Tài liệu Giá trị pháp lý của văn bản công chứng luận văn ths. luật

  • Số trang: 102 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 861 |
  • Lượt tải: 14
tailieuonline

Đã đăng 39837 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐỖ ĐỨC HIỂN GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA VĂN BẢN CÔNG CHỨNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2013 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐỖ ĐỨC HIỂN GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA VĂN BẢN CÔNG CHỨNG Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự Mã số : 60 38 01 03 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Minh Mẫn HÀ NỘI - 2013 2 Lêi cam ®oan T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu khoa häc cña riªng t«i. C¸c sè liÖu, vÝ dô vµ trÝch dÉn trong luËn v¨n ®¶m b¶o ®é tin cËy, chÝnh x¸c vµ trung thùc. Nh÷ng kÕt luËn khoa häc cña luËn v¨n ch-a tõng ®-îc ai c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nµo kh¸c. T¸c gi¶ luËn v¨n §ç §øc HiÓn 3 MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU Chương 1: 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG CHỨNG, VĂN 7 BẢN CÔNG CHỨNG 1.1. Nguồn gốc, khái niệm và đặc điểm của công chứng 7 1.1.1. Nguồn gốc và các hệ thống công chứng trên thế giới 7 1.1.2. Khái niệm công chứng 15 1.1.3. Đặc điểm công chứng 23 1.2. Khái niệm và đặc điểm của văn bản công chứng 27 1.2.1. Khái niệm văn bản công chứng 27 1.2.2. Đặc điểm của văn bản công chứng 31 Chương 2: GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA VĂN BẢN CÔNG CHỨNG VÀ 38 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA VĂN BẢN CÔNG CHỨNG 2.1. Một số vấn đề chung về giá trị pháp lý của văn bản công chứng 38 2.1.1. Giá trị chứng cứ không phải chứng minh của văn bản công chứng 38 2.1.2. Về giá trị thi hành của văn bản công chứng 43 2.2. 46 Sự hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về giá trị pháp lý của văn bản công chứng 2.2.1. Về giá trị pháp lý của văn bản công chứng trong các văn bản 46 pháp luật ở giai đoạn trước khi Luật Công chứng được ban hành 2.2.2. Về giá trị pháp lý của văn bản công chứng trong Luật Công 50 chứng và các văn bản có liên quan 2.3. Một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và thực tiễn 55 bảo đảm giá trị pháp lý của bản công chứng 2.3.1. Nhận thức về công chứng 55 4 2.3.2. Về quy định pháp luật về giá trị pháp lý của văn bản công chứng 56 2.3.3. Về cơ chế, thủ tục bảo đảm thực thi quy định về giá trị thi 61 hành của văn bản công chứng 2.3.4. Về một số quy định pháp luật có liên quan tác động tới giá trị 64 pháp lý của văn bản công chứng Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY 73 ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA VĂN BẢN CÔNG CHỨNG 3.1. Định hướng chung 73 3.2. Về các giải pháp hoàn thiện pháp luật về giá trị văn bản công chứng 78 3.2.1. Nâng cao nhận thức về công chứng 78 3.2.2. Về hoàn thiện quy định của Luật Công chứng về giá trị văn 80 bản công chứng 3.2.3. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo đảm giá trị thi hành của 83 văn bản công chứng 3.2.4. Về các vấn đề có liên quan, tác động đến giá trị pháp lý của 85 văn bản công chứng KẾT LUẬN 90 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 5 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong nền kinh tế thị trường, các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại luôn có xu hướng gia tăng cả về số lượng và tính phức tạp. Cùng với đó, do nhiều nguyên nhân khác nhau, nguy cơ xảy ra tranh chấp trong các giao dịch này cũng ngày một gia tăng. Khi đã xảy ra tranh chấp, một loạt các vấn đề phát sinh mà hậu quả của nó chính là việc làm mất thời gian, chi phí, gây tổn hại đến uy tín, danh dự của tổ chức cá nhân tham gia giao kết, đồng thời gây mất ổn định trong xã hội. Chính vì thế, nhu cầu hình thành và phát triển một thiết chế pháp luật tích cực để có thể phòng ngừa, ngăn chặn tranh chấp phát sinh trong giao lưu dân sự, kinh tế và thương mại như đã nêu trên là một đòi hỏi khách quan. Ở nhiều nước trên thế giới, nhất là những nước theo hệ thống dân luật, từ lâu đã tồn tại một thiết chế pháp luật cho phép phòng ngừa các tranh chấp một cách tích cực, chủ động và hiệu quả. Đó là thiết chế công chứng. Với chức năng tham gia vào quá trình thỏa thuận, giao kết các hợp đồng, giao dịch, công chứng viên có trách nhiệm giúp các bên tham gia giao kết thể hiện ý chí của mình một cách vô tư, khách quan, đúng pháp luật, giải quyết các xung đột về mặt lợi ích giữa các chủ thể này, qua đó loại bỏ những nguyên nhân gây ra tranh chấp. Việc tham gia vào quá trình giao kết hợp đồng của công chứng viên như đã nêu trên có thể được thực hiện theo nhiều phương thức khác nhau nhưng kết quả cuối cùng của quá trình đó được thể hiện dưới một hình thức chung nhất là những hợp đồng, giao dịch đã được công chứng hay còn gọi là văn bản công chứng. Tùy theo truyền thống pháp lý và điều kiện thực tế của mỗi quốc gia, văn bản công chứng được thể hiện theo những kết cấu và nội dung khác nhau; 6 được pháp luật thừa nhận với những giá trị pháp lý cũng tương đối đa dạng. Nhưng nhìn chung, việc quy định về văn bản công chứng và xác định giá trị pháp lý của loại văn bản này luôn được coi là một trong những vấn đề mang tính cốt lõi trong pháp luật về công chứng, bởi trước hết nó quyết định lý do tồn tại của chính thiết chế công chứng trong đời sống xã hội, pháp lý của mỗi nước và sau đó là quyết định các vấn đề khác có liên quan như trình tự, thủ tục công chứng, tiêu chuẩn, trình độ công chứng viên... Ở nước ta, mặc dù có thời gian hình thành và phát triển chưa dài nhưng có thể thấy được vai trò của thiết chế công chứng được thể hiện ở nhiều mặt, nhiều lĩnh vực. Cùng với việc hoàn thiện pháp luật về công chứng, các quy định của pháp luật về giá trị pháp lý của văn bản công chứng cũng từng bước được bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp. Nếu như tại Nghị định số 45/HĐBT ngày 7/2/1991 (văn bản pháp lý đầu tiên quy định về công chứng) mới chỉ quy định "các hợp đồng và giấy tờ được công chứng có giá trị chứng cứ" thì đến Luật Công chứng năm 2006, các quy định về văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng đã được quy định một cách tương đối khái quát, rõ ràng và đầy đủ hơn, với hai giá trị cơ bản đó là giá trị chứng cứ và hiệu lực thi hành. Có thể nói, với quy định này, Luật Công chứng đã đi tiếp một bước trong việc đưa công chứng nước ta tiến gần hơn với thông lệ của công chứng Latinh trên thế giới, thể hiện vai trò của công chứng với chức năng bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch, phòng ngừa tranh chấp, đồng thời hạn chế nhiều vụ kiện tại tòa án. Bên cạnh Luật Công chứng, nhiều văn bản quy phạm pháp luật hiện hành cũng có những quy định liên quan đến giá trị pháp lý của văn bản công chứng như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở... Tuy nhiên, qua thực tiễn cho thấy quy định về giá trị pháp lý của văn bản công chứng trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay còn chưa đầy đủ, mang tính hình thức, chưa có cơ chế để thực hiện trên thực tế (nhất là vấn 7 đề về hiệu lực thi hành). Bên cạnh đó, một số quy định còn chưa rõ hoặc có nội dung chồng chéo, thậm chí vô hiệu hóa nhau dẫn đến tình trạng nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân chưa nhận thức đúng, đầy đủ và thực sự tôn trọng. Chính điều này cũng làm ảnh hưởng đến vị trí, vai trò của công chứng trong đời sống xã hội nhất là trong điều kiện đẩy mạnh cải cách tư pháp, cải cách hành chính phục vụ việc xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay. Do đó, việc nghiên cứu về giá trị pháp lý của văn bản công chứng để từ đó làm cơ sở tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này cũng như những quy định của các quy định của pháp luật có liên quan là một nhu cầu cấp thiết. Thực tiễn công tác tại Bộ Tư pháp - cơ quan chịu trách nhiệm giúp Chính phủ quản lý nhà nước về công chứng cũng là lý do giúp tác giả lựa chọn đề tài "Giá trị pháp lý của văn bản công chứng" làm đề tài nghiên cứu của luận văn thạc sĩ Luật học. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Với tư cách là một thiết chế bổ trợ tư pháp, tuy có thời gian hình thành và phát triển chưa dài song với vai trò và những đóng góp quan trọng của công chứng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thời gian qua đã có nhiều bài viết, đề tài nghiên cứu về thiết chế này như: "Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện tổ chức và hoạt động công chứng ở Việt Nam", đề tài cấp Bộ, mã số 92-98-224, Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý, 1993; "Một số vấn đề về công chứng giao dịch tài sản ở Việt Nam", Luận văn Thạc sĩ Luật học của Đỗ Xuân Hòa; "Công chứng nhà nước những vấn đề lý luận và thực tiễn ở nước ta", Luận văn Thạc sĩ Luật học của Trần Ngọc Nga; "Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay", Luận án Tiến sĩ Luật học của Đặng Văn Khanh; "Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân trong lĩnh vực thực hiện các việc công chứng", Luận văn Thạc sĩ Luật học của Lê Thị Thúy; "Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở 8 nước ta hiện nay", Luận án Tiến sĩ Luật học của Dương Khánh; "Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay", Luận văn thạc sĩ luật học của Lê Thị Phương Hoa; "Công chứng Việt Nam trong nền kinh tế thị trường theo mô hình công chứng Latinh", Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Văn Toàn; "Một số ý kiến về đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan công chứng" của tác giả Lê Khả đăng trên báo Pháp luật, ngày 18/2/2003; "Công chứng, chứng thực trong điều kiện cải cách hành chính và cải cách tư pháp" của tác giả Trần Thất, đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 6/2004; "Công chứng, chứng thực ở Việt Nam - Thực trạng và định hướng phát triển" của tác giả Phạm Văn Lợi, đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 7/2002... Các công trình nghiên cứu nói trên ở những góc độ nhất định đều có sự tìm hiểu về khái niệm, kết cấu văn bản công chứng, giá trị pháp lý của loại văn bản này..., đồng thời cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định có liên quan. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đây mới chỉ mang tính chất nghiên cứu các vấn đề chung, chưa đi sâu phân tích về bản chất, đạo lý của việc quy định giá trị pháp lý của văn bản công chứng, cũng như chưa đề xuất được cơ chế hữu hiệu để bảo đảm cho giá trị của văn bản công chứng trên thực tế. Với tinh thần nghiên cứu, học hỏi một cách nghiêm túc, kế thừa những quan điểm tư tưởng tiến bộ của các công trình nghiên cứu trên, luận văn "Giá trị pháp lý của văn bản công chứng" bên cạnh việc phân tích về mặt lý luận về công chứng, văn bản công chứng, giá trị pháp lý của văn bản công chứng, luận văn đề cập sâu về thực trạng quy định của pháp luật của loại văn bản này, về kinh nghiệm của một số nước trong việc hình thành cơ chế, phương thức bảo đảm giá trị của loại văn bản này trên thực tế và những điểm tương đồng, khác biệt với hệ thống công chứng của Việt Nam, qua đó mong muốn cung cấp thêm một cách nhìn toàn diện hơn về giá trị pháp lý của văn bản công chứng trong xu thế phát triển của loại hình dịch vụ công này và kiến 9 nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và các biện pháp bảo đảm đối với giá trị của văn bản công chứng. 3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng, trong đó tập trung vào một số nội dung chủ yếu như: xác định rõ khái niệm công chứng, văn bản công chứng; hình thức, yêu cầu về bố cục và những nội dung cơ bản của văn bản công chứng; làm rõ nội hàm giá trị chứng cứ không phải chứng minh và hiệu lực thi hành của văn bản công chứng; đề xuất quan điểm, định hướng nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về văn bản công chứng, giá trị pháp lý của văn bản công chứng, đồng thời xây dựng cơ chế bảo đảm các quy định của pháp luật về hiệu lực thi hành của văn bản công chứng... Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật trong nước, pháp luật nước ngoài (bao gồm cả những nước theo hệ thống dân luật và những nước theo hệ thống thông luật) có liên quan đến công chứng, văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng với tính chất của một văn bản xác thực (văn bản công). Tuy chưa đi sâu chi tiết phân tích về pháp luật của nhiều quốc gia, nhưng với phạm vi nghiên cứu mở rộng ngoài lãnh thổ quốc gia Việt Nam, luận văn đã khái quát một cách chung nhất về tình hình pháp luật điều chỉnh cũng như thực tiễn áp dụng các quy định về giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở Việt Nam hiện nay. 4. Phương pháp nghiên cứu Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, sử dụng kết hợp hoặc riêng lẻ nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như phương pháp so sánh, thống kê, tổng hợp và kỹ năng phân tích... qua đó làm sáng tỏ các nội dung liên quan đến văn bản công chứng, giá trị pháp lý của văn bản công chứng và đưa ra những nhận định, kết luận có liên quan. 10 5. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề chung về công chứng, văn bản công chứng. Chương 2: Giá trị pháp lý của văn bản công chứng và thực trạng pháp luật Việt Nam về giá trị pháp lý của văn bản công chứng. Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về giá trị pháp lý của văn bản công chứng. 11 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG CHỨNG, VĂN BẢN CÔNG CHỨNG 1.1. NGUỒN GỐC, KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG CHỨNG 1.1.1. Nguồn gốc và các hệ thống công chứng trên thế giới a) Nguồn gốc công chứng Nguồn gốc của hoạt động công chứng được tìm thấy trong văn hóa La mã cổ đại, bắt đầu từ hoạt động của các Tabellion [66]. Xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ thứ 2 và thế kỷ thứ 3 sau công nguyên, Tabellion là tập hợp một nhóm người luôn góp mặt trong những công việc kinh doanh thông qua việc soạn thảo văn bản giúp các chủ thể tham gia giao dịch thể hiện ý chí của mình đúng hình thức và phát sinh hiệu lực. Qua thời gian, hoạt động của những Tabellion dần trở nên phổ biến và phát triển thành nghề. Nhờ những kiến thức và kỹ năng của mình, những người làm nghề này dần đóng một vai trò quan trọng trong cả những giao dịch công và tư, đồng thời được đế chế La Mã thừa nhận dưới chức danh Notarii. Trong số các notarii đó, một số người trở thành những chức sắc gắn liền với Viện nguyên lão La Mã và Tòa án với nhiệm vụ ghi chép diễn biến của phiên xét xử cũng như những sắc lệnh. Một số khác lại hành nghề chủ yếu liên quan tới những vấn đề pháp lý mang tính chất tư như hợp đồng, di chúc… nhưng những văn bản do họ soạn thảo được thừa nhận như những văn bản công (văn bản do các cơ quan nhà nước và tòa án ban hành bao gồm quyết định của cơ quan nhà nước hoặc bản án có hiệu lực pháp luật). Trải qua nhiều diễn biến thăng trầm của lịch sử, phù hợp với những nền văn hóa pháp lý khác nhau, hoạt động công chứng có những bước phát triển mang màu sắc riêng. Hiện nay trên thế giới, phù hợp với hai hệ thống pháp luật chủ yếu (hệ thống dân luật - civil law system và hệ thống thông luật - 12 common law system) tồn tại và phát triển hai hệ thống công chứng, đó là hệ thống công chứng dân luật (civil law notary, hay còn gọi là công chứng latinh) và hệ thống công chứng thông luật (common law notary, hay còn gọi là hệ thống công chứng Anglo - Saxon). Bên cạnh hai trường phái công chứng chủ yếu nêu trên, trên thế giới cũng tồn tại một hệ thống công chứng mà ở đó công chứng được coi như một hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức công chứng là cơ quan nhà nước, công chứng viên là công chức nhà nước. Hệ thống công chứng này được biết đến với tên gọi hệ thống công chứng Collectiviste. Như vậy có thể thấy rằng, xét về mặt nguồn gốc, hoạt động công chứng là hoạt động của xã hội, với vai trò "làm chứng" của xã hội (cộng đồng) đối với các giao dịch, các khế ước nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch, khách quan, đề phòng sự tranh chấp. Ở giai đoạn đầu, công chứng chính là nhu cầu tự nhiên, tự bảo vệ của dân chúng khi họ tham gia các hợp đồng, giao dịch chứ chưa phải nhu cầu của quản lý nhà nước và là một hoạt động mang tính xã hội sâu sắc. Mặt khác, với vai trò chủ yếu là hỗ trợ công dân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức trong các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại; phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật; hỗ trợ quản lý nhà nước, góp phần đảm bảo ổn định trật tự xã hội, thúc đẩy các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại phát triển và hỗ trợ tư pháp thông qua việc cung cấp chứng cứ cho hoạt động xét xử, công chứng là một nghề có tính chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa phục vụ cho lợi ích chung của xã hội, cộng đồng. Với vai trò quan trọng như trên, công chứng đã trở thành đối tượng quản lý của Nhà nước. Thậm chí, ở một số quốc gia, trong những điều kiện lịch sử nhất định, công chứng còn trở thành một hoạt động thuộc chức năng xã hội của Nhà nước (chức năng cung ứng dịch vụ công). b) Các hệ thống công chứng trên thế giới - Hệ thống công chứng Latinh Hệ thống công chứng Latinh được xây dựng trên cơ sở hệ thống luật thành văn (dân luật), nơi mà các đạo luật là nguồn cơ bản của pháp luật, vai 13 trò của thẩm phán là đảm bảo sự áp dụng pháp luật; án lệ chỉ có vai trò phụ trợ cho đạo luật, giải thích hoặc góp phần hoàn thiện luật. Các nước trong hệ thống pháp luật công chứng Latinh điển hình là: Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Tây Ban Nha, Italia, Bồ Đào Nha, Liên bang Nga, Argentina, Mexico, Paragoay, Urugoay, Thổ Nhĩ Kỹ, Nhật Bản... Đây là hệ thống pháp luật công chứng rất mạnh, ngay từ những năm 1948, những người hành nghề công chứng của các nước này đã tập hợp lại xung quanh một tổ chức quốc tế của mình là Liên minh công chứng Latinh quốc tế (UINL). Tại các nước trong hệ thống công chứng Latinh, nhà nước thừa nhận thể chế công chứng chuyên nghiệp, đề ra các quy định pháp lý để tổ chức và quản lý thiết chế công chứng một cách chặt chẽ. pháp luật quy định về cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý công chứng được ban hành ở mỗi nước trong hệ thống công chứng Latinh tuy có tên gọi khác nhau nhưng đều nhằm mục đích quản lý, theo dõi, đánh giá hoạt động công chứng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, phẩm chất đạo đức của công chứng viên hoặc giải quyết về thẩm quyền giữa các công chứng viên. Theo hệ thống công chứng Latinh, công chứng viên được nhà nước bổ nhiệm, trao cho quyền lực và cho phép sử dụng con dấu riêng có hình quốc huy có khắc tên Công chứng viên để hành nghề công chứng, nghề công chứng được coi là hoạt động mang tính dịch vụ công. Phạm vi hoạt động của công chứng thường bao gồm các hợp đồng, giao dịch về bất động sản, thừa kế và các thỏa thuận về tài sản trong hôn nhân gia đình. Một số nước còn giao thêm nhiệm vụ cho công chứng viên như ở Pháp là thu thuế, ở Đức là chứng nhận đăng ký dinh doanh. Đặc điểm nổi bật tạo nên sự khác biệt của hệ thống pháp luật công chứng Latinh so với hệ thống pháp luật công chứng Anglo-Sacxon là Công chứng viên phải chịu trách nhiệm về nội dung, về tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng giao dịch mà mình chứng nhận, vì vậy hệ thống pháp luật công chứng Latinh còn được gọi là hệ thống pháp luật công chứng nội dung. Theo quy định của pháp luật trong hệ thống pháp luật công chứng Latinh, công chứng 14 viên giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm trật tự pháp lý, đó là vai trò bổ trợ tư pháp như một thẩm phán về hợp đồng, nhằm phòng ngừa tranh chấp. Trách nhiệm của Công chứng viên là giúp cho các chủ thể tham gia hợp đồng giao dịch lựa chọn và định đoạt tài sản của mình một cách hợp lý nhất, đồng thời có nghĩa vụ tư vấn cho các chủ thể tham gia hợp đồng giao dịch một cách vô tư, không thiên vị, lưu ý họ về phạm vi, các hệ quả, rủi ro mà hợp đồng có thể đặt ra để bảo vệ quyền lợi của các bên. Với nghĩa vụ này, Công chứng viên không chỉ là người chứng nhận ý chí của các bên khi giao kết hợp đồng, mà còn có nghĩa vụ giúp các bên thể hiện ý chí trong hợp đồng, lựa chọn các thể thức giao kết hợp đồng phù hợp, tùy thuộc vào mục đích của hợp đồng, vào pháp luật áp dụng cho loại hợp đồng đó và thông tin cho các bên biết về những hệ quả pháp lý mà hợp đồng đặt ra. Công chứng viên có nhiệm vụ hòa giải sự bất đồng quan điểm của các chủ thể tham gia hợp đồng giao dịch trong quá trình lập hợp đồng, để đảm bảo sự công bằng trong giao kết hợp đồng, tôn trọng quyền lợi chính đáng của các chủ thể. Do vậy, công chứng viên thực sự giữ vai trò trọng tài và trung gian hòa giải giữa các chủ thể tham gia hợp đồng giao dịch, nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên, giúp cho các bên tìm được tiếng nói chung, sớm đạt được sự thống nhất, tránh xảy ra tranh chấp hợp đồng sau này. Như vậy, theo quy định của pháp luật hoặc theo sự tự nguyện của khách hàng, công chứng viên đem lại cho các hợp đồng, giao dịch một tính đích thực, có giá trị như văn bản của các cơ quan công quyền khác cấp, đảm bảo cho các hợp đồng, giao dịch được công chứng sự an toàn pháp lý trong mọi tình huống, hạn chế được đến mức thấp nhất những tranh chấp dân sự, làm giảm bớt gánh nặng về xét xử cho cơ quan tòa án. Công chứng viên không chỉ là người tinh thông về pháp luật mà còn phải có đạo đức tốt, thể hiện ở chỗ họ không những cần có lòng trung thực mà còn cần phải có thái độ công minh, vô tư, sự tôn trọng triệt để các bí mật được biết, lòng can đảm để dám chịu trách nhiệm khi đặt bút ký và đóng dấu vào hợp đồng. Tuy nhiên, do yêu cầu phải thận trọng, chính xác, trung thực nên hệ thống pháp luật công chứng Latinh đã đặt ra rất nhiều thủ tục và trình tự chặt 15 chẽ cần phải tiến hành khi thực hiện việc công chứng, điều đó thường dẫn đến việc kéo dài thời gian giải quyết một việc công chứng. Hệ thống pháp luật công chứng Latinh cũng thiếu tính thực dụng và mềm dẻo đối với những giao dịch mà chủ thể là doanh nhân, vì công chứng viên phải tiến hành các công việc quá kỹ càng trong thời gian dài để đạt đến sự xác thực của một hợp đồng, các doanh nhân đôi khi có thể mất đi cơ hội trong môi trường kinh doanh mang tính cạnh tranh cao. - Hệ thống công chứng Anglo - saxon Ở các nước theo hệ thống án lệ (thông luật), bản án và các quyết định của tòa án là nguồn chủ yếu của luật tư. Các vụ việc cụ thể do tòa án xét xử trở thành các "tiền lệ" có giá trị như quy phạm pháp luật, trừ khi pháp luật có quy định khác. Các hợp đồng hiếm khi viện dẫn tới các đạo luật, cho phép các bên tham gia hợp đồng được tự do, hợp đồng thể hiện ý chí của các bên tham gia sau khi những cố vấn của họ đã thương thảo. Khi có tranh chấp, thẩm phán thường xuyên giải quyết bằng cách viện dẫn các "tiền lệ" có thể áp dụng cho vụ việc đang thụ lý. Chính vì vậy, ở các nước này, vai trò của luật sư và hành nghề luật sư được coi trọng, kể cả trong tư vấn và trong tranh tụng. Nhà nước không quan tâm lắm đến việc hình thành các thiết chế phòng ngừa tranh chấp. Ở các nước này mà điển hình là: Vương quốc Anh, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (trừ Bang Louisane), Canada (trừ Bang Quebec), Ấn Độ, Singapore, Thái Lan, Đài Loan... không thừa nhận thể chế công chứng chuyên nghiệp. Chức năng công chứng ở các nước theo hệ thống pháp luật công chứng AngloSacxon được thực hiện bởi các luật sư, hộ tịch viên hoặc cố vấn pháp lý của Giáo hội, một số nhân viên ngoại giao và lãnh sự được giao thẩm quyền thực hiện một số việc công chứng ở nước ngoài... những người này thực hiện hoạt động công chứng theo phương thức kiêm nhiệm. Đó là những công chứng viên không chuyên biệt. Trước khi được kiêm nhiệm hoạt động công chứng, họ phải có thâm niên tối thiểu một số năm hành nghề luật sư thuộc Hiệp hội Luật sư hoặc là hộ tịch viên hay cố vấn pháp lý của Giáo hội. Trong hệ thống 16 pháp luật công chứng Anglo-Sacxon, những người hành nghề công chứng không chịu sự can thiệp nhiều của quyền lực hành pháp của Nhà nước. Những nước theo hệ thống công chứng này không hình thành bộ máy để quản lý, theo dõi hoạt động công chứng cũng như những người hành nghề công chứng. Những người hành nghề công chứng ở đây hoạt động tự do, sự quản lý của nhà nước chỉ thể hiện ở việc cấp chứng chỉ hành nghề, và đổi chứng chỉ hành nghề hàng năm cho những người hành nghề công chứng. Phạm vi hoạt động của công chứng chủ yếu là xác nhận các sự kiện, các lời tuyên thệ hay chữ ký của các bên trong các hợp đồng, giao dịch. Đặc điểm nổi bật của hệ thống công chứng Anglo-Sacxon là việc công chứng chỉ mang tính hình thức (vì vậy hệ thống pháp luật công chứng AngloSacxon còn được gọi là hệ thống pháp luật công chứng hình thức), nghĩa là khi tiến hành hoạt động công chứng, người hành nghề công chứng chỉ ghi nhận lại và chứng nhận sự kiện pháp lý đã xảy ra, họ chỉ chú trọng đến việc nhận diện đúng chủ thể tham gia giao dịch, ghi lại đúng thời gian, địa điểm tiến hành giao kết hợp đồng, ghi lại chính xác thỏa thuận của các bên và ý chí của từng bên... chứ họ không cần quan tâm đến việc xác định tình trạng pháp lý của đối tượng hợp đồng, không cần biết thỏa thuận của các bên tham gia giao dịch có trái pháp luật, đạo đức xã hội hay không... và họ không phải chịu trách nhiệm nếu giao dịch đó là bất hợp pháp hay khi trong hợp đồng đó có điều khoản nào đó bất lợi cho một bên hoặc gây thiệt hại cho người thứ ba. Việc công chứng không quan tâm đến nội dung của hợp đồng giao dịch như vậy nên những hợp đồng, văn bản được lập bởi những người hành nghề công chứng trong hệ thống pháp luật công chứng Anglo-Sacxon mang lại sự an toàn pháp lý thấp, không được coi là chứng cứ xác thực, hiển nhiên trước tòa án, tỷ lệ tranh chấp xảy ra nhiều hơn so với công chứng của các hệ thống pháp luật khác. Do việc chứng nhận chỉ mang tính hình thức, người hành nghề công chứng không phải chịu trách nhiệm về nội dung của hợp đồng, giao dịch mà 17 họ chứng nhận nên các yêu cầu công chứng ở đây được đáp ứng rất nhanh chóng, kịp thời, đa dạng (không bị bắt buộc phải công chứng loại hợp đồng, giao dịch nào). Tuy nhiên, do nguyên tắc tự do giao kết, các bên tự thỏa thuận, tự lập văn bản, với trình độ, nhận thức rất khác nhau, với sự khác nhau về tính trung thực, sự ngay thẳng, nên sự sai sót, vi phạm pháp luật trong giao kết hợp đồng là không thể tránh khỏi, việc công chứng đối với những giao dịch này mà không cần quan tâm đến nội dung, đến tính hợp pháp của nó (công chứng hình thức) không có ý nghĩa trong việc hạn chế tranh chấp, tạo hành lang pháp lý an toàn cho các giao dịch và làm cho vai trò của hoạt động công chứng trở thành mờ nhạt, vị trí của người hành nghề công chứng bị xem nhẹ vì nó gợi cho người ta cảm giác rằng công chứng là hoạt động tương đối giản đơn, ai cũng có thể hành nghề được. - Hệ thống công chứng Collectiviste Hệ thống công chứng Collectiviste (hay còn gọi là hệ thống công chứng bao cấp) là mô hình công chứng được tổ chức khá chặt chẽ, hoạt động chuyên nghiệp bằng sự bao cấp của Nhà nước thông qua việc cấp ngân sách. Tổ chức công chứng là một loại hình cơ quan bổ trợ tư pháp trong bộ máy hành pháp của Chính phủ. Công chứng viên và nhân viên nghiệp vụ đều là công chức nhà nước, hưởng lương từ nguồn ngân sách nhà nước và được hưởng mọi chế độ chính sách như những công chức khác. Công chứng viên được bổ nhiệm để chứng nhận hợp đồng và văn bản, giúp đỡ pháp lý cho cá nhân, tổ chức, tạo ra sự an toàn pháp lý và sự tin cậy cho các giao dịch, phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, vai trò của công chứng viên ở các nước này phần nào bị hạn chế, chủ yếu phục vụ mục đích quản lý nhà nước và bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa bởi pháp luật không thừa nhận quyền sở hữu tư nhân đối với một số tài sản, đặc biệt là đối với đất đai. Điển hình của hệ thống Collectiviste là công chứng của các nước xã hội chủ nghĩa cũ. Hệ thống công chứng này phát triển mạnh nhất vào những năm từ 1970 đến 1990, gồm công chứng của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa 18 xô viết, Cộng hòa Ba lan, Cộng hòa dân chủ Đức, Bungari, Hunggari, Rumani, Cu Ba, Trung Quốc, Việt Nam... Hệ thống công chứng Collectiviste có một số điểm đặc trưng cơ bản như: + Nhà nước bảo đảm cơ sở vật chất của các Phòng công chứng như trụ sở, phương tiện, thiết bị, kinh phí hoạt động; + Các Phòng công chứng chịu sự quản lý song trùng trực thuộc, vừa đặt dưới sự quản lý về nghiệp vụ, chuyên môn của Nhà nước trung ương (Bộ Tư pháp), vừa đặt dưới sự quản lý của chính quyền địa phương (Sở Tư pháp hoặc Tòa án địa phương). + Cùng với các Phòng công chứng chuyên trách, một số cơ quan hành chính được giao nhiệm vụ thực hiện kiêm nhiệm thêm một số hoạt động công chứng ở những nơi tập trung dân cư nhưng chưa thành lập Phòng công chứng. Mặt khác, một số nhân viên ngoại giao và lãnh sự được giao thẩm quyền thực hiện một số hoạt động công chứng ở nước ngoài; + Lệ phí công chứng thu theo biểu mức do Nhà nước quy định và nộp vào ngân sách nhà nước, người thực hiện công chứng được hưởng thêm một khoản tiền thưởng hoặc phụ cấp; + Hoạt động công chứng mang tính kỹ thuật đơn giản. Các công chứng viên chỉ là người thực hiện hành vi chứng nhận đơn giản, khi chứng nhận một văn bản chỉ chú trọng đến hình thức, tính hợp pháp của văn bản trên cơ sở căn cứ vào các giấy tờ do người yêu cầu xuất trình hoặc nộp để nhận dạng, xác định năng lực hành vi dân sự, tình trạng pháp lý của tài sản và là người ghi chép, vào sổ những sự kiện đã thực hiện. Ngược lại, ít chú trọng đến việc tư vấn, xác minh nhân thân của khách hàng và tình trạng pháp lý của tài sản cần xác nhận; + Công chứng viên chứng nhận văn bản công chứng dựa trên cơ sở những giấy tờ do khách hàng xuất trình hoặc nộp. Khách hàng phải tự mình chứng minh nhân thân và tình trạng pháp lý của tài sản; 19 + Văn bản công chứng là chứng cứ viết, đem lại an toàn về mặt pháp lý cho các giao dịch, giao lưu, làm tăng tính ràng buộc và có giá trị thi hành giữa các bên tham gia các giao dịch, giao lưu đó; + Tránh nhiệm dân sự của công chứng viên rất hạn chế đối với những thiệt hại do họ gây ra khi thực hiện công chứng. Không có cơ chế đảm bảo trách nhiệm nghề nghiệp Hiện nay, các nước theo hệ thống công chứng bao cấp đang có những cải cách về thể chế nhằm phù hợp với nền kinh tế thị trường, hướng theo mô hình công chứng Latinh. 1.1.2. Khái niệm công chứng a) Quan niệm về công chứng ở một số nước Notarie - tiếng Pháp, Notary - tiếng Anh, Notariat - tiếng Đức, Hottapiat tiếng Nga, đều có gốc La tinh là Notarius, có nghĩa là Viết, ghi chép. Theo Pierre-Francois Real, một trong những nhà biên soạn Luật Ventôse năm 1804 làm cơ sở cho việc thiết lập nghề công chứng ở nhiều quốc gia khác ngoài Cộng hòa Pháp như Bỉ, Đức, Áchentina, Áo, Bukina Faso, Chi lê, Colombia, Bờ biển Ngà, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Ý, Lucxembua, Ma rốc, Mêhicô, Hà Lan, Cộng Hòa Diminica, Rumani, Sênêgal và Thụy sĩ thì: Những người tư vấn cho các bên đương sự một cách vô tư, giúp họ hiểu được phạm vị nghĩa vụ hợp đồng mà họ đã giao kết, soạn thảo các hợp đồng này một cách rõ ràng, làm chứng cho chúng có tính xác thực và có giá trị như một phán quyết chung thẩm, đóng vai trò bộ nhớ của đương sự và lưu giữ tuyệt đối hồ sơ của họ, hạn chế tranh chấp có thể nảy sinh giữa các bên một cách ngay tình: những người làm công việc như vậy chính là công chứng viên [42]. So sánh các hệ thống công chứng cho thấy, mặc dù giữa hệ thống công chứng Latinh và hệ thống công chứng Anglo - Saxon có sự khác biệt 20
- Xem thêm -