Tài liệu Giải quyết tranh chấp kinh tế giữa các bên liên doanh trong doanh nghiệp liên doanh tại Việt Nam

  • Số trang: 97 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 38 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39907 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT HỒ QUANG HUY PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc Hµ néi - 2007 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT HỒ QUANG HUY PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM Chuyên ngành : Luật dân sự Mã số : 60 38 30 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thúy Hiền Hµ néi - 2007 MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU Chương 1: 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ GIAO 4 DỊCH BẢO BẢO ĐẢM 1.1. Khái niệm và đặc điểm của đăng ký giao dịch bảo đảm 4 1.1.1. Khái niệm về đăng ký giao dịch bảo đảm 4 1.1.2. Đặc điểm của đăng ký giao dịch bảo đảm 7 1.2. Vai trò của đăng ký giao dịch bảo đảm trong nền kinh tế thị trường 11 1.2.1. Đối với bên nhận bảo đảm 11 1.2.2. Đối với bên bảo đảm 12 1.2.3. Đối với bên thứ ba 12 1.2.4. Đối với nền kinh tế - xã hội 13 1.3. Khái quát lịch sử hình thành, phát triển của pháp luật Việt Nam về đăng ký giao dịch bảo đảm 14 1.3.1. Thời kỳ phong kiến 14 1.3.2. Thời kỳ Pháp thuộc 14 1.3.3. Thời kỳ từ năm 1945 đến nay 16 1.3.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975 16 1.3.3.2. Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2000 18 1.3.3.3. Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005 (trước khi Bộ luật dân sự năm 2005 được ban hành) 19 1.3.3.4. Giai đoạn từ năm 2005 đến nay 19 1.4. Một số quan điểm về đăng ký giao dịch bảo đảm trên thế giới 21 1.4.1. Hiệu lực của giao dịch bảo đảm 21 1.4.1.1. Hệ thống Common law 21 1.4.1.2. Hệ thống pháp luật civil law 23 1.4.2. Nguyên tắc đăng ký giao dịch bảo đảm 24 1.4.2.1. Nguyên tắc đăng ký thông báo 24 1.4.1.2. Nguyên tắc đăng ký xác minh 25 1.4.3 Nội dung đăng ký giao dịch bảo đảm 25 1.4.4. Cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm 26 1.4.4.1. Mô hình thứ nhất 26 1.4.5.2. Mô hình thứ hai 27 1.4.5.3. Mô hình thứ ba 28 Chương 2: PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN ĐĂNG KÝ 31 GIAO DỊCH BẢO ĐẢM CỦA VIỆT NAM 2.1. Pháp luật hiện hành về đăng ký giao dịch bảo đảm 31 2.1.1. Những nội dung chủ yếu của pháp luật hiện hành 31 2.1.1.1. Thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm 31 2.1.1.2. Các trường hợp đăng ký giao dịch bảo đảm 33 2.1.1.3. Điều kiện đối với tài sản bảo đảm 40 2.1.1.4. Giá trị pháp lý của việc đăng ký giao dịch bảo đảm 43 2.1.1.5. Nguyên tắc đăng ký giao dịch bảo đảm 47 2.1.1.6. Hồ sơ, thủ tục và thời hạn đăng ký giao dịch bảo đảm 50 2.1.1.7. Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm 52 2.1.1.8. Cung cấp thông tin và giá trị pháp lý của thông tin được cung cấp 54 2.1.1.9. Quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm 55 2.1.2. Một số nhận xét về pháp luật đăng ký giao dịch bảo đảm 56 2.1.3. Nguyên nhân 59 2.2. Khái quát thực tiễn đăng ký giao dịch bảo đảm tại Việt Nam 60 2.2.1. Những kết quả đạt được 60 2.2.1.1. Giao dịch bảo đảm bằng tàu bay 60 2.2.1.2. Giao dịch bảo đảm bằng tàu biển 61 2.2.1.3. Giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất 62 2.2.1.4 Giao dịch bảo đảm bằng động sản (trừ tàu bay, tàu biển) 2.1.1.5. Về ứng dụng tin học 64 66 2.2.2. Một số nhận xét về thực tiễn đăng ký giao dịch bảo đảm 68 2.2.3. Nguyên nhân 69 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 71 VIỆT NAM VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM 3.1. Những yêu cầu cơ bản 71 3.1.1. Pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm phải phù hợp với lý luận khoa học về đăng ký giao dịch bảo đảm 71 3.1.2. Pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam 72 3.1.3. Pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm phải phù hợp với pháp luật Việt Nam và phải gắn với mục tiêu cải cách hành chính, cải cách tư pháp 72 3.1.4. Pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm phải phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế 73 3.1.5. Hoàn thiện pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm phải kết hợp với các giải pháp tổng thể, có tính hệ thống 74 3.2. Giải pháp cụ thể 74 3.2.1. Giải pháp trong thời gian trước mắt 74 3.2.2. Giải pháp lâu dài 80 3.3. Các giải pháp khác 84 KẾT LUẬN 86 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong nền kinh tế thị trường, việc ký kết giao dịch bảo đảm không chỉ đáp ứng lợi ích của người vay và người cho vay vốn, mà còn khuyến khích sự lưu thông của nguồn vốn, giúp thị trường hoạt động hiệu quả, thúc đẩy sản xuất - kinh doanh phát triển. Tuy nhiên, thực tiễn ký kết, thực hiện các giao dịch bảo đảm phát sinh một số vấn đề cần giải quyết, ví dụ như: dùng một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ tại nhiều bên nhận bảo đảm với tính chất lừa đảo hoặc cá nhân, tổ chức mua tài sản cầm cố, thế chấp nhưng không trở thành chủ sở hữu do không ngay tình... Hạn chế thông tin chính thức về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm dẫn đến sự thiếu minh bạch và không an toàn cho thị trường vốn. Ngoài ra, thực tiễn xét xử cho thấy, các tranh chấp về thứ tự ưu tiên thanh toán giữa những người cùng nhận bảo đảm hoặc giữa những người có quyền, lợi ích liên quan đến tài sản bảo đảm phát sinh nhưng chưa có đầy đủ các quy định để giải quyết triệt để, công bằng. Ngoài ra, đến thời điểm hiện nay, rất cần có cách tiếp cận mới về đăng ký giao dịch bảo đảm trước sự vận động mạnh mẽ, quyết liệt của hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm hiện đại trên thế giới. Những hạn chế của hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm ở Việt Nam bắt nguồn trước hết do khoa học pháp lý và các quy định hiện hành về đăng ký giao dịch bảo đảm chưa thực sự đầy đủ, toàn diện. Để khắc phục tình trạng nêu trên, một trong các biện pháp hữu hiệu nhất, đó là nghiên cứu, đánh giá tổng thể và đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm nhằm tối đa hoá thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm, giúp các tổ chức, cá nhân có đủ cơ sở pháp lý để tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời giúp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước, quản lý xã hội. 1 2. Thực trạng nghiên cứu pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm tại Việt Nam Ở nước ta, đến thời điểm hiện nay, mới chỉ có duy nhất công trình nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, với tên đề tài là: "Đăng ký và cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm của Việt Nam - Thực trạng và giải pháp" của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp nghiên cứu về thực trạng đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm của Việt Nam. Đây là một công trình nghiên cứu có chất lượng, với sự tham gia của các chuyên gia trong lĩnh vực đăng ký giao dịch bảo đảm của Bộ Tư pháp. Song, do giác độ nghiên cứu được xác định nên công trình không tập trung phân tích, đánh giá toàn diện, chi tiết về lý luận, cũng như các quy định của pháp luật thực định về đăng ký giao dịch bảo đảm ở Việt Nam. 3. Mục đích nghiên cứu đề tài Việc nghiên cứu đề tài Pháp luật Việt Nam về đăng ký giao dịch bảo đảm nhằm đạt các mục tiêu chủ yếu sau đây: - Làm rõ một số vấn đề lý luận về đăng ký giao dịch bảo đảm, cụ thể như: Khái niệm và các đặc điểm của đăng ký giao dịch bảo đảm; vai trò của đăng ký giao dịch bảo đảm trong nền kinh tế thị trường; lịch sử hình thành, phát triển của pháp luật Việt Nam về đăng ký giao dịch bảo đảm; tham khảo pháp luật của một số nước trong khu vực và trên thế giới về vấn đề này. - Phân tích, đánh giá các quy định hiện hành, trên cơ sở nhìn nhận, đánh giá thực tiễn đăng ký giao dịch bảo đảm ở nước ta để nhận thấy những ưu điểm và đặc biệt là những hạn chế của pháp luật Việt Nam. - Trên cơ sở các nội dung nghiên cứu nêu trên, đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, cũng như các giải pháp tổng thể nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm ở nước ta. 4. Phạm vi nghiên cứu Đăng ký giao dịch bảo đảm là vấn đề còn mới mẻ ở nước ta, bước đầu mới chỉ nhận được sự quan tâm của một bộ phận trong xã hội. Do vậy, trong 2 khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, tôi không thể giải quyết được một cách trọn vẹn tất cả các vấn đề có liên quan tới pháp luật Việt Nam về đăng ký giao dịch bảo đảm. Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản nhất, các quy định pháp luật của Việt Nam về đăng ký giao dịch bảo đảm, đồng thời đề xuất một số giải pháp bước đầu tháo gỡ những bất cập của pháp luật hiện hành và các biện pháp bổ trợ nhằm thúc đẩy sự phát triển của hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm trong thời gian tới. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng đổi mới đồng bộ thể chế kinh tế thị trường của Đảng và Nhà nước ta được trình bày trong các văn kiện, nghị quyết và các văn bản quy phạm pháp luật. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, so sánh, tổng hợp cũng sẽ được sử dụng ở mức độ phù hợp để hoàn thành mục tiêu của đề tài. 6. Những kết quả đạt đƣợc của luận văn Luận văn là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam tập trung nghiên cứu sâu sắc, toàn diện về pháp luật đăng ký giao dịch bảo đảm. Đây chính là đóng góp lớn nhất của Luận văn. Những vấn đề cụ thể về lý luận, cách nhìn nhận, đánh giá luật thực định và thực tiễn, từ đó đưa ra hướng hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này sẽ là những đóng góp có giá trị đối với công tác nghiên cứu khoa học, công tác lập pháp và áp dụng pháp luật của luận văn. 7. Kết cấu của Luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đăng ký giao dịch bảo đảm đảm Chương 2: Pháp luật hiện hành và khái quát thực tiễn đăng ký giao dịch bảo đảm của Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đăng ký giao dịch bảo đảm 3 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM 1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM 1.1.1. Khái niệm về đăng ký giao dịch bảo đảm Trong thời gian qua, Nhà nước đã có nhiều biện pháp nhằm đa dạng hoá các kênh và hình thức động viên nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tếxã hội. Tuy nhiên, để có nguồn vốn bền vững, thì giải pháp cơ bản, lâu dài là phải phát triển và hoàn thiện các công cụ tạo lập vốn thông qua thị trường vốn, với tiêu chí hàng đầu của hoạt động tín dụng là "An toàn - Hiệu quảPhát triển bền vững- Hội nhập quốc tế" [7]. Do vậy, việc hoàn thiện khung pháp lý về đăng ký giao dịch bảo đảm có ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng tín dụng một cách an toàn, hiệu quả. Trong những năm gần đây, trước những yêu cầu của thực tiễn, pháp luật Việt Nam về đăng ký giao dịch bảo đảm ngày càng được hoàn thiện, tạo tiền đề quan trọng để các tổ chức, cá nhân thuận lợi trong việc tiếp cận với các nguồn tín dụng và an toàn pháp lý trong giao dịch dân sự, kinh tế. Mặc dù, pháp luật Việt Nam về đăng ký giao dịch bảo đảm, đặc biệt là đối với động sản đang ngày càng tiếp cận với pháp luật nhiều nước có hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm phát triển, nhưng đến thời điểm hiện nay, từ giác độ pháp luật thực định và khoa học pháp lý, Việt Nam vẫn chưa có một khái niệm chính thức về đăng ký giao dịch bảo đảm. Vậy đăng ký giao dịch bảo đảm được định nghĩa như thế nào? Theo tôi, trước khi xây dựng khái niệm về đăng ký giao dịch bảo đảm, cần xuất phát từ khái niệm "đăng ký". Có rất nhiều định nghĩa về "đăng ký" trong các công trình nghiên cứu và sách tham khảo, ví dụ như: Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, năm 2005 thì "Đăng ký: Ghi vào sổ của cơ quan quản lý" [38, tr. 232]. 4 Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin, năm 1998 thì "Đăng ký: Đứng ra khai báo để được cấp Giấy công nhận về quyền hạn, nghĩa vụ nào đó" [43, tr. 601]. Về vấn đề này, Từ điển Tiếng Việt Nhà xuất bản Khoa học xã hội và Trung tâm Từ điển, năm 1994 có định nghĩa: "Đăng ký: Ghi vào Sổ của cơ quan quản lý để chính thức công nhận cho hưởng quyền lợi hay làm nghĩa vụ" [39, tr. 284]. Từ điển Giải thích thuật ngữ hành chính Nhà xuất bản Lao động, năm 2002 có nêu: "Đăng ký: Thể thức ghi chép vào sổ sách nhà nước đặt ra như: đăng ký kết hôn, đăng ký kinh doanh, đăng ký chứng khoán... Những sự kiện được nghi chép vào sổ là không thể chối cãi được" [38, tr. 232] . Qua các định nghĩa nêu trên, tôi nhận thấy, dù các tác giả nhìn nhận và định nghĩa khác nhau về đăng ký, song vẫn có thể tổng hợp nội hàm của khái niệm đăng ký bao gồm các đặc điểm chủ yếu sau đây: (i) đăng ký là hành vi ghi vào sổ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (ii) đăng ký làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người thực hiện đăng ký và (iii) những thông tin được ghi vào sổ của cơ quan đăng ký có thẩm quyền là chứng cứ khách quan, không thể chối cãi. Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Bách khoa và Nhà Xuất bản Tư pháp, năm 2006 tại trang 235 mặc dù không định nghĩa về đăng ký giao dịch bảo đảm nhưng đã định nghĩa về đăng ký việc cầm cố. Đăng ký việc cầm cố là (cơ quan nhà nước có thẩm quyền) công nhận và chứng thực về phương diện pháp lý quan hệ dân sự được bảo đảm bằng tài sản cầm cố. Đăng ký việc cầm có là thủ tục do pháp luật quy định. Đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì việc dùng tài sản đó cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phải đăng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là thủ tục bắt buộc. Khái niệm trên đã đề cập đến những nội dung như: chủ thể của hành vi đăng ký (cơ quan nhà nước có thẩm quyền), nguyên tắc đăng ký (đăng ký 5 tự nguyện hoặc đăng ký bắt buộc), thủ tục đăng ký do pháp luật quy định. Song, khái niệm về đăng ký việc cầm cố trong Từ điển Luật học chưa thể hiện được hai nội dung đặc biệt quan trọng, khác biệt với đăng ký các sự kiện pháp lý khác (ví dụ: đăng ký phương tiện giao thông cơ giới, đăng ký kết hôn...), đó là: giá trị pháp lý của việc đăng ký và thời điểm có hiệu lực của việc đăng ký cầm cố, vì khoản 3 Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định "trường hợp giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật thì giao dịch bảo đảm đó có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký" [35, tr. 126]. Từ định nghĩa về đăng ký và đăng ký việc cầm cố, trên cơ sở nghiên cứu pháp luật Việt Nam hiện hành và tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia, tôi nhận thấy, khái niệm dưới đây thể hiện rõ nét nhất bản chất và đặc điểm của đăng ký giao dịch bảo đảm: Đăng ký giao dịch bảo đảm là thủ tục pháp lý được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm. Giao dịch bảo đảm đã đăng ký có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký. Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp pháp luật quy định và thông tin về giao dịch bảo đảm được cơ quan đăng ký có thẩm quyền cung cấp là chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm. Đây cũng là chính là khái niệm hiện nhận được sự ủng hộ của nhiều chuyên gia pháp lý. Tuy nhiên, phân loại đăng ký giao dịch bảo đảm thì có 2 loại là: đăng ký thông báo và đăng ký xác minh [26, tr. 262]. Điểm khác biệt căn bản nhất của đăng ký thông báo so với đăng ký xác minh là cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm không kiểm tra tính xác thực của giấy tờ, tài liệu đăng ký và việc đăng ký được thực hiện hoàn toàn trên cơ sở nội dung kê khai của người yêu cầu đăng ký. Hiểu rõ bản chất của đăng ký thông báo và đăng ký xác minh sẽ giúp chúng ta xây dựng được quy phạm pháp luật phù hợp và tương thích để điều chỉnh. 6 1.1.2. Đặc điểm của đăng ký giao dịch bảo đảm Để có được khái niệm chính xác, cũng như để hiểu rõ hơn bản chất của đăng ký giao dịch bảo đảm, tôi phân tích một số đặc điểm chủ yếu của đăng ký giao dịch bảo đảm như sau: Thứ nhất: Việc chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm do đơn vị dịch vụ công thực hiện. Chủ thể có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm chính là các đơn vị dịch vụ công, do nhà nước uỷ quyền thực hiện việc cung cấp dịch vụ cho người dân. Do đó, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm hoạt động theo nguyên tắc tài chính "lấy thu, bù chi" và đa phần các quốc gia đều "tách biệt" hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm với chức năng quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm. Thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm được xác định theo loại tài sản bảo đảm, theo địa giới hành chính - lãnh thổ hoặc theo địa vị pháp lý của bên nhận bảo đảm (tổ chức hoặc cá nhân). Tuỳ thuộc điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội, mỗi quốc gia sẽ quyết định, lựa chọn mô hình cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm phân tán hoặc tập trung, cũng như xác định mức độ tập trung khác nhau. Hiện nay, hệ thống cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm của Việt Nam được tổ chức tương ứng 4 loại tài sản, cụ thể là: (i) quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, (ii) tàu bay, (iii) tàu biển và (iv) động sản khác không phải tàu bay, tàu biển. Thứ hai: Đăng ký giao dịch bảo đảm làm phát sinh hiệu lực pháp lý đối với người thứ ba. Giao dịch bảo đảm được đăng ký làm phát sinh hiệu lực pháp lý đối với người thứ ba. Đây là vấn đề mấu chốt của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm. Để có thể khuyến khích sự phát triển của nguồn tín dụng, pháp luật các nước phải quy định cụ thể, chi tiết vấn đề này. Về nguyên tắc, hợp đồng bảo đảm được ký kết hợp pháp làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa hai bên chủ thể (bên nhận bảo đảm và bên bảo đảm) nhưng không đương nhiên phát sinh hiệu lực pháp lý đối với người thứ ba. Do vậy, để công khai hoá 7 quyền lợi bảo đảm, từ đó làm phát sinh hiệu lực pháp lý đối với người thứ ba, thì hợp đồng bảo đảm phải được đăng ký. Do vậy, một trong những yêu cầu đặt ra đối với pháp luật về giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm của tất cả các quốc gia là phải xác định rõ "người thứ ba" bao gồm những chủ thể nào? Giá trị pháp lý của giao dịch bảo đảm đối với người thứ ba được hiểu như thế nào? Quy định cụ thể, chi tiết về vấn đề này sẽ giải quyết được triệt để về lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo đảm với các chủ thể khác có quyền, lợi ích liên quan đến tài sản bảo đảm. Việc bảo đảm khoản vay bằng tài sản giúp giảm rủi ro và cho doanh nghiệp những điều kiện vay tốt hơn. Tuy nhiên, những lợi ích này có thể bị giảm nếu như các chủ nợ có bảo đảm đã đăng ký không có sự ưu tiên hơn các chủ nợ không có bảo đảm như: cơ quan thuế, người lao động, người mua tài sản và các chủ thể khác.... Khi chủ nợ có bảo đảm đã đăng ký nhận được quyền ưu tiên tuyệt đối trong mối quan hệ với người thứ ba, thì họ sẽ cho vay nhiều hơn[31]. Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng, đăng ký giao dịch bảo đảm chỉ là một trong số các cách thức làm phát sinh hiệu lực pháp lý của giao dịch bảo đảm đối với người thứ ba, vì theo pháp luật về giao dịch bảo đảm hiện đại, thì có hai cách thức làm phát sinh giá trị pháp lý của giao dịch bảo đảm đối với người thứ ba [24, tr. 11], đó là: (i) Bằng cách trực tiếp chiếm hữu, kiểm soát tài sản bảo đảm; (ii) Bằng cách đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm có thẩm quyền. Như vậy, về nguyên tắc, để phát sinh hiệu lực pháp lý với người thứ ba, bên nhận bảo đảm có thể thông qua cơ chế chiếm hữu, kiểm soát trực tiếp tài sản bảo đảm hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm. Lý giải vấn đề này, các chuyên gia pháp luật về giao dịch bảo đảm hiện đại trên thế giới đều cho rằng, chính việc trực tiếp chiếm hữu tài sản bảo đảm đã giúp bên nhận bảo đảm công khai hoá quyền lợi bảo đảm với người thứ ba. Song, hiện nay, pháp luật Việt Nam mới chỉ quy định đăng ký giao dịch bảo đảm là cách thức duy nhất 8 làm phát sinh hiệu lực pháp lý của giao dịch bảo đảm đối với người thứ ba. Ngoài ra, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì việc đăng ký hợp đồng bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tàu bay, tàu biển không chỉ làm phát sinh hiệu lực pháp lý của giao dịch bảo đảm đối với người thứ ba, mà còn là điều kiện bắt buộc làm phát sinh hiệu lực của giao dịch bảo đảm (xem điểm c khoản 1 Điều 10 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, khoản 4 Điều 184 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, khoản 2 Điều 35 Bộ luật Hàng hải Việt Nam và khoản 3 Điều 29 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam). Thứ ba: Đăng ký giao dịch bảo đảm có thể là bắt buộc hoặc tự nguyện, theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện tự nguyện hay bắt buộc là do quan điểm lập pháp của mỗi quốc gia (ví dụ: Hàn Quốc, Cộng hoà Pháp, Cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa, Liên bang Nga quy định đăng ký thế chấp bất động sản là nghĩa vụ bắt buộc, CHLB Đức Mỹ, New Zealand, Canada... quy định đăng ký thế chấp bất động sản không phải là nghĩa vụ bắt buộc, mà do các bên tự nguyện) [16, tr. 5]. Về vấn đề này, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì các trường hợp phải đăng ký giao dịch bảo đảm bao gồm: thế chấp quyền sử dụng đất, thế chấp quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, thế chấp tàu bay, tàu biển và thế chấp một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ. Đối với các giao dịch bảo đảm không thuộc các trường hợp nêu trên, thì việc đăng ký được thực hiện theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân [6]. Tuy nhiên, dù được đăng ký bắt buộc hay tự nguyện, thì đều có chung hậu quả pháp lý là chỉ khi đăng ký thì giao dịch bảo đảm mới có giá trị pháp lý đối với người thứ ba. Việc đăng ký phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Theo khuyến cáo của các chuyên gia quốc tế thì một hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm hiện đại phải giúp các tổ chức, cá nhân "dễ dàng thiết lập quyền lợi về bảo đảm (quyền đối với tài sản bảo đảm)" thông qua các cải cách về pháp luật như: rút ngắn thời gian thực hiện đăng ký, đa dạng hóa cách thức đăng ký, đơn giản hoá thông tin trên Đơn yêu cầu đăng ký..." [24]. 9 Thứ tư: Thông tin về giao dịch bảo đảm được đăng ký phải được cung cấp cho mọi tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm hiểu. Cung cấp thông tin là mục tiêu quan trọng của tất cả các hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm trên thế giới. Do vậy, thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm đã đăng ký tại các cơ quan có thẩm quyền đều được lưu giữ và cung cấp công khai cho các tổ chức, cá nhân có yêu cầu. Pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm của các nước khẳng định quyền được tiếp cận thông tin về giao dịch bảo đảm của các tổ chức, cá nhân khi xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản bảo đảm. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động cho vay có bảo đảm ngày một mở rộng hơn về hình thức và mức độ. Đồng thời, nhu cầu bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên khi tham gia giao dịch cũng ngày càng tăng. Trong bối cảnh đó, việc công khai, minh bạch hoá thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản đặc biệt có ý nghĩa, góp phần lành mạnh thị trường tài chính - tiền tệ, ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tín dụng, cũng như các tác động tiêu cực đối với sự ổn định, phát triển của môi trường đầu tư. Hiện nay, nhiều quốc gia đang hướng đến mục tiêu xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin về giao dịch bảo đảm tập trung, thống nhất, vì đó là một trong những đặc điểm quan trọng của hệ thống giao dịch bảo đảm hiện đại [29]. Một bộ máy công bố thông tin có hiệu quả cần phải biểu hiện qua một hệ thống đăng ký tập trung hóa phục vụ cho mọi loại tài sản bảo đảm, đòi hỏi thông tin đăng ký tối thiểu (có thể chỉ cần nội dung nhận dạng bên nợ và chủ nợ và mô tả khái quát hoặc cụ thể tài sản bảo đảm), mà không cần kèm theo tài liệu xuất xứ của sự việc, ngăn cấm việc rà soát về khía cạnh nội dung của cán bộ đăng ký, đem lại khả năng tiếp cận thông tin một cách rộng rãi và trong chừng mực có thể, sử dụng hệ thống điện tử cho phép đăng ký, truy nhập thông tin nhanh chóng [23, tr. 11]. Pháp luật Việt Nam đã khẳng định mục tiêu xây dựng hệ thống thông tin tập trung, thống nhất về giao dịch bảo đảm từ năm 2000 với quy định tại 10 Điều 16 Nghị định số 08/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/3/2000 về đăng ký giao dịch bảo đảm, cụ thể là: Các giao dịch bảo đảm đối với động sản, tàu biển, tàu bay, quyền sử dụng đất, bất động sản gắn liền với đất được lưu giữ trong "Hệ thống dữ liệu quốc gia các giao dịch bảo đảm" theo tên của bên bảo đảm (sau đây gọi là Hệ thống dữ liệu). Hệ thống dữ liệu là cơ sở dữ liệu thống nhất toàn quốc và do cơ quan đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thống nhất quản lý [3]. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, chúng ta vẫn chưa hiện thực hoá được mục tiêu này. 1.2. VAI TRÒ CỦA ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1.2.1. Đối với bên nhận bảo đảm Đăng ký giao dịch bảo đảm là một trong những cách thức để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên nhận bảo đảm. Về nguyên tắc, việc đăng ký giao dịch bảo đảm mang ý nghĩa "giao dịch bảo đảm được đăng ký coi như được mọi người nhận biết" [22, tr. 34]. Pháp luật về giao dịch bảo đảm của các nước đều thừa nhận giao dịch bảo đảm được đăng ký mang ý nghĩa công bố quyền lợi của bên nhận bảo đảm với người thứ ba và tất cả những ai (người thứ ba) xác lập giao dịch liên quan đến tài sản bảo đảm đều buộc phải biết về sự hiện hữu của các quyền liên quan đến tài sản bảo đảm đã được đăng ký. Ngoài quyền truy đòi tài sản bảo đảm, việc đăng ký giao dịch bảo đảm còn giúp cho bên nhận bảo đảm có được thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm so với các chủ nợ khác. Trong trường hợp một tài sản bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, thì khi xử lý tài sản đó, thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên nhận bảo đảm được xác định căn cứ theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm. Về nguyên tắc "ai đăng ký trước hoặc hoàn thiện lợi ích bảo đảm trước thì được ưu tiên trước". Điều này có nghĩa, bên nhận bảo đảm đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc hoàn thiện lợi ích bảo đảm (nắm giữ tài sản 11 bảo đảm) sẽ được ưu tiên thanh toán trước. Như vậy, thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm là một trong những cách thức để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên nhận bảo đảm với nhau. 1.2.2. Đối với bên bảo đảm Một trong những yêu cầu đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội là việc dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không được ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của bên bảo đảm. Điều này có nghĩa, bên bảo đảm vẫn giữ tài sản bảo đảm và tiếp tục khai thác, sử dụng tài sản nhằm phục vụ mục đích sản xuất, kinh doanh của mình. Đặc điểm này vô cùng quan trọng trong nền tài chính hiện đại, vì thương gia buộc phải có hàng trong tay thì mới có thể giới thiệu, tiếp thị hàng được, nhà thầu phải sử dụng thiết bị mới có thể thực hiện hợp đồng và một nhà nông phải có máy móc để gieo trồng và thu hoạch mùa màng... Thông qua cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm, bên bảo đảm vừa đạt được mục đích dùng tài sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, vừa duy trì được hoạt động sản xuất - kinh doanh của mình. Chính nguồn lợi thu được từ việc khai thác tài sản bảo đảm sẽ giúp bên nhận bảo đảm từng bước thu hồi vốn, tái đầu tư và thanh toán được nợ cho bên nhận bảo đảm. Do vậy, nếu phải giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm hoặc người thứ ba giữ, thì mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh của bên bảo đảm bị ngưng trệ. Điều này đi ngược lại với mục đích của giao dịch bảo đảm hiện đại, đó là vừa giúp các giao dịch được an toàn, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. 1.2.3. Đối với bên thứ ba Trong nhiều trường hợp, do thiếu thông tin nên bên thứ ba có thể dễ dàng cho rằng tài sản vẫn chưa được dùng để bảo đảm cho bất kỳ một nghĩa vụ nào trên thực tế. Vậy làm thế nào để bên thứ ba (ví dụ: bên cho vay tiếp theo hoặc bên mua tài sản) có thể xác định để biết được liệu còn có ai đó có quyền lợi liên quan đến một tài sản cụ thể nào đó hay không? Việc công khai hóa thông tin về giao dịch bảo đảm được đăng ký là một giải pháp, cụ thể là bên thứ ba có thể tìm hiểu thông tin tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm để 12 biết được những giao dịch bảo đảm liên quan đến tài sản bảo đảm đã tồn tại từ trước, vì những thông tin về giao dịch bảo đảm được lưu giữ, công bố rộng rãi. Nhờ đó, rủi ro pháp lý trong giao dịch sẽ giảm thiểu, nhất là trong trường hợp tài sản bảo đảm vẫn do bên bảo đảm chiếm giữ, khai thác. Công khai thông tin về giao dịch bảo đảm là mục tiêu quan trọng hàng đầu của hệ thống giao dịch bảo đảm hiện đại, vì nhờ đó sẽ giúp các chủ nợ đánh giá và phòng ngừa rủi ro. Thông tin được cung cấp giúp nhận biết được sự tồn tại các quyền của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm, đặc biệt trường hợp động sản là đối tượng của giao dịch và người cần biết ở đây chính là người có ý định xác lập giao dịch đối với tài sản bảo đảm (ví dụ: người mua, người thuê, người nhận bảo đảm tiếp theo...). Hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm sẽ giúp các tổ chức, cá nhân đạt được mục đích đó thông qua những thông tin được cung cấp công khai theo yêu cầu. 1.2.4. Đối với nền kinh tế - xã hội Nền kinh tế - xã hội phát triển đòi hỏi hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm phải thực sự hiện đại, khoa học. Khi giao dịch bảo đảm được đăng ký chính xác, thuận lợi với chi phí đăng ký hợp lý thì chi phí giao dịch (gồm chi phí về thời gian, công sức, tiền của...) trong xã hội sẽ ở mức thấp, nhờ đó, tính cạnh tranh của nền kinh tế sẽ tăng cao. Mặt khác, nếu giao dịch bảo đảm được đăng ký và công khai hoá, thì sẽ hạn chế được những tranh chấp phát sinh trong cuộc sống do các tổ chức, cá nhân dễ dàng tiếp cận với thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm trước khi ký kết, thực hiện các giao dịch có liên quan đến tài sản đó. Bên cạnh đó, thông qua hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm, Nhà nước sẽ có được những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình hoạch định các chính sách mang tính vĩ mô, đặc biệt liên quan trực tiếp đến chính sách bảo đảm an toàn tín dụng. Hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm được vận hành hiệu quả sẽ khuyến khích hoạt động cho vay phục vụ nhu cầu vốn trong xã hội, nhờ đó nguồn vốn trong xã hội sẽ được luân chuyển liên tục, khắc phục tình trạng khan hiếm vốn và sự mất cân đối về nhu cầu vốn giữa các thành phần kinh tế. 13 Với những ý nghĩa nêu trên, có thể khẳng định, việc công khai hoá các giao dịch bảo đảm là cần thiết. Do vậy, "pháp luật cần quy định hình thức công khai hoá phù hợp để tiết kiệm thời gian và chi phí, đồng thời tạo ra được công cụ pháp lý để bảo vệ quyền lợi của các bên và của cá nhân, tổ chức có liên quan, ngăn ngừa các tranh chấp có thể phát sinh, trong đó đăng ký là một chế định phổ biến" [26, tr. 259]. 1.3. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM 1.3.1. Thời kỳ phong kiến Nghiên cứu lịch sử pháp luật Việt Nam, tôi nhận thấy ngay từ thời phong kiến, trong các cổ luật đã có những quy định về giao dịch bảo đảm bằng bất động sản (đất đai) và các tài sản là động sản có giá trị, ví dụ: Điều 384 Bộ luật Hồng Đức quy định về điển mại (cầm cố) ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân [36, tr. 28] hoặc Sắc dụ năm Minh Mạng thứ 20 quy định về điển mại (cầm cố) ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân hoặc Sắc dụ năm Tự Đức thứ 32 quy định về việc cầm cố vải vóc, áo quần hay bát đĩa, mâm nồi bằng đồng [26, tr. 47]... Song, trong cổ luật Việt Nam chưa có quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm, cho dù chỉ ở dạng sơ khai nhất. 1.3.2. Thời kỳ Pháp thuộc Trong thời kỳ Pháp thuộc, Việt Nam bị chia thành Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Nam Kỳ là đất thuộc địa của Pháp, người dân ở đây được coi là dân thuộc địa Pháp và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Pháp. Bắc Kỳ và Trung Kỳ là đất bảo hộ, người dân ở đây thuộc dân An Nam và chịu sự điều chỉnh của pháp luật An Nam [30, tr. 13]. Ở Nam kỳ, năm 1883, Tổng thống Pháp ký sắc lệnh ban hành Bộ Dân luật giản yếu áp dụng cho các tỉnh Nam Kỳ. Thực chất, Bộ Dân luật giản yếu Nam kỳ đã sao chép một cách máy móc Bộ luật dân sự Napoleon của Pháp, do vậy đó là "một bộ luật có tính cách cá nhân rõ rệt, khác hẳn tinh thần pháp luật truyền thống Việt Nam" [30, tr. 11]. Vì vậy, Bộ luật này không phản 14
- Xem thêm -