đặc trưng của môi trường đú, cõy ngập mặn sống ở vùng chuyển tiếp giữa môi trường biển và đất liền là loại môi trường đặc biệt, các nhân tố sinh thái có ảnh hưởng lớn đến sự phân bố và sinh trưởng của các loài cây ngập mặn. Hầu hết các tác giả khi nghiên cứu cây ngập mặn thường đề cập đến các nhân tố sinh thái chủ yếu như: khí hậu, thuỷ triều, độ mặn, địa hình... Ngoài ra, yếu tố sinh học và con người cũng đóng vai trũ khụng nhỏ trong sự phân bố và khả năng tái sinh của cỏc cõy ngập mặn. Một khó khăn lớn là nhiều loài cây ngập mặn có biên độ thích nghi rộng về khí hậu, đất, nước, độ mặn. Do đó khi dựa vào một khu phân bố cụ thể nào để nhận định tính chất của cây ngập mặn, có thể không áp dụng được ở vựng khỏc hoặc không thể suy ra tính chất chung cho loại thảm thực vật này (P.N.Hồng, 1991) [12]. 2.1. Ảnh hưởng của khí hậu Khí hậu gồm nhiều thành phần trong đó nhiệt độ, lượng mưa, gió có ảnh hưởng nhiều đến sự phân bố, số lượng và sự tái sinh của các loài cây ngập mặn. Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn cả hai quá trình quang hợp và hô hấp. Điều chỉnh phần lớn các quá trình trao đổi chất và năng lượng nội tại trong cơ thể thực vật ở những vựng cú nhiệt độ bình quân trong năm cao, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm, giữa cỏc mựa thấp (đồng thời độ ẩm cao) thì rừng ngập mặn phát triển về kích thước và số loài cây ngập mặn cao, số loài cây ngập mặn giảm hẳn khi nhiệt độ xuống quá thấp. Ngược lại khi nhiệt độ lên quá cao (trên 35 0 C) cũng ảnh hưởng đến hoạt động sinh lí của cây về đốt nóng lá, khiến cho cõy thoỏt hơi nước nhanh và nhiều, hô hấp tăng, quang hợp giảm, năng suất sơ cấp giảm (P.N. Hồng, 1991) [12]. Lượng mưa có ảnh hưởng rất rõ rệt đến sự sinh trưởng và phân bố, tái sinh của cây ngập mặn. Theo Blasco, 1984 [36] cho rằng rừng cây ngập mặn Phạm Bích Thảo 8 K55 – Sinh học Khóa luận tốt nghiệp phát triển mạnh mẽ về kích thước và thành phần ở những nơi có lượng mưa hàng năm cao và không có mùa khô. Phan Nguyên Hồng (1991) [12] phân tích: Ở vùng nhiệt đới lượng mưa phân bố không đồng đều trong năm ví dụ như khu vực Đông Nam Á có một mùa mưa và một mùa khô. Ở Bắc bán cầu mùa khô kéo dài 6 tháng hoặc 4 tháng còn lại là mùa mưa. Nơi nào có mùa mưa trùng với mùa sinh sản của cây ngập mặn thì nơi đó có rừng phát triển, còn nơi nào tuy có lượng mưa lớn nhưng không trùng với mùa sinh sản thì không có rừng vì thiếu nước ngọt, cây con không tái sinh được. Còn ở những vùng mưa ít, hạn nhiều thì hệ thực vật nghốo nàn, thưa thớt, cây thấp bé và rừng không liên tục. Trần Thị Bình (2002) [2] nhận xét: Lượng mưa trong năm ở tất cả các huyện thị Quảng Ninh vào loại cao so với cả nước (>2000mm) thuận lợi cho RNM phát triển và có ảnh hưởng mạnh tới sự phân bố, kích thước cây mắm giữa các huyện thị. Gió có tác dụng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự hình thành của rừng ngập mặn theo nhiều cách. P.N.Hồng (1991) [12] đã nghiên cứu một số tác dụng của gió đến sự hình thành và phát triển của rừng ngập mặn như: Làm tăng lượng mưa ở vùng rừng ngập mặn (gió mùa), đưa nước triều vào sâu trong đất liền do đó mà các cây nước lợ có thể phát triển dọc bờ sông vào sâu trong đất liền trên dưới 100 km, gió mạnh còn làm thay đổi khí hậu địa phương như giú mựa đông bắc (tháng 10 đến tháng 2) đem theo không khí lạnh và hanh khụ đó làm hạn chế sự sinh trưởng của rừng ngập mặn. 2.2. Thủy văn. Thủy triều không những có tác động trực tiếp lờn cõy ngập mặn bởi mức độ và thời gian ngập nước mà còn ảnh hưởng đến nhiều yếu tố khác như kết cấu độ mặn của đất, sự bốc hơi nước, các sinh vật khác trong rừng, các yếu tố này tác động đến đời sống của cây ngập mặn... Mặt khác thủy triều chịu tác động của gió, lượng mưa và dòng chảy trong sông. Phạm Bích Thảo 9 K55 – Sinh học Khóa luận tốt nghiệp Tìm hiểu đặc điểm của thủy triều liên quan đến sự phân bố và phát triển của rừng ngập mặn Việt Nam và các nước Đông Nam Á, P.N.Hồng (1991) [12] có nhận xét: Trong điều kiện khí hậu và đất không có sự khác biệt nhau lớn thì ở vựng cú chế độ bán nhật triều cây ngập mặn phát triển tốt hơn vựng cú chế độ nhật triều vì thời gian cây bị ngập lâu hơn cây ở chế độ bán nhật triều nờn cõy thu được không khí trên mặt đất ít hơn, thời gian đất bị phơi trống ngắn hơn, hạn chế bớt sự thoát hơi nước trong đất và trong cây, nhất là thời kỡ núng nắng do vậy cây sinh trưởng chậm, ví dụ: Rừng ngập mặn ở Nam Bộ Việt Nam phát triển hơn vùng ven biển Quảng Ninh vì vùng biển Nam Bộ có chế độ bán nhật triều còn ở Quảng Ninh có chế độ nhật triều. Ngoài ra biên độ triều cũng ảnh hưởng rõ rệt đến sự phõn bố của cây ngập mặn, chỉ ở những nơi có biên độ triều cao trung bình (2-3m), địa hình bằng phẳng thì cây ngập mặn phân bố rộng và sâu vào trong đất liền, ví dụ ở lưu vực sông Cửu Long và phía đông Cà Mau, cỏc dũng triều chịu tác động của gió, nhất là gió mùa và lưu lượng sông vào mùa mưa, cỏc dũng triều không những tác động đến các yếu tố nhiệt độ, độ mặn, sự vận chuyển trầm tích và dinh dưỡng ở trong và ngoài vựng rựng ngập mặn mà còn là nhân tố quan trọng trong việc phân tán hạt và cây con. Theo Mai Sỹ Tuấn (1980) [32] thì ở những vựng cú cùng mức độ thủy triều thì thời gian và mức độ ngập quyết định lớn đến sự sinh trưởng và phân bố của cây ngập mặn nói chung và các cây thuộc chi mắm (Avicennia) nói riêng. Hệ thống sông cung cấp nước ngọt và phù sa: Dòng nước ngọt do cỏc sụng, rạch đem ra rừng ngập mặn ảnh hưởng đến sự phân bố và phát triển của cây ngập mặn vì nước sông mang theo chất phù sa cần thiết cho ngập mặn. Mặt khác nước ngọt làm pha loãng độ mặn nước biển, phù hợp với một số loài cây và các giai đoạn khác nhau của rừng ngập mặn. Khi dòng chảy từ sông vào vùng ngập mặn bị giảm hoặc mất di thì một số loài cây ngập mặn sẽ bị còi cọc hoặc chết dần (Phan Nguyờn Hồng và cs, 1999) [14]. Phạm Bích Thảo 10 K55 – Sinh học Khóa luận tốt nghiệp Nước ngọt rất cần thiết cho sự nẩy mầm, tái sinh sinh trưởng của cây con. cho các quá trình sinh lý của cây trưởng thành. 2.3. Độ mặn. Một đặc điểm khá thú vị của cây ngập mặn là có khả năng sinh trưởng và phát triển trên mọi môi trường nước mặn, ngập nước thường xuyên, cây ngập mặn có khả năng giữ cân bằng muối bằng cách thải lượng muối thừa hoặc tích muối trong lá già sau đó lá già rụng đi. Nước mặn là một trong các nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới sự phân bố, sinh trưởng, tỉ lệ sống của các loài cây ngập mặn. Loại rừng này phát triển tốt nhất ở nơi có nồng độ muối trong nước 10 - 25‰ kích thước cây và số loài cũng giảm đi khi độ mặn cao (40 - 80‰) (Blasco, 1984) [36], ở độ măn 90‰ chỉ có vài loại mắm sống được nhưng sinh trưởng chậm (Rao, 1986) [39]. Những nơi có độ mặn quá thấp (<4‰) thì cũng không cú cõy ngập mặn mọc tự nhiên. Phần lớn cây ngập mặn sinh trưởng và phát triển bình thường ở môi trường nước có nồng độ muối từ 15 - 35‰. Các loài còn lại thích sống ở những nơi có độ mặn vừa phải 7 - 25‰. Các loài cây nước lợ không chịu được nồng độ muối cao trên 30‰ (P.N Hồng và cs, 1997) [13]. Mai Sỹ Tuấn (1995) [33] đã nghiên cứu tác động của bẩy độ mặn khác nhau: (0,25;50;75;100;125;150‰) lên quá trình nảy mầm tăng trưởng và quang hợp của cây mắm con. Kết quả cho thấy độ mặn thấp tỉ lệ nẩy mầm cao, tốc độ nảy mầm nhanh hơn so với độ mặn cao. Khả năng hạt nẩy mầm và sinh trưởng tốt nhất ở 25‰. P.N.Hồng (1991) [12] đã chia cỏc cõy ngập mặn thành hai nhóm: Nhúm có biên độ muối rộng và nhúm cú biên độ muối hẹp. Vậy độ mặn đóng vai trò lớn tới sự phân bố, sinh trưởng và khả năng tái sinh của cây ngập mặn. Phạm Bích Thảo 11 K55 – Sinh học Khóa luận tốt nghiệp 2.4. Thể nền Đất RNM do phù sa cỏc sụng mang từ nội địa ra cùng với trầm tích biển do thủy triều đem vào. Do đó, tính chất của loại đất này phụ thuộc vào nguồn gốc phù sa và trầm tích, nó rất dễ bị biến đổi dưới tác động của khí hậu, thủy văn, hệ động thực vật đất. Cây ngập mặn có thể sống trờn cỏc thể nền ngập nước định kì khác nhau như bùn sét, bựn cỏt, cỏt thụ lẫn sỏi, than bùn... Tuy nhiên từng loại thể nền khác nhau thì sự thích ứng và phân bố của cây ngập mặn là khác nhau và cây ngập mặn phát triển tốt nhất trên nền bựn sét cú mựn bó hữu cơ. Năm 1980, Mai Sỹ Tuấn [33] trình bày kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của đất tới sự sinh trưởng của các loài thuộc chi mắm (Avicennia) trờn các nền đất khác nhau đã thấy rằng : Đất ven biển Tuần Châu (Quảng Ninh) nhiều cỏt thụ và sỏi đỏ, nghốo dinh dưỡng nên sinh trưởng chậm, còi cọc, kích thước bộ, phõn cành sát gốc. Đất Nam bộ giàu phù sa, giàu mựn bó hữu cơ nờn cõy sinh trưởng tốt. Các RNM vựng Yờn Hưng (Quảng Ninh) nhận phù sa từ đất lateritic ở vùng đồi do cỏc sụng Chanh, Bạch Đằng... chuyển ra (cùng với điều kiện khí hậu không thuận lợi) nên các loài cây ở đây thường thấp bé. RNM ở miền Tây nam bộ nhận phù sa giàu chất dinh dưỡng của sông Cửu Long và trầm tích của vùng biển nông nờn cõy sinh trưởng tốt (P.N.Hồng và cs, 1991) [12]. Nguyễn Đức Tuấn,1995 [32] đã nghiên cứu sinh trưởng của cõy đõng (Rhizophora stylosa) ở Thạch Hà, Hà Tĩnh trên 2 khu vực có tính chất thể nền khác nhau. Kết quả cho thấy trên nền bựn sét mềm ớt cỏt thụ, cõy đõng sinh trưởng tốt hơn trên thể nền nhiều cỏt thụ, đất cao và cứng. Nói chung, thể nền và tính chất của thể nền là một trong những yếu tố thiết yếu cho sự sinh trưởng , phân bố và tái sinh của cây ngập mặn. 2.5. Địa hình Vùng bờ biển ở miền Nam Việt Nam mặc dù không có các đảo nổi nhưng nhờ có các vỉa san hô ngầm nằm dọc theo các thềm lục địa, làm yếu lực của Phạm Bích Thảo 12 K55 – Sinh học Khóa luận tốt nghiệp sóng, ít chịu ảnh hưởng của bão (trừ trường hợp khí hậu biến đổi bất thường như năm 1997) nên RNM cũng phát triển. Ở vùng ven biển đồng bằng Bác bộ Việt Nam, mặc dù cú cỏc bãi bồi phát triển mạnh giàu phù sa nhưng RNM không phân bố rộng là do địa hình trống trải, chịu tác động trực tiếp của bão từ Thái Bình Dương. Dọc ven biển miền Trung cũng có rất ít RNM vì địa hình dốc, không giữ được phù sa, lại chịu tác động mạnh của bão và gió mùa đông bắc (P.N.Hồng, 1991) [12 ]. Địa hình cũng đóng vai trò quan trọng tới sự phân bố, sinh trưởng và tái sinh của cây ngập mặn. RNM phát triển mạnh ở vùng bờ biển nụng, ớt sóng gió như trong các vịnh cửa sông hình phễu (estuary), sau các mũi đất , eo biển hẹp hoặc dọc bờ biển cú cỏc dãy đảo che chắn ở ngoài như bờ biển Quảng Ninh (P.N. Hồng, 1991) [12 ]. 2.6. Các nhân tố sinh học và tác động của con người. Cùng với các yếu tố vô sinh, thành phần sinh vật trong môi trường bãi lầy, cửa sông ven biển cũng đóng góp đáng kể vào sự hình thành và phân bố RNM. Nhờ những đặc điểm thích nghi với độ ngập triều sâu, nồng độ muối cao, chống chịu tốt với các tác động của sóng gió thủy triều nờn cỏc thực vật tiên phong như các loài cỏ biển và loài thuộc chi mắm (Avicennia), đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho đất ổn định, cho các quần xó cõy ngập mặn đến sau phát triển. Vi sinh vật như nấm, vi khuẩn có ý nghĩa to lớn trong việc phân hủy các chất hữu cơ trong phù sa trầm tích thành các hợp chất khoáng cho cây. Mặt khác chúng phân hủy các chất rơi rụng của cây ngập mặn tạo thức ăn dinh dưỡng cho động vật và thực vật trong RNM. Con người là nhân tố sinh học quan trọng đối với sự phát triển cũng như suy thoái RNM. Chiến tranh, sự tăng dân số cùng với các hoạt động kinh tế của mỡnh đó làm diện tich RNM bị suy giảm, làm cho biến đổi tiêu cực tính chất lí hóa học của đất và lượng sinh vật, gây ra sự biến đổi các quẫn xã thực vật RNM. Phạm Bích Thảo 13 K55 – Sinh học Khóa luận tốt nghiệp Ví dụ : Con người đã thải chất công nghiệp ra vùng ven biển nơi có RNM dẫn tới cỏc cõy RNM bị chết, không tái sinh được. Hải Hà cũng không phải là trường hợp ngoại lệ, người dân ở đây chưa thấy được tầm quan trọng của RNM nên đã chặt phá RNM phục vụ lợi ích kinh tế trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài. Nơi RNM đã bị chặt phá, hệ thực vật mất đi dẫn tới mất đi lượng chất rơi rụng của cây ngập mặn và khả năng cố định chất hữu cơ, dẫn tới đất thoái hóa chặt cứng, hệ thực vật chậm tái sinh, chậm phát triển nên chỉ có một số ít loài cây có khả năng sinh trưởng được như sú hoặc mắm nhưng chúng sinh trưởng chậm, còi cọc, rừng chậm khộp tán. Phạm Bích Thảo 14 K55 – Sinh học Khóa luận tốt nghiệp PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, VỊ TRÍ, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU I. Đối tượng nghiên cứu. Đối tượng chúng tôi tiến hành nghiên cứu là các loài cây ngập mặn ở huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. II. Thời gian nghiên cứu Chúng tôi tiến hành nghiên cứu khảo sát từ tháng 4/2008 đến tháng 2/2009, chia làm một số đợt khảo sát nhỏ ngoài thực địa, các đợt này khoảng cách đều nhau rơi vào các mùa xuân, hố, đụng tiện cho việc theo dõi khả năng tái sinh của cây ngập mặn. Đợt I: 30/4/2008, kéo dài 1 tuần + Thời gian này trùng với mùa ra hoa của sú, xuất hiện 1 số trụ mầm của trang trong rừng trồng rơi xuống bùn.Lần đi thực địa này chúng tôi khảo sát số lượng trụ mầm trang (Kandelia obovatal) rơi xuống, tái sinh tự nhiên trong rừng của cỏc xó Quảng Minh và Quảng Phong. Đợt II: Từ 01/07 đến 01/08/2008 + Mưa nhiều, nhiệt độ và độ ẩm cao + Thời gian này, hoa trang, vẹt, mắm đang nở rộ, trụ mầm sú, đõng đang trưởng thành. Chúng tôi khảo sát số cây trang con tái sinh sau 3 tháng rời khỏi cây mẹ. Đợt III: Từ 15/01 đến 25/01/2009 + Nhiệt độ thấp, lượng mưa thấp. + Trụ mầm trang đang trưởng thành và bắt đầu chín. Các đợt khảo sát này tiến hành ở các thời gian khác nhau với điều kiện khí hậu khác nhau nhằm tìm hiểu khả năng tái sinh, sống sót của cây con . Phạm Bích Thảo 15 K55 – Sinh học Khóa luận tốt nghiệp III. Đặc điểm địa điểm nghiên cứu. 3.1. Vị trí địa lí, địa hình Hình 1. Bản đồ khu vực cỏc xó ven biển huyện Hải Hà Hải Hà là huyện miền núi, biên giới và hải đảo cách thành phố Hạ Long 150 km về phía bắc, cách cửa khẩu quốc tế Múng Cỏi 40 km. Phía bắc giáp với Trung Quốc, đường biên giới dài 22,8 km, phía nam giáp với biển Đông, chiều dài bờ biển 35 km, phía tây giáp với các huyện Bình Liêu và Đầm Hà, phía đông giáp với thị xã Múng Cái. Tọa độ địa lí: 210 12’ 46’’ - 1070 38’ 27’’ vĩ độ bắc. 1070 30’ 54’’ - 107 051’ 49’’ kinh độ đông. Phạm Bích Thảo 16 K55 – Sinh học Khóa luận tốt nghiệp Địa hình của huyện nói chung là dốc và phân cắt mạnh mẽ với nhiều sông suối và cửa sông như Mã Ham, Hà Cối, Pồ Lồ, Đường Hoa và sông Cái Đá Bàn. Phía ngoài biển được bao bởi 2 dãy đảo là Cỏi Chiờn và Vĩnh Thực tạo vùng vịnh kín gió, có hệ thống bãi triều thấp và phát triển rộng rãi. 3.2. Khí hậu. Cũng như các huyện khác của tỉnh Quảng Ninh, huyện Hải Hà có chế độ khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa. Hải Hà là huyện miền núi ven biển nên khí hậu vừa mang tính chất miền núi vừa mang tính chất miền biển, có mùa đông lạnh nhiệt độ thấp xuống tới 5 - 6 0C, thường có sương muối. Chế độ nhiệt phụ thuộc vào chế độ bức xạ nhiệt đới nội chí tuyến và thay đổi theo gió mùa. Nhiệt độ trung bình hằng năm khoảng 22,7 0C, biên độ dao động trung bình cỏc thỏng trong năm từ 15 - 30 0C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 là 31,2 0C. Do biên độ nhiệt lớn đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây, một số loài cây ngập mặn ở miền Nam không có mặt ở đây, cõy cú kích thước nhỏ so với miền Nam. Bức xạ tổng số là yếu tố quan trọng trong sự hình thành khí hậu, quyết định sự sống và phát triển của thực vật và sinh vật phù du. Tổng bức xạ trung bình là 200 kcal/cm2/năm, cao nhất vào tháng 7 là 286 kcal/cm2. (Theo số liệu 2007, Hồ Thị Phương, trạm khí tượng thủy văn huyện Hải Hà). Như vậy so với tỉnh Nam Định có nhiệt độ trung bình hàng năm là 24,30C (Trung tâm khí tượng thủy văn quốc gia năm 2006 - 2007) thì Hải Hà có nhiệt độ trung bình hàng năm thấp hơn 1,60C. Chế độ gió: Trong năm hình thành 2 chế độ gió mùa là gió mùa đông bắc (tháng 10 - 3) và gió mùa tây nam (tháng 4 - 8). Tốc độ gió trung bình đạt 2,5 m/s và đạt cực đại 4,5 m/s trong mưa bão. Mỗi năm trung bình có 3 – 4 cơn bão lớn nhỏ đổ bộ vào bờ biển. Chế độ mưa, độ ẩm: Phân thành mùa khô và mùa mưa rõ rệt. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, chiếm 15 - 20% lượng mưa cả năm, Phạm Bích Thảo 17 K55 – Sinh học Khóa luận tốt nghiệp thấp nhất là vào tháng 1 (9,3 mm) và tháng 11 (11,1 mm). Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 -10, chiếm 80 – 85 % lượng mưa cả năm. Thỏng có lượng mưa cao nhất là tháng 6 (630,7 mm). Lượng mưa trung bình năm là 2630,4 mm. Tổng lượng mưa 6 tháng đầu năm 2008 là 1267,5 mm và tháng 6 là 799,8 mm. Độ ẩm trung bình đạt 85 – 90 %, tốc độ gió trung bình là 3m/s. Do lượng mưa lớn như vậy đã tạo dòng nước ngọt tương đối phong phú thuận lợi cho sự phát triển của RNM. Tuy nhiên, mùa mưa ở Quảng Ninh nói chung và ở Hải Hà nói riêng không thật trùng với mùa quả hoặc trụ mầm chín rụng và nảy mầm. Theo P.N.Hồng và cộng sự (1999) thời gian trụ mầm hoặc quả chín của đõng vào tháng 8, trang vào tháng 3 - 4, vẹt dù có hai đợt 12 - 1 và tháng 6 - 7... Điều này có ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển trực tiếp RNM ở đây. 3.3. Thủy văn. Hệ thống sông suối khá dày đặc với mật độ 2 km/km2, với hệ thống sụng chớnh là sông Hà Cối và một số sông nhỏ có hướng dòng chảy tây bắc - đông nam. Nét đặc trưng của cỏc sụng ở đây là nhỏ, ngắn và dốc, trên sông có nhiều thác ghềnh, thượng lưu rộng còn hạ lưu hẹp. Cửa sông chịu ảnh hưởng lớn của thủy triều. Cỏc sụng trong huyện đều có lưu lượng nước nhỏ tập trung vào mùa mưa lũ. Tổng lượng bùn cát và hàm lượng chất lơ lửng thấp. Vùng ven biển huyện Hải Hà có 5 cửa sông, thứ tự các cửa sông từ bắc xuống nam là Mã Ham, Hà Cối, Pồ Lồ, Đường Hoa và sông Cái Đá Bàn. Các cửa sông có dạng hình phễu. Thủy triều: Chế độ nhật triều điển hình với hầu hết số ngày trong tháng là nhật triều. Trong một thỏng có kỡ nước cường, biên độ dao động sóng 0,5 1m. Đây cũng là khu vực có độ cao của triều lớn nhất dải ven biển Việt Nam, có thể đạt tới 4 - 5m. Chế độ sóng phụ thuộc vào chế độ gió theo mùa và hình dạng địa hình khu vực. Tuy nhiên, do địa hình vùng ven biển ven bờ huyện và cửa sông tương đối kớn nờn ớt chịu ảnh hưởng của sóng ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, Phạm Bích Thảo 18 K55 – Sinh học Khóa luận tốt nghiệp sóng nội tại hình thành tương đối yếu, không quá 1m trong gió bão. Điều này cũng tạo thuận lợi cho sự phân bố và sinh trưởng của cây ngập mặn. 3.4. Độ mặn. Độ mặn cao nhất vào mùa là 30 - 31‰ do thời kì này ít mưa. Độ mặn thấp nhất là và mùa mưa là 10 - 15‰. Trong vùng cửa sông đổ ra vịnh, độ mặn thấp nhất có thể xuống tới 2 - 4‰. Độ mặn ở Thái Bình thấp hơn, vào mùa lũ từ 9 17 ‰ và mùa khô từ 23 - 30 ‰. Độ mặn ở đây tương đối cao phù hợp với sự sinh trưởng phát triển của những loài chịu mặn cao như mắm, sú. 3.5. Thể nền. Các bãi triều ven biển chia ra làm hai khu vực theo thành phần trầm tích như sau : - Quảng Thành, Quảng Thắng, Quảng Minh, Quảng Điền, có thành phần trầm tích chủ yếu là cát, cát lẫn sỏi thành phần hạt thô. - Quảng Phong, Tiến Tới, Đường Hoa, trầm tích cỏc bói triều có thành phần mịn hơn. Tại Đường Hoa, trầm tớch bãi triều chủ yếu là bột sét nờn hệ thực vật ở những xã này phát triển hơn và có thành phần loài phong phú hơn so với cỏc xó khỏc. Do đặc điểm thể nền khác nhau như vậy đã dẫn tới hệ thực vật ở hai khu vực này cũng khác nhau, hệ thực vật ở Quang Phong, Tiến Tới, Đường Hoa phong phú và phát triển hơn ở cỏc xã Quảng Thành, Quảng Thắng, Quảng Minh, Quảng Điền. (Số liệu theo “Dự thảo quy hoạch nuôi trồng thủy sản mặn lợ huyện Hải Hà giai đoạn 2006 - 2010’’, 2005)) [6]. Huyện Hải Hà có 7 xã ven biển theo mặt cắt từ phía bắ đến phía nam lần lượt là: Quảng Thành, Quảng Thắng, Quảng Minh, Quảng Điền, Quảng Phong, Đường Hoa, Tiến Tới. do điều kiện thời gian nghiên cứu có hạn nên chúng tôi chọn 4 xã là Quảng Thành, Quảng Minh, Quảng Phong và Tiến Tới để nghiên cứu được đánh dấu ở hình 2. Phạm Bích Thảo 19 K55 – Sinh học Khóa luận tốt nghiệp Hình. 2 Địa điểm nghiên cứu Các dấu gạch chéo đen chỉ địa điểm nghiên cứu. Tổng diện tích bãi triều có thực vật ngập mặn toàn huyện là 1046, thể hiện trong bảng sau: Bảng 1. Diện tích bãi triều có thực vật ngập mặn ở huyện Hải Hà. Xã Q.Thành Q.Thắng Q.Minh Q.Điền Q.Phong Đường Hoa 76,87 Tiến Tới 152,9 Diện 72,11 54,60 209,87 59,99 420,36 tích(ha) (Theo số liệu của “Dự thảo quy hoạch nuôi trồng thủy sản mặn, lợ huyện Hải Hà giai đoaạn 2006 - 2010’’, 2005, phòng Nông lâm ngư nghiệp huyện Hải Hà) [6] IV. Phương pháp nghiên cứu. 4.1.Ngoài thực địa a) Đo, đếm ngoài thực địa. - Chọn bờ đê cao hoặc đỉnh các đồi đất cao ven biển tại các địa điểm nghiên cứu làm điểm đứng quan sát, nhận xét sơ bộ về thành phần loài, sự phân bố và cấu trúc quần xã thực vật. Phạm Bích Thảo 20 K55 – Sinh học
- Xem thêm -