Tài liệu Địa vị pháp lý của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong quan hệ tố tụng dân sự trước Tòa án Việt Nam

  • Số trang: 129 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 3093 |
  • Lượt tải: 8
tailieuonline

Tham gia: 31/07/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT TRẦN ĐỨC CƯỜNG §ÞA VÞ PH¸P Lý CñA C¸ NH¢N Vµ PH¸P NH¢N N¦íC NGOµI TRONG QUAN HÖ Tè TôNG d©n sù TR¦íC TßA ¸N VIÖT NAM Chuyên ngành: Luật quốc tế Mã số: 60 38 01 08 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN BÁ DIẾN HÀ NỘI - 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Trần Đức Cường MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1 Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁ NHÂN VÀ PHÁP NHÂN NƯỚC NGOÀI TRONG QUAN HỆ TỐ TỤNG DÂN SỰ .................................................................................................... 4 1.1. Khái niệm và những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự quốc tế........................................................................................... 4 1.1.1. Khái niệm tố tụng dân sự quốc tế ............................................................... 4 1.1.2. Những nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự quốc tế ................................. 9 1.2. Khái niệm cá nhân và pháp nhân nước ngoài ...................................... 10 1.2.1. Khái niệm cá nhân nước ngoài ................................................................. 10 1.2.2. Khái niệm pháp nhân nước ngoài ............................................................. 13 1.3. Khái niệm địa vị pháp lý của cá nhân và pháp nhân nước ngoài ........ 19 1.3.1. Định nghĩa ............................................................................................... 19 1.3.2. Cơ sở xác định địa vị pháp lý của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong tố tụng dân sự ................................................................................. 20 1.3.3. Đặc điểm địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân nước ngoài .................... 27 1.4. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của cá nhân, pháp nhân nước ngoài .......................................... 28 1.4.1. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của cá nhân nước ngoài ............................................................................ 28 1.4.2. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của pháp nhân nước ngoài ........................................................................ 30 1.5. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của cá nhân, pháp nhân nước ngoài theo pháp luật Việt Nam ........... 31 1.5.1. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của cá nhân nước ngoài theo pháp luật Việt Nam ..................................... 32 1.5.2. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của pháp nhân nước ngoài trong pháp luật Việt Nam ............................... 35 Chương 2: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁ NHÂN VÀ PHÁP NHÂN NƯỚC NGOÀI TRONG QUAN HỆ TỐ TỤNG DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM ........................................ 37 2.1. Khái quát về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ........................... 37 2.1.1. Các văn bản pháp luật trong nước ............................................................ 37 2.1.2. Các điều ước quốc tế mà Việt Nam gia nhập hoặc ký kết ......................... 38 2.1.3. Tập quán quốc tế ...................................................................................... 43 2.2. Quyền và nghĩa vụ của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong quan hệ tố tụng dân sự tại Việt Nam..................................................... 43 2.2.1. Quyền và nghĩa vụ của đương sự ............................................................. 43 2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng khác...................... 58 2.3. Quyền và nghĩa vụ của cá nhân và pháp nhân nước ngoài theo quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam gia nhập và ký kết ............. 64 2.3.1. Quyền và nghĩa vụ của cá nhân và pháp nhân theo các điều ước quốc tế đa phương ............................................................................................ 64 2.3.2. Quyền và nghĩa vụ của cá nhân trong quan hệ tố tụng dân sự theo các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam ký kết với các nước ........ 76 2.4. Kinh nghiệm nước ngoài ........................................................................ 86 2.4.1. Chế định cược án phí trong pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài ................... 86 2.4.2. Pháp luật tố tụng dân sự nước Cộng hoà Pháp .......................................... 89 2.4.3. Pháp luật tố tụng dân sự Anh - Mỹ ........................................................... 95 2.4.4. Pháp luật tố tụng dân sự Nhật Bản ........................................................... 95 Chương 3: ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁ NHÂN VÀ PHÁP NHÂN NƯỚC NGOÀI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ TẠI VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ....................................................................... 98 3.1. Thực tiễn giải quyết các vụ v i ệc dân sự có yếu tố nước ngoài ........ 98 3.1.1. Thực trạng giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài ................ 98 3.1.2. Giải pháp hoàn thiện .............................................................................. 100 3.2. Về quyền và nghĩa vụ của cá nhân và pháp nhân nước ngoài ........... 101 3.2.1. Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cá nhân và pháp nhân nước ngoài ............................................................................................. 101 3.2.2. Giải pháp hoàn thiện .............................................................................. 112 KẾT LUẬN ........................................................................................................ 119 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................... 120 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TT Viết tắt Nội dung từ 1 BLTTDS Bộ luật Tố tụng dân sự 2 BLDS Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 3 CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa 4 TTDS Tố tụng dân sự 5 TTTP Tương trợ tư pháp 6 UBND Uỷ ban nhân dân MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, xu thế chung trên thế giới là quá trình quốc tế hóa mọi mặt đời sống, đặc biệt đời sống kinh tế ngày càng được đẩy mạnh. Do sự phát triển mạnh mẽ của quá trình khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, giao lưu kinh tế, thương mại, khoa học - công nghệ và văn hoá giữa các quốc gia phát triển với tốc độ hết sức nhanh chóng đã dẫn đến việc gia tăng số lượng người nước ngoài đầu tư kinh doanh, lao động, học tập, du lịch… hoặc pháp nhân nước ngoài trực tiếp thực hiện các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh trên lãnh thổ của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh đó, ngày càng xuất hiện nhiều những vụ việc phát sinh từ các mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài mà một bên chủ thể là cá nhân và pháp nhân nước ngoài. Do đó, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về quyền và nghĩa vụ của cá nhân và pháp nhân nước ngoài cũng như các biện pháp đảm bảo của Nhà nước trong lĩnh vực TTDS, đồng thời chỉ ra những khiếm khuyết, tồn tại, đối chiếu với các cam kết hội nhập nhằm đưa ra và phân tích các yêu cầu hoàn thiện pháp luật về vấn đề này là một việc làm cần thiết, có tác động mạnh mẽ tới quá trình thúc đẩy phát triển giao lưu về mọi mặt giữa các quốc gia, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân, pháp nhân nước ngoài khi tham gia vào quan hệ TTDS tại Việt Nam. Việc xây dựng quy chế pháp lý cho cá nhân, pháp nhân nước ngoài nói chung và trong lĩnh vực TTDS nói riêng tại Việt Nam đã được nghiên cứu, sửa đổi theo hướng ngày càng phù hợp với xu thế chung của thời đại và pháp luật quốc tế. Song đây vẫn là một vấn đề mang tính lý luận phức tạp và cần không ngừng được nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm, để đưa ra những luận chứng có tính thuyết phục, góp phần tạo một môi trường pháp lý thuận lợi cho cá nhân và pháp nhân nước ngoài ở Việt Nam đồng thời vẫn giữ vững chủ quyền lãnh thổ, an ninh quốc gia. Vì vậy, đề tài: “Địa vị pháp lý của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong quan hệ tố tụng dân sự trước Toà án Việt Nam” mang tính cấp thiết cả về lý 1 luận và thực tiễn. Đề tài nhằm tìm hiểu, nghiên cứu những nội dung cơ bản về lý luận và pháp lý liên quan tới địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân nước ngoài trong TTDS tại Việt Nam. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Tính đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này như: - Quy chế pháp lý dân sự của công dân nước ngoài ở các nước xã hội chủ nghĩa và Việt Nam, Đoàn Năng, Luận án phó tiến sĩ khoa học Luật, Bacu, 1986. - Đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhà nước đối với người nước ngoài ở nước ta hiện nay, Bùi Quảng Bạ, Luận án phó tiến sĩ khoa học Luật, Hà Nội, 1996. - Địa vị pháp lý của người nước ngoài ở Việt Nam trong tư pháp quốc tế giai đoạn hiện nay, Trần Hưng Bình, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, 2002. - Hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của người nước ngoài tại Việt Nam, Trần Thị Hồng Thu, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật - ĐHQGHN, 2011. Tuy nhiên, các công trình, bài viết nói trên mới chỉ tiếp cận vấn đề địa vị pháp lý của người nước ngoài tại Việt Nam một cách khái quát và tổng thể, mà chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể, phân tích, làm rõ và đưa ra kiến nghị về địa vị pháp lý của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài trong lĩnh vực TTDS theo quy định của pháp luật Việt Nam. 3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu - Mục đích nghiên cứu Đề tài nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận liên quan tới địa vị pháp lý của cá nhân nước ngoài, pháp nhân nước ngoài trong quan hệ TTDS. Đồng thời làm rõ những quy định pháp luật hiện hành về năng lực chủ thể, quyền, nghĩa vụ pháp lý của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong lĩnh vực TTDS tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những điểm hạn chế, đối chiếu với các cam kết hội nhập để đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật. Đề tài cũng sẽ nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia điển hình từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện về địa vị pháp lý của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong TTDS tại Việt Nam hiện nay. 2 - Phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu về địa vị pháp lý của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong một lĩnh vực cụ thể: TTDS quốc tế. Bao gồm các nội dung: cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của cá nhân và pháp nhân nước ngoài; phân tích về năng lực chủ thể của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong TTDS tại Việt Nam; phân tích về quyền và nghĩa vụ của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong TTDS tại Việt Nam. 4. Phương pháp nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lênin, quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, quá trình nghiên cứu đề tài luận văn các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác cũng được sử dụng như: phân tích, diễn giải, tổng hợp, thống kê… 5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về địa vị pháp lý của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong quan hệ TTDS tại Việt Nam. Luận văn có thể áp dụng vào thực tế xây dựng và hoàn thiện địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân nước ngoài trong lĩnh vực TTDS tại Việt Nam. Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu pháp luật về địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân nước ngoài trong lĩnh vực TTDS tại Việt Nam và cho những người quan tâm tới lĩnh vực này. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương. - Chương 1: Khái quát về địa vị pháp lý của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong quan hệ tố tụng dân sự - Chương 2: Quyền và nghĩa vụ của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong quan hệ tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam - Chương 3: Địa vị pháp lý của cá nhân và pháp nhân nước ngoài trong tố tụng dân sự tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp 3 Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÁ NHÂN VÀ PHÁP NHÂN NƯỚC NGOÀI TRONG QUAN HỆ TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1. Khái niệm và những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự quốc tế 1.1.1. Khái niệm tố tụng dân sự quốc tế TTDS quốc tế là hoạt động của Tòa án một nước trong việc giải quyết các vụ việc phát sinh từ các mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án theo một thể thức luật định [33]. Khái niệm “quan hệ dân sự” trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài cũng được hiểu theo nghĩa rộng là các quan hệ phát sinh chủ yếu giữa các cá nhân, pháp nhân của các nước khác nhau trong lĩnh vực pháp lý thuộc hệ thống pháp luật tư; bao gồm quan hệ phát sinh trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động… Quan hệ pháp luật dân sự được coi là quan hệ “gốc” của luật tư, còn các quan hệ pháp luật khác trong lĩnh vực thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động… cũng có tính chất luật tư nhưng là các quan hệ luật riêng (luật chuyên ngành). Đặc trưng lớn nhất của các quan hệ pháp luật thuộc lĩnh vực tư là các quan hệ pháp luật này có mục đích để điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể tư, nên trước hết nhằm bảo vệ lợi ích của các chủ thể tư. Các quan hệ pháp lý này luôn dựa trên các nguyên tắc tôn trọng sự tự do ý chí, tự do thỏa thuận, nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ pháp lý… Trong khi các quan hệ pháp luật thuộc lĩnh vực công lại có mục đích tối cao là bảo vệ lợi ích nhà nước, như các quan hệ trong lĩnh vực Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Hình sự… Điều này được quy định rất rõ và sử dụng thống nhất trong hai văn bản pháp lý quan trọng của tư pháp quốc tế Việt Nam là BLDS và BLTTDS. Về mặt lý luận cũng như trên thực tế, thuật ngữ “TTDS quốc tế” là thuật ngữ mang tính ước lệ, bởi vì thực tế, một số lượng khá lớn các vụ việc không thuộc nhóm vụ việc dân sự (hiểu theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài cũng được giải 4 quyết theo thể thức TTDS quốc tế. Chẳng hạn như việc xác định thẩm quyền xét xử quốc tế, xác định địa vị pháp lý của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia vào TTDS quốc tế, vấn đề chứng cứ tư pháp và thực hiện các uỷ thác tố tụng quốc tế riêng biệt, vấn đề công nhận và thi hành các bản án, quyết định dân sự, thương mại của Toà án nước ngoài… Tuy nhiên, về mặt lý luận, chỉ có các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài mà luật quy định thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án mới thuộc phạm vi nghiên cứu của TTDS quốc tế. Theo quy định tại khoản 2 Điều 405 BLTTDS năm 2004 thì vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự có ít nhất một trong các đương sự là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc các quan hệ dân sự giữa các đương sự là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài [19]. Theo quy định này, một vụ việc dân sự được coi là vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài khi có một trong các yếu tố sau: - Đương sự trong vụ việc dân sự là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; - Căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài; - Tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Khoản 2 Điều 405 BLTTDS năm 2004 không đề cập tới trường hợp đương sự trong vụ việc dân sự là pháp nhân nước ngoài, tuy nhiên, trong thực tiễn có các trường hợp phát sinh các việc dân sự có một bên đương sự là pháp nhân nước ngoài cũng sẽ được coi là TTDS có yếu tố nước ngoài. Như vậy, trong quan hệ TTDS, khi một bên đương sự là cá nhân hoặc pháp nhân nước ngoài, quan hệ TTDS đó sẽ được xác định là quan hệ TTDS có yếu tố nước ngoài hay TTDS quốc tế. Theo quy định từ Điều 25 đến Điều 32 của BLTTDS năm 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011, Toà án có thẩm quyền thụ lý và giải quyết theo thủ tục TTDS đối với những tranh chấp, những yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Cụ thể: 5 - Những tranh chấp về dân sự bao gồm tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam; tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về hợp đồng dân sự; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, giữa các cá nhân, tổ chức với nhau mà chỉ một bên có mục đích lợi nhuận hoặc các bên đều không có mục đích lợi nhuận; tranh chấp về thừa kế tài sản; tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; tranh chấp về quyền sử dụng đất, về tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật; tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự; tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự; các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định. - Những yêu cầu về dân sự: Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự; yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó; yêu cầu tuyên bố một người mất tích, huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích; yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự; các yêu cầu khác về dân sự mà pháp luật có quy định. 6 - Những vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật về hôn nhân và gia đình gồm: Những tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con nuôi, chia tài sản khi ly hôn; tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; tranh chấp về việc xác định cha, mẹ; tranh chấp về cấp dưỡng; các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định. Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình gồm: Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật; yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn; yêu cầu chấm dứt việc nuôi con; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; các yêu cầu khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định. - Những vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật về kinh doanh, thương mại gồm: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm: Mua bán hàng hoá; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; ký gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn, kỹ thuật; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; đầu tư, tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, 7 chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định. Những yêu cầu về kinh doanh, thương mại gồm: Yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định kinh doanh, thương mại của Trọng tài nước ngoài; các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định. - Những vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật về lao động gồm: Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động mà Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên lao động của cơ quan quản lý nhà nước về lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoà giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hoà giải không thành hoặc không hoà giải trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp sau đây không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở gồm: Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; về bồi thường thiệt hại giữa người lao động và người sử dụng lao động; về trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động; giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động; về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về lao động; về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Tranh chấp lao động tập thể về quyền giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động đã được Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết mà tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý với quyết 8 định của Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh không giải quyết. Các tranh chấp khác về lao động mà pháp luật có quy định. Những yêu cầu về lao động gồm: Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định lao động của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định lao động của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định lao động của Trọng tài nước ngoài; các yêu cầu khác về lao động mà pháp luật có quy định [19]; [28]. 1.1.2. Những nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự quốc tế TTDS quốc tế là một bộ phận của tư pháp quốc tế, cho nên TTDS quốc tế phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản của tư pháp quốc tế, đồng thời TTDS quốc tế cũng có những nguyên tắc cơ bản đặc thù của mình, bao gồm [33]: - Tôn trọng chủ quyền, an ninh quốc gia của nhau: Chủ quyền quốc gia là tuyệt đối, không thể bị xâm hại hay phân biệt, vì vậy nếu không hoạt động TTDS quốc tế đó sẽ bị xem là hành vi vi phạm pháp luật quốc tế. - Tôn trọng quyền miễn trừ tư pháp của Nhà nước nước ngoài và những người được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao. - Bảo đảm quyền bình đẳng của các bên tham gia tố tụng: Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong hoạt động TTDS, cho dù quan hệ có yếu tố nước ngoài hay không có yếu tố nước ngoài, thì hoạt động TTDS luôn phải bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể về địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ giữa các đương sự. - Nguyên tắc có đi có lại, cùng có lợi. - Nguyên tắc Luật Toà án (Lex fori): Đây là nguyên tắc đặc thù của TTDS quốc tế. Theo nguyên tắc này, khi giải quyết các vụ việc dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, về mặt tố tụng, Toà án có thẩm quyền chỉ áp dụng luật tố tụng của nước mình (trừ trường hợp ngoại lệ được quy định trong pháp luật của từng nước hoặc trong các điều ước quốc tế mà nước đó tham gia). Đây là quan điểm được tất cả các quốc gia trên thế giới thừa nhận. 9 Ở Việt Nam, khi giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động có yếu tố nước ngoài, về nguyên tắc, Toà án Việt Nam chỉ áp dụng luật TTDS Việt Nam. Tuy nhiên, trong quan hệ với các nước đã ký kết hiệp định TTTP với Việt Nam, thì Toà án Việt Nam khi thực hiện uỷ thác tư pháp, theo đề nghị của bên yêu cầu, có thể áp dụng pháp luật của nước ký kết có cơ quan yêu cầu đó, với điều kiện chúng không mâu thuẫn với pháp luật Việt Nam. Những nguyên tắc cơ bản nêu trên của TTDS quốc tế luôn luôn gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau tạo cơ sở pháp lý vững chắc bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích chính đáng của các bên tranh chấp, góp phần thúc đẩy phát triển giao lưu dân sự quốc tế. 1.2. Khái niệm cá nhân và pháp nhân nước ngoài 1.2.1. Khái niệm cá nhân nước ngoài Khái niệm người nước ngoài xuất hiện từ rất sớm và gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội. Ngay từ thời phong kiến, ngoài những người được gọi là thần dân của quốc gia, bao giờ cũng còn một số lượng nhất định không phải là thần dân của quốc gia sở tại. Những người này được gọi là người ngoại quốc hay ngoại kiều. Ngày nay trên cơ sở lý luận của khoa học pháp lý thì họ chính là “người nước ngoài”. Thuật ngữ “người nước ngoài” được sử dụng rộng rãi ở tất cả các nước trên thế giới nhưng nội dung khái niệm này ở tất cả các nước không phải trong mọi trường hợp đều giống nhau. Ở Bun-ga-ri, người nước ngoài là người không có quốc tịch Bun-ga-ri, nghĩa là đối với Bun-ga-ri người nước ngoài gồm cả người có quốc tịch nước ngoài và người không có quốc tịch của nước nào. Trong khi đó, ở Liên Xô cũ, trong nhiều năm, khái niệm người nước ngoài đồng nhất với khái niệm công dân nước ngoài trên lãnh thổ Liên Xô. Như vậy, những người không phải là công dân Liên Xô cư trú ở ngoài phạm vi lãnh thổ Liên Xô thì không được xác định có phải là người nước ngoài đối với Liên Xô hay không. Từ khi ban hành Hiến pháp Liên Xô năm 1917 đến khi chấm dứt tồn tại Liên bang Xô Viết, khái niệm người nước ngoài được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả công dân nước ngoài và người không có quốc tịch. 10 Theo các nhà nghiên cứu, từ xa xưa để chỉ những người nước ngoài cư trú hay làm ăn sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, nhân dân ta dùng thuật ngữ ngoại kiều hay kiều dân nước ngoài; còn thuật ngữ Việt kiều hay kiều bào ta ở nước ngoài để chỉ những người của nước ta cư trú, làm ăn sinh sống ở nước ngoài. Trong những thập kỷ gần đây, những thuật ngữ này không còn được dùng một cách phổ biến nữa, riêng các văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành các thuật ngữ này hoàn toàn không được sử dụng và thay vào đó là các thuật ngữ người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài. Tuy nhiên, ở nước ta vấn đề xác định thống nhất nội dung khái niệm người nước ngoài không phải lúc nào cũng đạt được. Đáng lưu ý là còn không ít quan điểm lệch lạc như coi người nước ngoài bao gồm cả pháp nhân nước ngoài, thậm chí bao gồm cả nhà nước nước ngoài. Trên cơ sở quan điểm khoa học về vấn đề này, tác giả cho rằng các quan điểm vừa nêu là không hợp lý và không lô gích. Thứ nhất, nếu coi phạm trù người nước ngoài bao gồm cả pháp nhân nước ngoài. Theo cách hiểu chung nhất, pháp nhân là tổ chức của những con người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập hoặc công nhận, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ trên cơ sở của điều lệ, có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó, pháp nhân giao dịch với bên ngoài thông qua người đại diện. Do vậy, khái niệm pháp nhân nói chung hay pháp nhân nước ngoài nói riêng không thể có các quyền và nghĩa vụ cơ bản phát sinh từ quyền công dân - một khái niệm luôn gắn với quốc tịch thể hiện quan hệ của một quốc gia với công dân của quốc gia đó. Thứ hai, nếu nội dung khái niệm còn bao hàm cả nhà nước nước ngoài thì càng không hợp lý hơn nữa, bởi vì quốc gia là một thực thể độc lập, có chủ quyền, bình đẳng trong quan hệ với các quốc gia khác. Do vậy, nếu coi quốc gia nước ngoài cũng là người nước ngoài thì quốc gia nước sở tại phải xây dựng quy chế pháp lý của quốc gia nước ngoài đó bao gồm: Quyền năng chủ thể, hệ thống các quyền và nghĩa vụ, các lợi ích của nước đó tại nước sở tại. Điều này sẽ vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, xâm phạm chủ quyền của quốc gia nước ngoài 11 đó. Vì vậy, không có cơ sở, không hợp lý nếu chấp nhận quan điểm cho rằng khái niệm người nước ngoài gồm cả pháp nhân nước ngoài hoặc cả nhà nước nước ngoài, cho dù chỉ là quy ước. Khái niệm người nước ngoài chỉ có thể dùng để chỉ cá nhân (có tài liệu gọi là tự nhiên nhân hay thể nhân) có quốc tịch nước ngoài hoặc cá nhân không có quốc tịch. Trong từ điển Tiếng Việt, chữ “người” được dùng để chỉ cá nhân chứ không dùng để chỉ các tổ chức của cá nhân như các tổ chức được hưởng tư cách pháp nhân và nhà nước [37]. Trong pháp luật Việt Nam, khi định nghĩa về người nước ngoài luôn lấy dấu hiệu quốc tịch làm dấu hiệu đặc trưng để xác định, điều này hoàn toàn phù hợp với pháp luật và thông lệ của đa số các nước trên thế giới. Trong Quyết định số 122/CP ngày 25/4/1977 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với người nước ngoài cư trú và làm ăn sinh sống ở Việt Nam quy định tại Điều 1 như sau: “Người nước ngoài (gọi tắt là ngoại kiều) là những người cư trú và làm ăn sinh sống ở Việt Nam, có quốc tịch nước khác, hoặc không có quốc tịch” [6]. Theo Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành các quy định của BLDS về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài quy định: “Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch” [1, Điều 3, Khoản 2]. Theo Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, tại khoản 1 quy định: “Quốc tịch nước ngoài là quốc tịch của một nước khác không phải quốc tịch Việt Nam”; tại khoản 5 quy định: “Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam” [26, Điều 3]. Nghị định số 51/2009/NĐ/CP ngày 03/6/2009 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 19/2008/QH12 ngày 03/6/2008 của Quốc hội về việc thí điểm cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam định nghĩa: “Cá nhân nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam” [2, Điều 3, Khoản 1]. 12 Theo quy định tại Luật Nhập cảnh, Xuất cảnh, Quá cảnh, Cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam ban hành ngày 16/6/2014 (có hiệu lực ngày 01/01/2015): “Người nước ngoài là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam” [31, Điều 3, Khoản 1]. Từ các định nghĩa về người nước ngoài trong các văn bản nói trên, có thể hiểu người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm hai loại: người có quốc tịch người nước ngoài và người không quốc tịch. Như vậy, trong các văn bản pháp luật nêu trên, tiêu chí để xác định một cá nhân là người nước ngoài đối với Việt Nam không phải là nơi cư trú mà là có quốc tịch hay không có quốc tịch Việt Nam. Những người không có quốc tịch Việt Nam có thể định cư hoặc tạm trú trên lãnh thổ Việt Nam. Song vấn đề đặt ra là tại sao chúng ta xếp người có quốc tịch nước ngoài và người không có quốc tịch vào khái niệm người nước ngoài? Trước hết phải khẳng định rằng, người nước ngoài là công dân nước ngoài và người không có quốc tịch là hai khái niệm khác nhau. Tuy nhiên, nội dung địa vị pháp lý của công dân nước ngoài và người không quốc tịch tại một quốc gia giống nhau về cơ bản. Ví dụ: Họ đều không có những quyền và nghĩa vụ gắn liền với quốc tịch của nước sở tại, đều có những quyền và nghĩa vụ giống nhau trong các quan hệ dân sự, hôn nhân, gia đình, thừa kế… do pháp luật nước sở tại quy định. Vì vậy, hoàn toàn có cơ sở khi xét hai khái niệm công dân nước ngoài và người không quốc tịch vào khái niệm người nước ngoài khi xem xét địa vị pháp lý của họ. Như vậy, có thể suy ra rằng khái niệm “người nước ngoài” được hiểu là người không có quốc tịch Việt Nam, họ có thể là người mang quốc tịch một nước khác, một vài nước khác, hoặc không mang quốc tịch nước nào, họ có thể cư trú trên lãnh thổ Việt Nam hoặc có thể cư trú ngoài lãnh thổ Việt Nam. 1.2.2. Khái niệm pháp nhân nước ngoài - Khái niệm pháp nhân Trước khi tìm hiểu khái niệm pháp nhân nước ngoài, chúng ta cần xác định khái niệm “pháp nhân”. Có quan điểm cho rằng, khái niệm pháp nhân với tư cách là một chủ thể pháp luật dân sự có từ thời kỳ La Mã cổ đại. Người ta nhận thấy trong xã 13 hội thời đó có những tổ chức như nhà hát, nhà thờ… có tài sản, mà tài sản này không phải là của riêng từng thành viên. Sự thay đổi của các thành viên không ảnh hưởng gì đến tính chất độc lập của tổ chức. Đồng thời, khi tham gia vào các quan hệ dân sự thời bấy giờ các tổ chức nói trên luôn thể hiện với tư cách là một chủ thể thông qua người đại diện, nhân danh cho tổ chức chứ không phải cho cá nhân. Tuy nhiên, trong thời kỳ La Mã cổ đại khái niệm về pháp nhân chưa thực sự hình thành. Khái niệm pháp nhân và các quy định về pháp nhân chỉ thực sự phát triển trong giai đoạn thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản - giai đoạn mà luật thương mại xuất hiện, nó hiện diện trong hệ thống pháp luật ở các nước châu Âu lục địa như là một nhánh trong cây đại thụ là luật dân sự. Trong khoa học luật dân sự trên thế giới đã xuất hiện những học thuyết về pháp nhân như: Học thuyết giả tưởng (Học thuyết giả tưởng cho rằng pháp nhân không có ý chí mà chỉ có con người mới có ý chí, nên con người mới là chủ thể thực sự của các quyền, nếu tổ chức có tư cách pháp nhân thì điều đó có nghĩa là tổ chức có một ý chí. Như vậy đã tạo ra một sự giả tưởng); học thuyết thực tại (Học thuyết thực tại cho rằng pháp nhân không phải là sự tạo lập của người làm luật mà là một thực tế phải được thừa nhận. Pháp nhân phải có các quy tắc về đời sống pháp lý, về sự điều hành và phải được công nhận về danh tính, quốc tịch và cư xử)… Qua các quan điểm, các học thuyết về pháp nhân, mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng tựu trung lại các pháp nhân vẫn được coi là một chủ thể pháp luật đích thực bởi vì pháp nhân cũng có những đặc điểm thể hiện năng lực chủ thể. Thứ nhất, việc hình thành pháp nhân làm cho đời sống pháp luật được đơn giản hơn. Nếu chỉ có cá nhân là chủ thể pháp luật mà không có pháp nhân thì khi đó, mỗi thể nhân thành viên sẽ phải tham gia vào việc ký kết các giao dịch pháp lý. Điều này sẽ xảy ra một tình huống vô cùng phức tạp rằng: Một người đi mua một chiếc xe ô tô sẽ phải ký hợp đồng với hàng triệu cổ đông có vốn trong công ty cổ phần có xe bán. Hậu quả đó đủ để chứng minh rằng việc hình thành pháp nhân là cần thiết. Bởi vì, việc hình thành pháp nhân sẽ cho các bên có thể trực tiếp làm việc với pháp nhân, tức là làm việc với một đầu mối. 14
- Xem thêm -