Tài liệu Án treo và thực tiễn áp dụng tại địa bàn tỉnh hải dương luận văn ths. luật

  • Số trang: 100 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 4643 |
  • Lượt tải: 11
tailieuonline

Tham gia: 31/07/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT PHẠM THANH PHƢƠNG ÁN TREO VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƢƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2014 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT PHẠM THANH PHƢƠNG ÁN TREO VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƢƠNG Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự Mã số : 60 38 01 04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Đỗ Thị Phƣợng HÀ NỘI - 2014 2 Lêi cam ®oan T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu khoa häc cña riªng t«i. C¸c sè liÖu, vÝ dô vµ trÝch dÉn trong luËn v¨n ®¶m b¶o ®é tin cËy, chÝnh x¸c vµ trung thùc. Nh÷ng kÕt luËn khoa häc cña luËn v¨n ch-a tõng ®-îc ai c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nµo kh¸c. T¸c gi¶ luËn v¨n Ph¹m Thanh Ph-¬ng 3 MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng 1.1. MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ÁN TREO 6 Khái niệm, bản chất pháp lý, những đặc điểm cơ bản của án treo 6 1.1.2. Bản chất pháp lý của án treo 9 1.1.3. Những đặc điểm cơ bản của án treo 10 1.1.4. Phân biệt án treo với hình phạt cải tạo không giam giữ 11 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của luật hình sự Việt Nam về án treo 14 1.2.1. Giai đoạn từ sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 14 1.2.2. Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 17 Án treo trong luật hình sự của một số nước trên thế giới 20 1.2. 1.3. 1.3.1. Pháp luật Liên bang Nga 20 1.3.2. Pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 22 1.3.3. Pháp luật Nhật Bản 24 1.3.4. Pháp luật nước Cộng hòa Liên bang Đức 26 Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ 31 ÁN TREO VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG ÁN TREO TẠI ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƢƠNG 2.1. Quy định của bộ luật hình sự hiện hành về án treo 4 31 2.1.1 Căn cứ để người bị phạt tù được hưởng án treo 32 2.1.2. Thời gian, điều kiện thử thách của án treo, hậu quả và trách nhiệm pháp lý của việc vi phạm điều kiện thử thách 44 Thực tiễn áp dụng án treo tại địa bàn tỉnh Hải Dương 53 2.2. 2.2.1. Những kết quả đạt được trong việc áp dụng án treo 53 2.2.2. Những hạn chế trong việc áp dụng án treo 56 2.2.3. Các nguyên nhân cơ bản 68 Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ ÁN TREO VÀ 72 NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG ÁN TREO 3.1. Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng án treo 72 3.2. Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về án treo 75 3.3. Những giải pháp khác 78 3.3.1 Nâng cao ý thức trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng 78 3.3.2. Tăng cường công tác hướng dẫn và giải thích pháp luật; công tác kiểm tra giám sát của cấp trên và của Hội đồng nhân dân các cấp 83 3.3.3. Tăng cường sự phối kết hợp hoạt động của các cơ quan có trách nhiệm trong việc thi hành án treo và giám sát giáo dục đối với người được hưởng án treo 84 3.3.4. Tăng cường các biện pháp giám sát đối với người được hưởng án treo 86 3.3.5. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân về án treo 87 KẾT LUẬN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 5 DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu Tên bảng Trang Tình hình áp dụng án treo của Tòa án nhân dân tỉnh Hải 54 bảng 2.1 Dương từ năm 2007 đến năm 2013 2.2 Tình hình áp dụng án treo của các Tòa án nhân dân cấp huyện của tỉnh Hải Dương từ năm 2007 đến năm 2013 6 55 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu nhằm đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Các tội phạm rất phong phú và đa dạng, khác nhau về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội. Để đấu tranh có hiệu quả với các tội phạm, đảm bảo được các nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự, cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội, Bộ luật hình sự quy định một hệ thống hình phạt rất phong phú, đa dạng và có tính phân hóa cao để áp dụng đối với từng tội phạm, từng người phạm tội. Mục đích của việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội là giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới, có nghĩa là hoàn trả cho xã hội con người đã trở nên vô hại, không còn nguy cơ tái phạm. Tuy nhiên, để đạt được mục đích đó, ngoài việc áp dụng hình phạt biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất - trong một số trường hợp nhất định sẽ có hiệu quả cao hơn nếu áp dụng biện pháp khác, không cần bắt người phạm tội phải chấp hành hình phạt. Một biện pháp được áp dụng nhiều trong thực tiễn là án treo. Phạt tù cho hưởng án treo là một chế định pháp lý độc lập, thể hiện quan điểm của Đảng, Nhà nước trong việc áp dụng pháp luật hình sự là nghiêm minh nhưng nhân đạo, nghiêm trị nhưng khoan hồng, tính ưu việt của chế định án treo chính là ở sự kết hợp đó. Tuy nhiên thực tiễn vận dụng án treo tại Hải Dương trong thời gian qua bên cạnh những mặt tích cực là chủ yếu, còn làm bộc lộ những hạn chế nhất định trong cả pháp luật thực định và trong quá trình áp dụng các quy định đó. Chẳng hạn như việc vận dụng các quy định về điều kiện cho hưởng 7 án treo hiện nay ở một số địa phương còn không chuẩn xác đó là cho hưởng án treo cả những đối tượng đã có tiền án, tiền sự hoặc ngược lại những người có nhân thân tốt nhất thời phạm tội đáng được xử treo nhưng lại xử giam, có nơi có lúc còn xử quá nhẹ dưới mức 3 năm tù để rồi cho bị cáo được hưởng án treo. Việc thi hành, giám sát, giáo dục đối với người được hưởng án treo trên địa bàn tỉnh Hải Dương ở nhiều xã, phường, thị trấn còn chưa chặt chẽ, thậm chí có nơi không thực hiện việc quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo. Việc phối hợp giữa Tòa án với cơ quan thực hiện việc giám sát, giáo dục và gia đình người được hưởng án treo còn lỏng lẻo, mang tính hình thức dẫn tới việc quản lý, giám sát, giáo dục chưa hiệu quả do vậy vẫn còn trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách. Từ những phân tích trên đây thì việc nghiên cứu một cách sâu rộng và toàn diện về chế định án treo cũng như thực tiễn áp dụng tại địa bàn tỉnh Hải Dương là cần thiết góp phần hoàn thiện hơn các quy định về án treo và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng án treo trên thực tế. Với ý nghĩa đó, chúng tôi chọn và nghiên cứu "Án treo và thực tiễn áp dụng tại địa bàn tỉnh Hải Dương" để làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Án treo là một chế định đặc biệt của pháp luật hình sự và việc áp dụng chế định này có ý nghĩa to lớn đối với việc thực hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội. Vì vậy đề tài cũng đã được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở các cấp độ và mức độ khác nhau. Ở cấp độ giáo trình, có: Giáo trình Luật hình sự của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội... Trong các giáo trình Luật hình sự này chế định án treo mới chỉ cập nhật ở mức độ cơ bản. Ở cấp độ bình luận khoa học, phân tích chuyên sâu, có: "Tội phạm học, luật hình sự và tố tụng hình sự’’, của Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp 8 luật, "Hình phạt trong luật hình sự Việt Nam" (sách chuyên khảo của tập thể nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 1995, "Chế định án tích và mô hình lý luận của nó" của GS.TSKH Lê Cảm; luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Hữu Nhuận với đề tài: "Án treo trong luật hình sự Việt Nam" và một số cuốn sách chuyên khảo như "Án treo trong luật hình sự Việt Nam" của tác giả Phạm Thị Học, Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 1996, "Chế định án treo trong luật hình sự Việt Nam" của tác giả Lê Văn Luật do Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2007... Trong các cuốn bình luận khoa học Bộ luật hình sự và cuốn sách chuyên khảo nêu trên, các tác giả mới chỉ dừng lại ở đề cập một cách tổng thể hoặc từng khía cạnh nào đó của chế định án treo. Ngoài các công trình nghiên cứu nêu trên, còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí như: "Nhân thân người phạm tội và việc áp dụng biện pháp án treo", của Vũ Thế Đoàn, đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/1990; "Điều kiện thử thách của án treo và hậu quả pháp lý của việc vi phạm điều kiện thử thách của án treo theo luật hình sự Việt Nam", của Phạm Thị Học, đăng trên Tạp chí Luật học, số 2 năm 1999; "Án treo và thực tiễn áp dụng", của Đỗ Văn Chỉnh, đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân, số 7/2007 và các số 12, 13, 14/2013. Các công trình nghiên cứu nêu trên đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về án treo trong luật hình sự Việt Nam. Tuy nhiên ở góc độ nghiên cứu những lý luận cao của án treo trong luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại Hải Dương thì chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu. 3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn Mục đích tổng quát của luận văn là làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận của án treo trong luật hình sự Việt Nam, xây dựng và đề xuất một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện chế định án treo trong Bộ luật hình sự và giải pháp nâng cao hiệu quả án treo trong thực tiễn xét xử tại địa bàn tỉnh Hải Dương. 9 Quá trình nghiên cứu của luận văn là tiếp cận tổng thể đi từ cái chung đến cái cụ thể, từ lý luận đến đánh giá thực tiễn để từ đó để tìm ra những nguyên nhân tồn tại, thông qua đó đề ra được các giải pháp nhằm hoàn thiện chế định này. Nhiệm vụ của luận văn là làm rõ khái niệm, tính chất, mục đích, ý nghĩa của chế định án treo trong luật hình sự Việt Nam, tập trung nhất vào chế định hiện hành, đối chiếu, so sánh với luật pháp của một số nước trên thế giới, đánh giá thông qua thực tiễn áp dụng tại địa phương. Thông qua việc nghiên cứu đề tài tác giả mong muốn đưa ra một số giải pháp nhằm sửa đổi bổ sung những quy định cụ thể trong việc áp dụng chế định đặc biệt này nhằm phát huy tác dụng triệt để nhất của chế định án treo trong luật hình sự Việt Nam. 4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Khi nghiên cứu đề tài này tác giả lấy học thuyết Mác - Lênin về vấn đề về Nhà nước và pháp luật làm nền tảng và là kim chỉ nam cho mọi vấn đề cần nghiên cứu. Ngoài ra tác giả còn lấy tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, Nhà nước, các văn bản pháp luật, văn bản hướng dẫn việc áp dụng pháp luật, các văn bản tổng kết thực tiễn và kiểm tra, kiểm sát công tác xét xử hình sự của các Tòa án, Viện kiểm sát trên địa bàn tỉnh Hải Dương, các tài liệu pháp lý trong và ngoài nước có liên quan. Dựa trên phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử nhằm tạo điều kiện cho tác giả có sự nhận thức đúng đắn sự tồn tại và quy luật phát triển của xã hội loài người, quá trình nhận thức, tư duy, các quy luật tự nhiên của xã hội loài người… cũng như những vấn đề về nhà nước và pháp luật để từ đó có một tư duy đúng đắn, lôgic trong quá trình lập luận và giải quyết vấn đề. Phương pháp nghiên cứu luận văn là phương pháp lịch sử, phân tích tổng hợp, logic điều tra xã hội học và nghiên cứu so sánh. 10 5. Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn Đây là một công trình khoa học dưới hình thức là một luận văn thạc sĩ luật học về án treo trong luật hình sự Việt Nam. Đề tài được nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện nội dung chế định án treo trong luật hình sự Việt Nam cùng những vấn đề liên quan, từ đó nâng cao nhận thức về án treo, tạo tiền đề cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Đồng thời định hướng cho việc áp dụng án treo được chính xác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng án treo nói chung và ở tỉnh Hải Dương nói riêng, từ đó góp phần vào cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Luận văn bảo vệ thành công sẽ có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, có thể làm tư liệu tham khảo có giá trị trong việc xây dựng pháp luật hình sự, góp phần khắc phục những khiếm khuyết trong thực tiễn áp dụng và thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo nhằm nâng cao hiệu quả của chế định này. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề chung về án treo. Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về án treo và thực tiễn áp dụng tại địa bàn tỉnh Hải Dương. Chương 3: Hoàn thiện pháp luật hình sự về án treo và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng án treo. 11 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ÁN TREO 1.1. KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT PHÁP LÝ, NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ÁN TREO Tù có thời hạn là một trong những hình phạt chính được quy định trong Bộ luật hình sự đối với người phạm một tội cụ thể có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là hai mươi năm. Theo đó, tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định. Điều 60 Bộ luật hình sự quy định "Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm" [21]. Như vậy, án treo là một biện pháp không buộc người bị phạt tù phải chấp hành hình phạt tại trại giam, không buộc họ phải cách ly khỏi xã hội, họ được tự cải tạo, giáo dục trong môi trường xã hội trong một thời gian thử thách nhất định với sự giám sát, giáo dục và giúp đỡ của các cơ quan hoặc chính quyền địa phương cùng gia đình người bị kết án. Hiện nay đã có nhiều ý kiến khác nhau về án treo. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: "Án treo là án tù không phải thi hành ngay, nhưng sẽ thi hành nếu trong thời gian quy định người bị kết án lại phạm tội và bị xử án lần nữa". Quan điểm này chưa nêu rõ được bản chất pháp lý của án treo. Từ điển Bách khoa toàn thư Mở (Wikipedia) định nghĩa: Án treo là chế định pháp lý hình sự liên quan đến việc chấp hành hình phạt. Án treo được hiểu là việc tạm thời miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, hình phạt đối với người vi phạm luật ở mức độ ít nghiêm trọng, khi bị xử phạt tù không quá ba năm, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ (từ 2 tình tiết 12 trở lên), và xét thấy không cần phải cách ly người phạm tội ra khỏi xã hội mà vẫn có thể cải tạo được, Tòa án có thể miễn chấp hành tại trại giam mà có thể tự cải tạo dưới sự giám sát, quản lý và giáo dục tại địa phương cư trú của chính quyền sở tại. Có nhà khoa học quan niệm ngắn gọn và đầy đủ "Án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù kèm theo một thời gian thử thách nhất định đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm khi có đủ căn cứ và những điều kiện do pháp luật hình sự quy định" [3, tr. 810]. Gần đây, có tác giả thể hiện bản chất pháp lý và ý nghĩa của việc cho hưởng án treo khi viết: Án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện kèm theo một thời gian thử thách đối với người phạm tội, do Tòa án áp dụng khi có những điều kiện do Bộ luật hình sự quy định, xét thấy không cần thiết phải cách ly họ ra khỏi đời sống xã hội mà vẫn bảo đảm công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, cũng như yêu cầu giáo dục, cải tạo người phạm tội [49, tr. 450]. Như vậy, từ những quan điểm trên đây có thể hiểu: Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện được áp dụng đối với người bị phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ xét thấy không cần thiết phải chấp hành hình phạt tù. Việc áp dụng án treo là cần thiết, nó không những thể hiện được những nguyên tắc công bằng, nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự, cá thể hóa hình phạt mà còn thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, thể hiện rõ phương châm trừng trị kết hợp với cải tạo giáo dục, thể hiện sự khoan hồng và nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước ta. Người phạm tội được hưởng án treo không phải chấp hành hình phạt tù trong trại giam, không bị mất tự do, họ vẫn được làm ăn sinh sống trong cộng đồng xã hội. Tuy nhiên, trong thời gian thử thách người phạm tội bị hạn 13 chế một phần quyền tự do của mình so với những người bình thường khác, đó là phải chịu sự quản lý, giám sát, giáo dục của gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú và họ luôn bị răn đe là nếu phạm tội mới thì họ sẽ không được hưởng án treo nữa mà phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới. Án treo vẫn đảm bảo tính răn đe nhưng lại có tác dụng khuyến khích người phạm tội vì nếu họ cải tạo tốt, không vi phạm điều kiện thử thách thì sẽ không phải chấp hành hình phạt tù. Vì người được hưởng án treo được tự giáo dục, cải tạo ngay trong môi trường xã hội nơi họ vẫn sinh sống và lao động nên nó thu hút đông đảo thành viên trong xã hội tham gia theo dõi, giúp đỡ, giáo dục và cải tạo người phạm tội, góp phần xã hội hóa quá trình cải tạo người phạm tội. Điều này có hiệu quả rất cao, giúp người bị kết án thêm tin yêu vào cuộc sống, khơi dậy những phẩm chất tốt đẹp vốn có của chính mình. Việc xã hội hóa quá trình cải tạo người phạm tội cũng chính là góp phần nâng cao ý thức pháp luật và trách nhiệm của quần chúng nhân dân. Trong luật hình sự, hình phạt tù có tính nghiêm khắc, răn đe cao và mang tính giáo dục, cải biến quan niệm, lối sống của phạm nhân một cách sâu sắc. Tuy nhiên, việc áp dụng nó không phải là tối ưu trong mọi trường hợp, nhất là trong điều kiện cơ sở vật chất trại giam còn hạn chế, chật hẹp và điều kiện cải tạo, giáo dục người phạm tội trong trại giam nhiều nơi chưa được thực hiện tốt. Qua thực tiễn cho thấy thì tỷ lệ người bị phạt tù chiếm một tỷ lệ rất lớn trong số các loại hình phạt mà Tòa án đã tuyên đối với các bị cáo bởi lẽ đây cũng là một trong những loại hình phạt rất nghiêm khắc mà Tòa án vận dụng. Nếu tất cả các bị án phạt tù này đều được đưa đi thi hành tại các trại cải tạo thì sẽ là một gánh nặng rất lớn đối với nhà nước về vấn đề con người quản lý giáo dục, về cơ sở vật chất là rất tốn kém. Hơn nữa, theo kết quả điều tra xã hội học và phạm tội học thì trong một số trường hợp người phạm tội vào chấp hành hình phạt tù trong trại giam đã chịu ảnh hưởng xấu của những phạm 14 nhân khác nên hình thành những nhân cách xấu hơn trước khi vào tù và khi ra tù họ trở thành những người còn hung tợn và dễ dàng phạm tội hơn. 1.1.2. Bản chất pháp lý của án treo Theo quy định của các văn bản pháp luật trên thì có thể thấy một người bị phạt tù được hưởng án treo thực hiện theo trình tự: Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm. Như vậy, việc xem xét cho hưởng án treo là một bước của hoạt động quyết định hình phạt, được đặt ra trong trường hợp bị phạt tù từ 3 năm trở xuống. Tòa án đã quyết định một hình phạt đối với người phạm tội, sau đó nếu hình phạt tù là tù từ ba năm trở xuống, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì Tòa án cho hưởng án treo. Như vậy, án treo không phải là hình phạt mà là một biện pháp không bắt người phạm tội phải chấp hành hình phạt tù mặc dù họ đã bị xử phạt tù. Đồng thời cũng quy định người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới. Do đó, nếu người phạm tội cải tạo tốt mà không phạm tội mới trong thời gian thử thách thì họ sẽ không phải chấp hành hình phạt tù mà được miễn chấp hành hình phạt tù. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phạm tội mới và bị xét xử thì người đó không được hưởng án treo nữa và phải chấp hành hình phạt đã tuyên. Khi xem xét quyết định cho người bị phạt tù hưởng án treo Tòa án tin tưởng rằng người đó sẽ tự giáo dục, cải tạo trong môi trường xã hội trong thời gian thử thách nhất định với sự giám sát của gia đình, cơ quan, đơn vị hoặc chính quyền địa phương. Việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo nhằm tạo điều kiện cho người được hưởng án treo làm ăn sinh sống và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã 15 hội bình thường. Hình phạt tù đã tuyên sẽ được thi hành nếu người phạm tội vi phạm điều kiện đã được ấn định trong thời gian thử thách. Người phạm tội không vi phạm điều kiện của án treo trong thời gian thử thách thì chứng tỏ họ đã trở thành người lương thiện, vì vậy không phải chấp hành hình phạt tù đã tuyên trong bản án. Do đó cần khẳng định bản chất pháp lý của án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. 1.1.3. Những đặc điểm cơ bản của án treo Án treo có những đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, án treo là biện pháp giáo dục trong trường hợp không cần cách ly người phạm tội khỏi cộng đồng khi bị xử phạt tù tương đối nhẹ đồng thời là một chế định pháp lý độc lập thể hiện nguyên tắc nhân đạo và phương châm xử lý trong chính sách hình sự của Nhà nước ta "nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục". Thứ hai, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hệ thống hình phạt bao gồm bảy hình phạt chính và chín hình phạt bổ sung (được quy định từ Điều 28 đến Điều 40 Bộ luật hình sự năm 1999), trong đó có hình phạt tù có thời hạn. Người chịu hình phạt tù có thời hạn có thể được hưởng án treo. Trong các loại hình phạt được quy định tại Điều 28 Bộ luật hình sự không có quy định án treo, như vậy không thể coi án treo là hình phạt. Vì mối quan hệ giữa án treo và tù có thời hạn nên nhiều người coi án treo là hình phạt. Tuy nhiên án treo không phải là hình phạt mà chỉ là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Điều đó có nghĩa là người được hưởng án treo là người phạm tội phải chịu hình phạt tù có thời hạn nhưng được miễn việc chấp hành hình phạt tù tại trại giam. Việc cho người phạm tội hưởng án treo là cho phép họ tự cải tạo mà không phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội dưới sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương để họ tích cực cải tạo và tránh được những hình vi sai trái. 16 Thứ ba, người được hưởng án treo phải tự cải tạo, dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương trong một thời gian thử thách nhất định do Tòa án ấn định. Thời gian thử thách là khoảng thời gian nhất định do Tòa án ấn định để kiểm tra, đánh giá việc tự cải tạo của người phạm tội. Pháp luật quy định về thời gian thử thách đối với người phạm tội từ một năm đến năm năm. Thời gian thử thách được Tòa án xác định dựa trên cơ sở mức hình phạt mà người phạm tội phải gánh chịu. Trong trường hợp người phạm tội không phạm tội mới trong thời gian thử thách và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình thì không phải chấp hành hình phạt đã tuyên. Ngược lại, đối với người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định buộc chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định của pháp luật. 1.1.4. Phân biệt án treo với hình phạt cải tạo không giam giữ Khi nghiên cứu hệ thống hình phạt trong luật hình sự Việt Nam ta thấy hình phạt cải tạo không giam giữ, được quy định tại Điều 28, Điều 31 và Điều 73 Bộ luật hình sự có những điểm tương đồng với chế định án treo rất dễ bị nhầm lẫn. Tại Điều 31 Bộ luật hình sự quy định: 1. Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến ba năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng do Bộ luật này quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải bắt cách ly người phạm tội khỏi xã hội. Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ. 17 2. Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục người đó [21]. Người bị kết án phải chịu một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Trong một số trường hợp đặc biệt Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án. Căn cứ vào các quy định của pháp luật thì thấy chế định án treo và hình phạt cải tạo không giam giữ có một số điểm giống nhau là: - Không buộc người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội (Điều 31, Điều 60 Bộ luật hình sự). - Người bị kết án đều được giao cho cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội nơi người đó làm việc hoặc thường trú để giám sát giáo dục (Điều 31, Điều 60 Bộ luật hình sự). - Người bị kết án đều có thể phải chịu thêm một số hình phạt bổ sung. - Người bị kết án đều được đương nhiên xóa án trong thời hạn một năm kể từ ngày chấp hành xong bản án (Điều 63 Bộ luật hình sự). Tuy nhiên giữa hình phạt cải tạo không giam giữ và án treo cũng có những điểm khác nhau căn bản của nó như: - Cải tạo không giam giữ là một loại hình phạt chính được quy định cụ thể trong Điều 28 và Điều 31 của Bộ luật hình sự còn "án treo" là miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện được quy định tại Điều 60 của Bộ luật hình sự. - Phạm vi và điều kiện áp dụng án treo và hình phạt cải tạo không giam giữ có khác nhau như: 18 + Cải tạo không giam giữ chỉ áp dụng cho trường hợp là phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng tức là tội có khung hình phạt cao nhất đến ba năm tù và đến bảy năm tù (theo Điều 8 Bộ luật hình sự), còn đối với án treo không quy định cụ thể được áp dụng đối với loại tội phạm nào (ít nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng). Điều này cho thấy phạm vi áp dụng cho người được hưởng án treo rộng hơn nhiều so với hình phạt cải tạo không giam giữ. + Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng cho người phạm tội bị xử phạt từ sáu tháng đến ba năm (Điều 31 Bộ luật hình sự), nhưng đối với người được hưởng án treo thì phạm vi áp dụng đến ba năm tù mà hình phạt tù quy định từ ba tháng trở lên do đó hình phạt đối với người được hưởng án treo là từ ba tháng đến ba năm như vậy có thể nói là ngắn hơn nhưng họ lại phải chịu thời gian thử thách mà thời gian này tối thiểu là một năm và tối đa là 5 năm. + Điều kiện để người được hưởng án treo tuy có nhiều điểm giống với loại hình phạt cải tạo không giam giữ nhưng điều kiện cho việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ rõ ràng đòi hỏi phải cao hơn so với điều kiện của người được hưởng án treo bởi lẽ hình phạt cải tạo không giam giữ nhẹ hơn so với hình phạt tù khi áp dụng. - Xét về hậu quả pháp lý người bị phạt tù cho hưởng án treo nếu trong thời gian thử thách mà phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của pháp luật vì vậy đối với người bị kết án coi như chưa chấp hành hình phạt của bản án trước. Nhưng đối với hình phạt cải tạo không giam giữ vì không có thời gian thử thách nếu trong thời gian chấp hành hình phạt này nếu họ phạm tội mới thì họ chỉ phải chuyển phần hình phạt cải tạo không giam giữ chưa chấp hành tính từ thời điểm họ phạm tội mới thành hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc hình phạt tù để quyết định hình phạt chung theo nguyên 19 tắc cứ ba ngày cải tạo không giam giữ bằng một ngày tù (Điều 50 Bộ luật hình sự). - Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải chịu một số nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Trong một số trường hợp đặc biệt Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, còn đối với người được hưởng án treo không bị ràng buộc bởi quy định này vì vậy họ không bị khấu trừ thu nhập. 1.2. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ ÁN TREO 1.2.1. Giai đoạn từ sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến trƣớc khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 Án treo là chế định được hình thành rất sớm trong Luật hình sự Việt Nam và được quy định lần đầu tiên tại Sắc lệnh số 33C của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành ngày 13.9.1945. Tại khoản 4 Điều IV của Sắc lệnh quy định: Nếu có những lý do chính đáng khoan hồng vì ít tuổi, vì lầm lẫn… thì Tòa án có thể cho tội nhân được hưởng án treo. Nghĩa là bản án làm tội tuyên lên, nhưng không thi hành; nếu trong năm năm, bắt đầu từ ngày tuyên án, tội nhân không bị Tòa án quân sự làm tội một lần nữa về việc mới, thì bản án đã tuyên sẽ hủy đi, coi như là không có; nếu trong hạn năm năm ấy, tội nhân bị kết án một lần nữa trước Tòa án quân sự thì bản án treo sẽ đem ra thi hành [5]. Theo quy định này thể hiện điều kiện để người bị kết án hưởng án treo; giải thích án treo, quy định thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo và trường hợp người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án mà Tòa án đã cho hưởng án treo. Sau đó, chế định án treo theo Sắc lệnh số 33C bị hủy bỏ và được thay thế bằng Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/02/1946 của Chủ tịch nước Việt Nam dân 20
- Xem thêm -