Tài liệu Khóa luận tốt nghiệp giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần phát hành sách hải dương

  • Số trang: 76 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 48 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39907 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1. Khái quát về vốn trong doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm về vốn trong doanh nghiệp Để hoạt động sản xuất kinh doanh thực sự có hiệu quả thì điều đầu tiên mà các doanh nghiệp quan tâm và nghĩ đến là làm thế nào để có đủ vốn và sử dụng nó như thế nào để đem lại hiệu quả cao nhất. Vậy vấn đề đặt ra ở đây – Vốn là gì? Các doanh nghiệp cần bao nhiêu vốn thì đủ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp là một quỹ tiền tệ đặc biệt nhằm mục đích kinh doanh và phải đạt tới mục tiêu sinh lời. Vốn luôn thay đổi hình thái biểu hiện, vừa tồn tại dưới hình thái tiền tệ vừa tồn tại dưới hình thái vật tư hoặc tài sản vô hình nhưng kết thúc vòng quay phải là hình thái tiền. Trong lý luận và thực tiễn có nhiều quan điểm khác nhau về vốn. Mỗi quan điểm được nhìn nhận dưới một góc độ nhất định. Theo quan điểm của Mark – nhìn nhận dưới giác độ của các yếu tố sản xuất thì Mark cho rằng: “Vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”. Định nghĩa về vốn của Mark có một tầm khái quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ cả bản chất và vai trò của vốn. Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ kinh tế lúc bấy giờ, Mark quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Paul A.samuelson, một đại diện tiêu biểu của học thuyết kinh tế hiện đại cho rằng: Đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai, còn vốn và hàng hóa là yếu tố kết quả của quá trình sản xuất. Vốn bao gồm các loại hàng hóa lâu bền được sản xuất ra và được sử dụng như các đầu vào hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó. Còn theo David Begg, tác giả của cuốn “Kinh tế học” cho rằng: “Vốn được phân chia theo hai hình thái là vốn hiện vật và vốn tài chính” hay ông đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ hàng hóa đã sản xuất để sản xuất ra các hàng hóa khác, vốn tài chính là tiền và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp. Theo PGS. TS. Nguyễn Đình Kiệm và TS. Bạch Đức Hiển trong “Giáo trình tài chính doanh nghiệp”, trang 57, đã định nghĩa vốn dưới hình thái tiền tệ như sau: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản đƣợc huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.” Từ các quan điểm trên có thể hiểu vốn kinh doanh của doanh nghiệp là một yếu tố của quá trình sản xuất, bao gồm tất cả các tài sản hữu hình và vô hình, tồn tại dưới 1 Thang Long University Library hình thái tiền tệ và hiện vật mà doanh nghiệp đang sử dụng để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. 1.1.2. Đặc điểm của vốn trong doanh nghiệp Vốn được biểu hiện bằng các tài sản của doanh nghiệp dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động khác, tồn tại dưới dạng hữu hình hoặc vô hình. Vốn đưa vào sản xuất kinh doanh là nhằm mục tiêu sinh lời, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp trong tương lai. Do đó, vốn phải được tích lũy đến một mức độ nhất định. Vốn có giá trị về thời gian. Nói chung, một đồng vốn ngày hôm nay có giá trị cao hơn một đồng vốn vào ngày mai. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc tính toán lựa chọn phương pháp đầu tư và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn. Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định, không thể có đồng vốn vô chủ. Nếu không xác định được rõ chủ sở hữu vốn thì việc sử dụng vốn sẽ kém hiệu quả. Vốn là một loại hàng hóa đặc biệt. Vốn là một loại hàng hóa bởi có giá trị sử dụng và có giá trị. Vốn là hàng hóa đặc biệt bởi lẽ quyền sở hữu và quyền sử dụng có thể tách rời nhau, tức là vốn có thể được đem ra trao đổi lấy quyền sử dụng trên thị trường vốn. 1.1.3. Vai trò của vốn trong doanh nghiệp Kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh là sản phẩm. Sản phẩm của doanh nghiệp có thể là hàng hóa dịch vụ, có thể tồn tại ở hình thái vật chất nhưng đều là kết quả của quá trình dùng sức lao động và tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động để làm biến đổi nó. Tư liệu lao động và đối tượng lao động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình sản xuất và tái sản xuất. Vì vậy, có thể nói vốn (tư liệu lao động và đối tượng lao động) là tiền đề cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vốn là yếu tố quan trọng quyết định đến năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và xác lập vị thế của doanh nghiệp trên thương trường. Điều này càng thể hiện rõ trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đầu tư hiện đại hóa công nghệ… tất cả những yếu tố này muốn đạt được thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đủ lớn. Việc đảm bảo đủ nguồn vốn sẽ giúp cho doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh một cách thường xuyên liên tục, doanh nghiệp có thể chớp thời cơ và có lợi thế trong cạnh tranh. 2 Vốn cũng là yếu tố quyết định đến việc mở rộng phạm vi hoạt động của doanh nghiệp. Để có thể tiến hành tái sản xuất mở rộng thì sau một chu kỳ kinh doanh, vốn của doanh nghiệp phải sinh lời tức là hoạt động kinh doanh phải có lãi, đảm bảo vốn của doanh nghiệp được bảo toàn và phát triển. Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, hình thành nhiều loại doanh nghiệp khác nhau, kinh doanh trên các lĩnh vực khác nhau. Vì vậy, muốn tồn tại thì doanh nghiệp cũng phải phát triển cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác. Trong khi các đối thủ cạnh tranh ngày càng gay gắt, khốc liệt, yêu cầu của đối tác ngày càng cao về chất lượng, giá thành sản phẩm… Những yêu cầu tất yếu ấy đòi hỏi doanh nghiệp cần có vốn. Nhu cầu về vốn đã trở thành động lực và là yêu cầu cấp bách đối với tất cả các doanh nghiệp. Nó quyết định cơ cấu đầu tư, đảm bảo sự sống còn cho doanh nghiệp. 1.1.4. Phân loại vốn trong doanh nghiệp 1.1.4.1. Căn cứ theo vai trò và tính chất luân chuyển vốn Trong quá trình sản xuất và tái sản xuất, vốn vận động một cách liên tục. Nó biểu hiện bằng những hình thái vật chất khác nhau, từ tiền mặt đến tư liệu lao động, hàng hóa dự trữ… Sự khác nhau về mặt vật chất này tạo ra đặc điểm chu chuyển vốn, theo đó người ta phân chia vốn thành hai loại: vốn cố định và vốn lưu động.  Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định, TSCĐ dùng trong kinh doanh tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh nhưng về mặt giá trị có thể hồi dẫn sau nhiều chu kỳ kinh doanh. Vốn cố định biểu hiện dưới hai hình thái: Hình thái hiện vật: là toàn bộ TSCĐ dùng trong kinh doanh của các DN gồm: nhà cửa, máy móc, thiết bị, công cụ… Hình thái tiền tệ: là toàn bộ TSCĐ chưa khấu hao và vốn khấu hao khi chưa được sử dụng để sản xuất TSCĐ, là toàn bộ vốn cố định đã hoàn thành vòng luân chuyển và trở về hình thái ban đầu.  Vốn lưu động: là biểu hiện bằng tiền của TSLĐ và vốn lưu động. Vốn lưu động tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh và giá trị có thể trở lại hình thái ban đầu sau mỗi vòng chu chuyển của hàng hóa. Nó là bộ phận của vốn sản xuất bao gồm giá trị nguyên liệu, vật liệu phụ, tiền lương… Những giá trị này được hoàn lại hoàn toàn cho chủ doanh nghiệp sau khi đã bán hàng hóa. 1.1.4.2. Căn cứ vào nguồn hình thành Căn cứ vào nguồn hình thành có thể chia vốn làm: vốn chủ sở hữu và nợ phải trả của doanh nghiệp. 3 Thang Long University Library Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là phần giá trị do những người sở hữu doanh nghiệp, những nhà đầu tư ứng ra để thành lập và duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán. Những người chủ sở hữu của doanh nghiệp có thể là nhà nước hay chủ doanh nghiệp, các cổ đông hoặc các thành viên của doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu gồm có vốn góp, lợi nhuận không chia và vốn chủ sở hữu khác.  Vốn góp: là phần giá trị do các chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của doanh nghiệp đóng góp và được ghi vào điều lệ của doanh nghiêp.  Lợi nhuận không chia: là phần lợi nhuận không phân chia cho các chủ sở hữu như là lợi tức mà được tái đầu tư vào doanh nghiệp, do đó làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Đây là một nguồn vốn có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường hiện nay, đặc biệt là ở các công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn.  Vốn chủ sở hữu khác: là vốn nội bộ của doanh nghiệp lấy từ hoạt động sản xuất kinh doanh bằng cách lấy một phần từ quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính… để đầu tư vào doanh nghiệp. Nợ phải trả của doanh nghiệp Bất cứ doanh nghiệp nào muốn đi vào hoạt động không chỉ dựa vào nguồn vốn chủ sở hữu mà còn phải tận dụng các mối quan hệ huy động thêm vốn từ bên ngoài như: vay ngân hàng, vay các tổ chức tín dụng và các đơn vị kinh tế khác. Thậm chí trong quá trình sản xuất kinh doanh có khả năng doanh nghiệp phải nợ người bán, nợ lương công nhân viên để tích lũy vốn đáp ứng nhu cầu vốn quá lớn ở một khâu nào đó thì mới có thể duy trì được các hoạt động. Tất cả những khoản trên được hạch toán vào khoản mục nợ phải trả của doanh nghiệp nên sau một thời hạn nhất định theo thỏa thuận doanh nghiệp phải trả cả gốc và lãi cho chủ nợ. Trong trường hợp này những người tài trợ cho doanh nghiệp không phải chủ sở hữu của doanh nghiệp, vì vậy khi doanh nghiệp huy động vốn từ nguồn này sẽ bị áp lực phải trả nợ và không tự chủ về tài chính. Mặc dù vậy nguồn tài trợ từ các khoản vay nợ vẫn là chỗ dựa vững chắc cho các doanh nghiệp khi cần vốn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh hay tích lũy vốn để tái sản xuất mở rộng quy mô hoạt động. 1.1.4.3. Căn cứ theo thời gian sử dụng vốn Theo cách phân loại này vốn được chia thành hai loại: Vốn thường xuyên Vốn thường xuyên bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản nợ dài hạn của doanh nghiệp. Đặc điểm của nguồn vốn này là ổn định và dài hạn. Doanh nghiệp có thể dùng 4 nó để đầu tư mua sắm TSCĐ và một phần TSLĐ tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của DN. Phần TSLĐ được đầu tư bởi vốn thường xuyên được gọi là TSLĐ ròng. Vốn tạm thời Vốn tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác. Việc phân loại này giúp cho người quản lý xem xét huy động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian và mục đích sử dụng, đáp ứng đầy đủ kịp thời vốn cho sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. 1.2. Chiến lƣợc quản lý vốn trong doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp có những đặc điểm khác nhau, cơ cấu nguồn vốn khác nhau, do đó mỗi doanh nghiệp sẽ sử dụng một chính sách quản lý vốn riêng sao cho phù hợp với doanh nghiệp của mình. Dựa vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp cũng như cách thức sử dụng nguồn vốn tài trợ. Có 3 chính sách quản lý vốn trong doanh nghiệp: Chính sách quản lý vốn cấp tiến, chính sách quản lý vốn thận trọng và chính sách quản lý vốn dung hòa. 1.2.1. Chiến lược quản lý vốn thận trọng Chiến lược quản lý vốn thận trọng là dùng một phần nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn. Cụ thể là: Dùng nguồn vốn dài hạn tài trợ cho toàn bộ TSCĐ, và một phần TSLĐ, còn nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho phần TSLĐ còn lại. Sơ đồ 1.1. Chiến lược quản lý vốn thận trọng Nguồn vốn ngắn hạn Tài sản lưu động Nguồn vốn dài hạn Tài sản cố định Sử dụng mô hình này, khả năng thanh toán và độ an toàn tài chính của doanh nghiệp được duy trì ở mức cao, tuy nhiên, doanh nghiệp phải sử dụng nhiều khoản vay trung và dài hạn nên doanh nghiệp phải trả chi phí nhiều hơn cho việc sử dụng vốn. 5 Thang Long University Library 1.2.2. Chiến lược quản lý vốn mạo hiểm Chiến lược quản lý vốn mạo hiểm là dùng một phần nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn. Nghĩa là, dùng nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho toàn bộ TSLĐ và một phần TSCĐ, còn nguồn vốn dài hạn tài trợ cho phần TSCĐ còn lại. Sơ đồ 1.2. Chiến lược quản lý vốn mạo hiểm Tài sản lưu động Nguồn vốn ngắn hạn Tài sản cố định Nguồn vốn dài hạn Khi doanh nghiệp sử dụng chính sách quản lý vốn này sẽ giảm thiểu được chi phí sử dụng vốn, nâng cao khả năng sinh lời cho chủ sở hữu tuy nhiên, rủi ro tài chính cao, người quản lý luôn phải chịu áp lực nặng nề về việc tìm nguồn để thanh toán cho chủ nợ. 1.2.3. Chiến lược quản lý vốn dung hòa Toàn bộ tài sản ngắn hạn được đảm bảo bằng nguồn vốn ngắn hạn, toàn bộ tài sản dài hạn được đảm bảo bằng nguồn vốn dài hạn. Sơ đồ 1.3. Chiến lược quản lý vốn dung hòa Tài sản lưu động Tài sản cố định Nguồn vốn ngắn hạn Nguồn vốn dài hạn Việc áp dụng mô hình này đảm bảo tạo ra sự ăn khớp giữa nhu cầu vốn và nguồn tài trợ nhu cầu vốn về mặt thời gian. Do vậy, giúp doanh nghiệp hạn chế được rủi ro trong thanh toán. Đây là chiến lược có độ an toàn cao, mặt khác mô hình này có thể giúp doanh nghiệp giảm bớt chi phí trong việc sử dụng vốn. Hạn chế của mô hình này là chưa tạo ra được sự linh hoạt trong việc tổ chức sử dụng vốn, thường vốn nào nguồn ấy, tính chắc chắn được đảm bảo hơn, song kém linh hoạt hơn. Trong thực tế, khi doanh thu biến động, khi gặp khó khăn về tiêu thụ, doanh nghiệp phải tạm thời giảm bớt quy mô kinh doanh, nhưng vẫn phải duy trì một lượng vốn thường xuyên khá lớn. 1.3. Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp Các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường luôn luôn phấn đấu đạt được hiệu quả cao nhất. Để đạt được điều này các doanh nghiệp không ngừng nâng 6 cao trình độ quản lý sản xuất kinh doanh, do vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng. 1.3.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp Hiệu quả hiểu theo nghĩa rộng là việc kết quả thu được tốt hơn khi có một lượng đầu vào như nhau. Trong khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng nói đến bản chất của hiệu quả kinh tế, nó phản ánh mặt chất của hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp – đó là tối đa hóa lợi nhuận. Hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn của doanh nghiệp làm cho đồng vốn sinh lời tối đa nhằm mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tức là phải sử dụng và tìm các biện pháp làm sao cho chi phí vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh là ít nhất mà đem lại hiệu quả cao nhất. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn là việc đánh giá khả năng quản lý vốn, sử dụng vốn của công ty nhằm đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn đóng vai trò quan trọng trong phân tích hiệu quả kinh doanh. Vì thế, khi phân tích cần phải xây dựng hệ thống các chỉ tiêu phù hợp để có thể đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng vốn được biểu hiện bằng mối quan hệ giữa kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh với số vốn đầu tư cho hoạt động của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định. Các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn thường thể hiện mối quan hệ giữa kết quả đầu ra và các yếu tố đầu vào để tạo ra kết quả đó. Kết quả đầu ra Hiệu quả = Chi phí đầu vào Ta thấy hiệu quả chịu ảnh hưởng của hai nhân tố đó là doanh thu (hay lợi nhuận) và chi phí. Theo đó, với mỗi 1 đồng chi phí đầu vào (vốn, nhân công, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị…) thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu trong một kỳ kinh doanh. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt. Trong đó, chỉ tiêu phản ánh doanh thu gồm: doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh, tổng lợi nhuận kế toán trước thuế, lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Chỉ tiêu phản ánh chi phí đầu vào gồm: giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí tài chính, chi phí hoạt động trên 7 Thang Long University Library báo cáo kết quả kinh doanh (hoặc tổng tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu, tổng tài sản ngắn hạn, tổng tài sản dài hạn trên bảng cân đối kế toán). Hiệu quả sử dụng vốn là chỉ tiêu phản ánh kết quả tổng hợp nhất quá trình sử dụng các loại vốn sao cho tối đa hoá kết quả lợi ích, tối thiểu lượng vốn và thời gian sử dụng sao cho phù hợp với mục tiêu kinh doanh. 1.3.2. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo an toàn tài chính cho DN. Việc sử dụng vốn có hiệu quả giúp DN có uy tín huy động vốn tài trợ dễ dàng. Khả năng thanh toán cao thì DN mới hạn chế những rủi ro và mới phát triển được. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn giúp cho doanh nghiệp nâng cao uy tín của mình trên thị trường, nâng cao mức sống của cán bộ công nhân viên. Khi doanh nghiệp làm ăn có lãi thì tác động tích cực không chỉ đóng góp đầy đủ vào ngân sách Nhà nước mà cải thiện việc làm cho người lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân tự khẳng định mình trong môi trường cạnh tranh lành mạnh. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường. Từ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường thì kéo theo đó là sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Cạnh tranh là quy luật tất yếu của thị trường, cạnh tranh để tồn tại. Khi doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, doanh nghiệp mở rộng quy mô, đầu tư vào công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, đào tạo đội ngũ cán bộ chất lượng tay nghề cao… Vì vậy, việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp không những đem lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp và người lao động mà nó còn tác động tới cả nền kinh tế xã hội. 1.3.3. Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp Hiệu quả kinh tế được xác định bởi kết quả đầu ra và chi phí sử dụng các yếu tố đầu vào, hai đại lượng này trên thực tế đều rất khó xác định được một cách chính xác, nó phụ thuộc vào hệ thống tính toán và phương pháp tính toán trong DN. Mỗi doanh nghiệp đều có một phương pháp, một cách tính toán khác nhau do đó mà tính hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất của DN cũng phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp tính toán trong doanh nghiệp đó. Các phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp. 1.3.3.1. Phương pháp so sánh Phương pháp so sánh là phương pháp phân tích được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong phân tích kinh tế nói chung và phân tích tài chính nói riêng, xác định vị trí và xu 8 hướng biến động của các chỉ tiêu phân tích. Sử dụng phương pháp so sánh cần quan tâm đến tiêu chuẩn để so sánh, điều kiện để so sánh, kỹ thuật để so sánh. Tiêu chuẩn so sánh: Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu của một kỳ được lựa chọn làm gốc so sánh. Gốc so sánh được xác định tùy thuộc vào mục đích phân tích. Khi tiến hành so sánh cần có hai đại lượng phải đảm bảo tính chất so sánh được. Điều kiện so sánh: So sánh theo thời gian đó là sự thống nhất về nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thống nhất về thời gian và đơn vị đo lường. So sánh theo không gian tức là so sánh giữa các số liệu trong ngành nhất định, các chỉ tiêu cần phải được quy đổi về cùng quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự nhau. Kỹ thuật so sánh: Để đáp ứng các mục tiêu sử dụng của những chi tiết so sánh, quá trình so sánh giữa các chỉ tiêu được thể hiện dưới 3 kỹ thuật so sánh sau đây: - So sánh số tuyệt đối: là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế. Kết quả so sánh phản ánh sự biến động về quy mô hoặc khối lượng của chỉ tiêu phân tích. - So sánh tương đối: là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế. Kết quả so sánh được phản ánh kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển và mức độ phổ biến của chỉ tiêu nghiên cứu. - So sánh số bình quân: biểu hiện tính chất đặc trưng chung về mặt số lượng, nhằm phản ánh đặc điểm chung của một đơn vị, một bộ phận hay một tổng thể chung có cùng một tín chất. Từ đó cho thấy sự biến động về mặt quy mô hoặc khối lượng của chỉ tiêu phân tích, mối quan hệ tỷ lệ, kết cấu của từng chỉ tiêu trong tổng thể hoặc biến động về mặt tốc độ của chỉ tiêu đang xem xét giữa các thời gian khác nhau, biểu hiện tính phổ biến của chỉ tiêu phân tích. Quá trình phân tích theo kỹ thuật của phương pháp so sánh có thể thực hiện theo 2 hình thức sau: - So sánh theo chiều dọc là quá trình so sánh, xác định tỷ lệ, quan hệ tương quan giữa các dữ kiện trên báo cáo tài chính của kỳ hiện hành. - So sánh theo chiều ngang là quá trình so sánh, xác định tỷ lệ và chiều hướng tăng giảm của các dữ kiện trên báo cáo tài chính của nhiều kỳ khác nhau. Tuy nhiên, phân tích theo chiều ngang cần chú ý trong điều kiện xảy ra lạm phát, kết quả tính được chỉ có ý nghĩa khi chúng ta đã loại trừ ảnh hưởng của biến động giá. 9 Thang Long University Library 1.3.3.2. Phương pháp phân tích tỷ lệ Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp này đòi hỏi phải xác định các ngưỡng, các định mức để từ đó nhận xét và đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp với các tỷ lệ tham chiếu. Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm chỉ tiêu đặc trưng phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêu phân tích của doanh nghiệp. Nhưng chìa khóa chung có bốn nhóm chỉ tiêu cơ bản sau: - Nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán - Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn - Nhóm về chỉ tiêu về hoạt động - Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời. 1.3.3.3. Phương pháp Dupont Bên cạnh đó các nhà phân tích tài chính còn sử dụng phương pháp phân tích tài chính Dupont. Phân tích Dupont là kỹ thuật phân tích bằng cách chia tỷ số ROA thành những bộ phận có liên quan tới nhau để đánh giá tác động của từng bộ phận lên kết quả cuối cùng. Mô hình này thường được sử dụng bởi các nhà quản lý trong nội bộ công ty để có cái nhìn cụ thể và ra quyết định xem nên cải thiện tình hình tài chính của công ty bằng cách nào. Mục đích của mô hình phân tích Dupont là phục vụ cho việc sử dụng vốn chủ sở hữu sao cho hiệu quả và sinh lời nhiều nhất. Phương pháp này sẽ giúp các nhà phân tích tài chính nhận biết được nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt hay xấu trong doanh nghiệp. Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích số của các chuỗi tỷ số có mối quan hệ nhân quả tổng số với nhau. Các bước trong phương pháp Dupont:  Thu nhập số liệu kinh doanh (từ bộ phận tài chính)  Tính toán (sử dụng bảng tính)  Đưa ra kết luận  Nếu kết luận xem xét không chân thực, kiểm tra số liệu và tính toán lại. Thế mạnh của mô hình Dupont 10  Tính đơn giản. Đây là một công cụ rất tốt để cung cấp cho mọi người kiến thức căn bản giúp tác động tích cực đến kết quả kinh doanh của công ty  Có thể được sử dụng để thuyết phục cấp quản lý thực hiện một vài bước cải tổ nhằm chuyên nghiệp hóa chức năng thu mua và bán hàng. Đôi khi điều cần làm trước tiên là nên nhìn vào thực trạng của công ty. Thay vì tìm cách thôn tính công ty khác nhằm tăng thêm doanh thu và hưởng lợi thế nhờ quy mô, để bù đắp khả năng sinh lợi yếu kém.  Có thể dễ dàng kết nối với các chính sách đãi ngộ đối với nhân viên.  Hạn chế của mô hình phân tích Dupont  Dựa vào số liệu kế toán cơ bản nhưng có thể không đáng tin cậy.  Mức độ tin cậy của mô hình phụ thuộc vào giả thuyết và số liệu đầu vào. Điều kiện áp dụng phương pháp Dupont: số liệu kế toán đáng tin cậy. 1.3.4. Nội dung phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp 1.3.4.1. Phân tích tình hình biến động vốn Khi xem xét tình hình biến động vốn của doanh nghiệp, người xem có thể thấy ngay được thực trạng về tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời cũng qua việc xem xét này người ta thấy được tình hình huy động các nguồn vốn của doanh nghiệp trong kỳ như vốn của doanh nghiệp, vốn vay ngân hàng, vốn vay của các đối tượng khác… Nếu như doanh nghiệp huy động tốt nguồn vốn tự có trong kinh doanh sẽ giúp cho công ty nâng cao được khả năng tự chủ về tài chính. Hay nhìn vào đó mà người sử dụng thấy được trách nhiệm phải thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp với người lao động, với nhà cung ứng hay với ngân hàng. Phân tích tình hình nguồn vốn của doanh nghiệp là việc đi đánh giá sự biến động các loại vốn của doanh nghiệp nhằm thấy được tình hình huy động và sử dụng các loại vốn đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh. Phân tích công nợ phải trả là nhằm nhận thức và đánh giá tình hình biến động tăng giảm cơ cấu và tính chất của các khoản nợ; qua đó thấy được những nguyên nhân của sự tăng giảm. Đồng thời qua phân tích sẽ thấy được tình hình trả nợ và khả năng trả nợ của doanh nghiệp ở hiện tại và tương lai để từ đó có những đề xuất, giải pháp và kế hoạch trả nợ, tránh tình trạng trả nợ chậm có thể làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong việc hay động vốn cho quá trình hoạt động. Phân tích tình hình nguồn vốn chủ sở hữu nhằm nhận thức, đánh giá tình hình biến động tăng giảm, nguyên nhân của sự biến động đó, qua đó thấy được khả năng đáp ứng cho những nhu cầu sản xuất kinh doanh để có kế hoạch huy động tốt các nguồn vốn. 11 Thang Long University Library 1.3.4.2. Phân tích cơ cấu vốn Để đảm bảo giá trị doanh nghiệp được tối đa hóa, nhà quản trị tài chính cần chú ý đến cơ cấu vốn của DN. Cơ cấu vốn của doanh nghiệp là sự kết hợp các nguồn vốn theo một tỷ lệ nào đó để tài trợ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cơ cấu vốn của doanh nghiệp bao gồm 2 phần: vốn vay và vốn cổ phần (cổ phần ưu đãi và cổ phần thường). Thường các doanh nghiệp sẽ tìm cách đạt đến cấu trúc vốn tối ưu. Chính sách cơ cấu vốn của doanh nghiệp là sự kết hợp 2 lựa chọn: rủi ro và lợi nhuận: - Nếu sử dụng vốn vay càng nhiều, rủi ro càng cao cho dòng thu nhập của DN. - Tỷ lệ vốn vay càng cao, thì suất sinh lợi kỳ vọng cũng càng cao. Vốn vay càng lớn, rủi ro càng cao, dẫn tới chứng khoán sẽ giảm, nhưng tỉ suất sinh lợi kỳ vọng lại tăng lên. Một cơ cấu vốn tối ưu là một cơ cấu có sự cân đối giữa rủi ro và lợi nhuận sao cho giá trị chứng khoán đạt giá trị cao nhất. Còn có cách khác: Cơ cấu vốn của doanh nghiệp đạt đến tối ưu khi mà hỗn hợp vốn vay, vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường cho phép tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp. Với một cơ cấu vốn có chi phí sử dụng vốn bình quân được tối thiểu hóa, thì tổng giá trị chứng khoán của doanh nghiệp được tối đa hóa và vì vậy giá trị của doanh nghiệp cũng được tối đa hóa. Do đó, cơ cấu vốn có chi phí tối thiểu được gọi là cơ cấu vốn tối ưu. Chính sách cơ cấu vốn liên quan đến quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro. Việc tăng sử dụng nợ làm tăng rủi ro đối với thu nhập và tài sản của chủ sở hữu. Do đó, các cổ đông có xu hướng đòi hỏi tỷ lệ lợi tức đền bù cao, điều này làm giảm giá cổ phiếu. Nhằm đáp ứng mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu, cơ cấu vốn tối ưu cần đạt được sự cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận. Bốn nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn: Thứ nhất, rủi ro kinh doanh. Đây là loại rủi ro tiềm ẩn trong tài sản của doanh nghiệp. Rủi ro kinh doanh càng lớn tỷ lệ nợ tối ưu càng thấp. Thứ hai, chính sách thuế. Thuế thu nhập doanh nghiệp có ảnh hưởng đến chi phí nợ vay thông qua điều tiết phần tiết kiệm từ thuế. Thuế suất càng cao sẽ khuyến khích doanh nghiệp sử dụng nợ do phần tiết kiệm từ thuế tăng lên. Thứ ba, khả năng tài chính của doanh nghiệp, đặc biệt là khả năng tăng vốn một cách hợp lý trong điều kiện có tác động xấu. Các nhà quản trị tài chính biết rằng tài trợ vốn vững chắc là một trong những điều kiện cần thiết để doanh nghiệp hoạt động ổn định và có hiệu quả. Họ biết rằng khi thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt trong nền kinh tế hoặc khi một doanh nghiệp đang trải qua những khó khăn trong hoạt động, những nhà cung ứng vốn muốn tăng cường tài trợ cho doanh nghiệp có tình hình tài 12 chính lành mạnh. Như vậy, nhu cầu vốn tương lai là những hậu quả thiếu vốn có ảnh hưởng quan trọng đối với mục tiêu cơ cấu vốn. Thứ tư, sự “bảo thủ” hay “phóng khoáng” của nhà quản lý. Một số nhà quản lý sẵn sàng sử dụng nhiều nợ hơn, trong khi đó một số khác lại muốn sử dụng vốn chủ sở hữu. Bốn nhân tố trên tác động rất lớn đến mục tiêu cơ cấu vốn. Với mỗi doanh nghiệp, cơ cấu vốn tối ưu tại mỗi thời điểm khác nhau là khác nhau. Nhiệm vụ của nhà quản trị là xác định và bảo đảm cơ cấu vốn tối ưu. Để xem xét cơ cấu vốn tối ưu của một doanh nghiệp ta phân tích: Các tỷ số về đòn bẩy tài chính Đối với các doanh nghiệp, tỷ số về đòn bẩy tài chính giúp các nhà quản trị tài chính lựa chọn cấu trúc vốn hợp lý cho doanh nghiệp mình. Qua đòn bẩy tài chính các nhà đầu tư thấy được rủi ro về tài chính của doanh nghiệp, từ đó dẫn đến quyết định đầu tư của mình. Tỷ số nợ trên tổng tài sản = Tổng nợ/ tổng tài sản Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu = Tổng nợ/ vốn chủ sở hữu Việc phân tích cơ cấu vốn của DN giúp ta thấy được doanh nghiệp sử dụng vốn vay và vốn chủ sở hữu có hợp lý không, có phù hợp với ngành nghề của DN không. 1.3.4.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp a. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả quản lý tổng vốn - Vòng quay toàn bộ vốn: chỉ tiêu này đo lường hiệu quả sử dụng vốn trong kỳ, nó phản ánh một đồng vốn doanh nghiệp huy động vào sản xuất kinh doanh mang lại bao nhiêu đồng doanh thu. Hệ số vòng quay toàn bộ vốn càng cao đồng nghĩa với việc sử dụng vốn của doanh nghiệp trong các hoạt động sản xuất kinh doanh càng hiệu quả. Với một số vốn bỏ ra, doanh thu thu được càng lớn thì hiệu quả đạt được càng cao. Từ hệ số vòng quay toàn bộ vốn có thể đánh giá được doanh nghiệp có đang kinh doanh, hoạt động hiệu quả hay không. - Thời gian quay vòng vốn: cho biết thời gian từ khi doanh nghiệp bỏ vốn ra đến khi thu lại được vốn. Số này càng nhỏ thì chứng tỏ thời gian thu hồi vốn nhanh, doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. 13 Thang Long University Library Để biết chính xác về mức độ hiệu quả của việc quay vòng vốn của một doanh nghiệp cần nắm rõ đặc điểm của ngành và tiến hành so sánh thời gian quay vòng vốn của công ty đó với thời gian quay vòng vốn bình quân của ngành. - Hàm lượng vốn kinh doanh: Chỉ tiêu này cho ta biết để tạo ra một đồng doanh thu trong kỳ thì cần phải có bao nhiêu đồng vốn kinh doanh. Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt, hiệu quả kinh doanh đối với doanh nghiệp càng cao và ngược lại. Chỉ tiêu này càng cao, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chưa thực sự hiệu quả. - Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS): là tỷ lệ giữa số lợi nhuận ròng chia cho doanh thu thuần. Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng doanh thu có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN càng cao. Nhưng không phải lúc nào giá trị của chỉ tiêu này cao cũng là tốt vì tỷ suất này cao do giá thành giảm thì tốt nhưng cao do giá bán tăng lên trong trường hợp cạnh tranh không đổi thì không tốt vì tính cạnh tranh của DN sẽ bị giảm dẫn đến việc tiêu thụ giảm, từ đó làm cho doanh thu và lợi nhuận cũng giảm theo. - Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA): chỉ tiêu này cho biết một đồng đầu tư vào tài sản có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. ROA cho biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời. ROA càng cao thì chứng tỏ công ty càng tạo ra được nhiều lợi nhuận hơn trên lượng đầu tư ít hơn. b. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn theo nguồn hình thành Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu - Vòng quay vốn chủ sở hữu: Chỉ số này đo lường mối quan hệ giữa doanh thu thuần và VCSH bình quân của doanh nghiệp, cho biết 1 đồng vốn chủ sở hữu tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu. 14 Chỉ số này càng cao cho thấy hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp càng cao và ngược lại. Vốn chủ sở hữu trong công thức là số bình quân, tức lấy tổng số dư đầu kỳ cộng với số dư cuối kỳ sau đó chia 2. - Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE): Tỷ số này cho biết với mỗi đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra thì lợi nhuận thu được bao nhiêu đồng. Tỷ số này càng cao thì có nghĩa công ty đã sử dụng hiệu quả vốn chủ sở hữu, công ty làm ăn có lãi, ngược lại thì tỷ số này càng thấp, công ty chưa sử dụng hiệu quả đồng vốn bỏ ra. Khi tốc độ tăng vốn chủ sở hữu cao hơn tốc độ tăng lợi nhuận sau thuế thì có nghĩa tỷ suất sinh lời sẽ giảm sút so với trước khi tăng vốn. Về mặt lý thuyết, doanh nghiệp chỉ nên tăng vốn khi hiệu suất sử dụng vốn hiện đang rất cao, thêm vào đó là đòn bẩy tài chính đã sử dụng hết công suất. Nhưng thực tế ở Việt Nam thời gian vừa qua có rất nhiều doanh nghiệp tiến hành tăng vốn để giảm vốn vay ngân hàng, hay tiến hành đầu tư tài chính. Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn vay - Khả năng thanh toán lãi vay: cho biết mỗi 1 đồng lãi được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng lợi nhuận. Hệ số khả năng thanh toán lãi vay được xác định bằng công thức: Hệ số này cho biết khả năng trả phần lãi của khoản đi vay. Nếu hệ số này lớn hơn 1 là tốt, chứng tỏ doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng trả lãi vay. Nếu nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp đã vay quá nhiều so với khả năng của doanh nghiệp, hoặc kinh doanh kém hiệu quả. Việc tìm hiểu xem một công ty có thể thực hiện trả lãi đến mức độ nào cũng rất quan trọng. Rõ ràng, khả năng thanh toán lãi vay cao thì khả năng thanh toán lãi của doanh nghiệp cho các chủ nợ của mình càng lớn và ngược lại. Khả năng thanh toán lãi vay thấp cho thấy một tình trạng nguy hiểm, suy giảm trong hoạt động kinh tế có thể làm giảm EBIT xuống dưới mức nợ lãi mà công ty phải trả, do đó dẫn tới mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, rủi ro này được hạn chế bởi thực tế EBIT không phải là nguồn duy nhất để thanh toán lãi. Các doanh nghiệp cũng có thể tạo ra nguồn tiền mặt từ khấu hao và có thể sử dụng nguồn vốn đó để trả nợ lãi. Những gì mà một doanh nghiệp cần phải đạt tới là tạo ra một độ an toàn hợp lý, bảo đảm khả năng thanh toán cho các chủ nợ của doanh nghiệp mình. 15 Thang Long University Library - Tỷ suất sinh lời tiền vay: là chỉ tiêu đánh giá số lợi nhuận mà doanh nghiệp làm ra trên 1 đồng vốn nợ. Chỉ số này càng cao, chứng tỏ doanh nghiệp đã sử dụng hiệu quả nguồn vốn đi vay và ngược lại, chỉ số này thấp là doanh nghiệp sử dụng vốn vay kém hiệu quả. Chỉ số tỷ suất sinh lời tiền vay cao khi lợi nhuận thu được là cao, tức là doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, thu về nguồn lợi nhuận lớn. Các công ty mang một lượng nợ đáng kể liên quan đến vốn hoặc tài sản có nhiều nguy cơ trong một cuộc suy thoái kinh tế, khi thu nhập có xu hướng giảm và các biện pháp thắt chặt tín dụng gia tăng. c. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả quản lý vốn theo tốc độ chu chuyển Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn cố định - Vòng quay vốn cố định: là chỉ số đánh giá khái quát hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp. Được tính qua công thức: Chỉ tiêu này có ý nghĩa cứ bình quân sử dụng 1 đồng vốn cố định trong kỳ sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần, nghĩa là đo lường hiệu quả sử dụng vốn cố định trong doanh nghiệp. Nếu hệ số này càng lớn, hiệu quả sử dụng vốn cố định càng cao. Ngược lại, hệ số thấp tức là hiệu quả sử dụng vốn cố định thấp. - Thời gian quay vòng vốn cố định: cho biết số ngày vốn cố định thực hiện được một vòng quay. Chỉ tiêu này phản ánh số ngày từ khi bỏ vốn đến khi thu hồi được vốn cố định, chỉ tiêu này là nghịch đảo của chỉ tiêu vòng quay vốn cố định. Vì vậy, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ thời gian thu hồi vốn càng nhanh. Nếu cao chứng tỏ vốn cố định bị ứ đọng. - Tỷ suất sinh lời vốn cố định: Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của vốn cố định. Nó phản ánh 1 đồng vốn cố định trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Trong đó: 16 Vốn cố định đầu kỳ (hoặc cuối kỳ) = Nguyên giá TSCĐ đầu kỳ (cuối kỳ) - Khấu hao lũy kế đầu kỳ (cuối kỳ) Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng tài sản có hiệu quả. Từ đó, doanh nghiệp có thể đầu từ thêm về trang thiết bị, nhà xưởng. - Hệ số đảm nhiệm vốn cố định: Chỉ tiêu này phản ánh kết quả về sử dụng vốn cố định, qua đó đánh giá được hiệu suất sử dụng vốn cố định. Hệ số này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thuần cần bao nhiêu đồng vốn cố định, nó được đo bằng tỷ lệ giữa vốn cố định bình quân trong kỳ và tổng doanh thu thuần. Hệ số càng thấp thì hiệu quả sử dụng vốn cố định càng cao và ngược lại. Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn lưu động Các chỉ tiêu này nói lên tốc độ luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp và qua đó đánh giá được vốn lưu động được sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả như thế nào. Từ đó, đánh giá được công tác quản lý vốn có hiệu quả hay không. - Vòng quay vốn lưu động Chỉ tiêu này có ý nghĩa: cứ bình quân sử dụng 1 đồng vốn lưu động trong kỳ sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần nghĩa là đo lường hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp. Nếu hệ số này thấp phản ánh hàng tồn kho lớn, lượng tiền tồn quỹ nhiều, doanh nghiệp không thu được các khoản phải thu. Ngược lại, hệ số càng lớn, hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao vì hàng hóa tiêu thụ nhanh, vật tư tồn kho thấp, ít các khoản phải thu… giảm chi phí, tăng lợi nhuận. Từ đó, doanh nghiệp phải xem xét lại tình hình tài chính của mình để có các biện pháp chấn chỉnh. - Thời gian vòng quay vốn lưu động: cho biết số ngày thực hiện một vòng quay vốn lưu động. Chỉ tiêu này phản ánh số ngày từ khi bỏ vốn đến khi thu hồi được vốn lưu động, chỉ tiêu này là nghịch đảo của chỉ tiêu vòng quay vốn lưu động. Vì vậy, chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ thời gian thu hồi vốn càng nhanh. Nếu cao chứng tỏ vốn lưu động bị ứ đọng. 17 Thang Long University Library Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động là tăng số vòng quay của vốn trong kỳ hoặc giảm số ngày của vòng quay vốn qua đó doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được vốn. Muốn vậy, phải thực hiện phối hợp nhiều biện pháp nhằm giảm lượng vốn nằm ở các khâu, các giai đoạn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Vấn đề giảm khối lượng vốn lưu động và nâng cao mức luân chuyển có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc rút ngắn thời gian luân chuyển vốn lưu động trong kỳ. - Mức tiết kiệm vốn lưu động: là số vốn doanh nghiệp tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển vốn. Doanh nghiệp càng tăng được vòng quay vốn lưu động thì càng có khả năng tiết kiệm được VLĐ, càng nâng cao được hiệu quả sử dụng VLĐ. Mức tiết kiệm VLĐ có được do tăng tốc độ luân chuyển vốn được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu: mức tiết kiệm tương đối và mức tiết kiệm tuyệt đối. Mức tiết kiệm tuyệt đối: nếu quy mô kinh doanh không thay đổi, việc tăng tốc độ luân chuyển VLĐ đã giúp doanh nghiệp tiết kiệm được một lượng VLĐ có thể rút ra khỏi luân chuyển dùng vào việc khác. Mức tiết kiệm tương đối: Nếu quy mô kinh doanh được mở rộng, việc tăng tốc độ luân chuyển VLĐ giúp doanh nghiệp không cần tăng thêm VLĐ hoặc bỏ ra số VLĐ ít hơn so với trước. Trong đó: : Vốn lưu động tiết kiệm tuyệt đối : Vốn lưu động tiết kiệm tương đối : Doanh thu thuần kỳ trước, kỳ này : Hiệu suất sử dụng VLĐ kỳ trước, kỳ này - Tỷ suất sinh lời trên vốn lưu động: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn lưu động, 1 đồng vốn lưu động có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao cho biết doanh nghiệp đã sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, ngược lại chỉ tiêu này càng thấp có nghĩa là lợi nhuận trên một đồng vốn là nhỏ.  Hàng tồn kho 18 - Vòng quay hàng tồn kho (Hệ số lưu kho): là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ. Hệ số vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng giá vốn hàng bán chia cho bình quân hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm. Hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp. Hệ số lưu kho cao chứng tỏ doanh nghiệp quản lý hàng tồn kho có hiệu quả, tránh được ứ đọng vốn và ngược lại. Tuy nhiên, hệ số này còn phải được so sánh với hệ số trung bình ngành. Hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần. Hơn nữa, dự trữ nguyên vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ. Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng. - Thời gian quay vòng hàng tồn kho: hệ số cho biết bao nhiêu ngày thì lượng hàng tồn kho lại được quay vòng một lần. Các doanh nghiệp hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau sẽ có đặc điểm về chu kỳ sản xuất, kỹ thuật sản xuất, đặc điểm của sản phẩm, nhu cầu của thị trường… khác nhau do đó cũng có hiệu quả sử dụng vốn khác nhau. Chẳng hạn nếu chu kỳ ngắn doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn nhanh nhằm tái tạo, mở rộng sản xuất kinh doanh và ngược lại nếu chu kỳ sản xuất dài doanh nghiệp sẽ chịu một gánh nặng ứ đọng vốn và lãi phải trả cho các khoản vay.  Các khoản phải thu - Vòng quay các khoản phải thu: phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt. Hệ số này là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, được tính bằng cách lấy doanh thu trong kỳ chia cho số dư bình quân các khoản PTKH trong kỳ. Số dư bình quân các khoản PTKH trong kỳ được tính bằng cách lấy trung bình của số dư đầu kỳ các khoản PTKH của tháng đầu tiên, số dư cuối kỳ các khoản phải 19 Thang Long University Library thu của tháng đầu tiên và số dư cuối kỳ các khoản phải thu của các tháng tiếp theo trong kỳ. Nếu không có số liệu về số dư các khoản phải thu hàng tháng, có thể thay số dư bình quân các khoản phải thu bằng số dư cuối kỳ các khoản phải thu. - Thời gian thu nợ trung bình: cho biết số ngày thu tiền bình quân trong một vòng quay các khoản phải thu. Chỉ số này ngược lại với chỉ số vòng quay khoản phải thu, thời gian quay vòng khoản phải thu càng nhỏ thì tốc độ thu hồi các khoản phải thu của doanh nghiệp càng nhanh. Trong mỗi ngành khác nhau thì chỉ số này cũng khác nhau, nhà phân tích khi tiến hành đánh giá hiệu quả quản lý của doanh nghiệp, cần so sánh hệ số ngày thu tiền bình quân với số ngày thanh toán cho các khoản công nợ phải thu mà doanh nghiệp đó quy định.  Các khoản phải trả - Vòng quay các khoản phải trả: Chỉ số này phản ánh khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp. Chỉ số vòng quay các khoản phải trả năm sau nhỏ hơn năm trước chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán chậm hơn. Việc chiếm dụng khoản vốn này sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí về vốn, đồng thời thể hiện uy tín về quan hệ thanh toán đối với nhà cung cấp và chất lượng sản phẩm đối với khách hàng. Ngược lại, nếu chỉ số năm sau lớn hơn năm trước tức là doanh nghiệp thanh toán cho nhà cung cấp nhanh hơn năm trước. Doanh nghiệp chưa tạo được uy tín với nhà cung cấp cũng chưa tận dụng nguồn vốn này để giảm chi phí vốn. - Thời gian trả nợ trung bình: cho biết bình quân doanh nghiệp có bao nhiêu ngày để trả nợ. Thời gian trả nợ càng dài chứng tỏ khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp với nhà cung cấp tốt. Nhưng doanh nghiệp cũng cần chú ý, thời gian trả nợ kéo dài có thể gây ảnh hưởng không tốt cho mối quan hệ giữa doanh nghiệp với đối tác. Thời gian trả nợ ngắn chứng tỏ doanh nghiệp chưa chiếm dụng được vốn của nhà cung cấp. 20
- Xem thêm -