Skkn vận dụng trò chơi vào dạy học một số bài ngữ văn lớp 10 tại trường thpt lê lai

  • Số trang: 20 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Lê Lai A. ĐẶT VẤN ĐỀ: Sau nhiều cố gắng trong công cuộc đổi mới, ngành giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được nhiều thành tựu rất đáng tự hào, nhưng vẫn còn nhiều điều khiến những người có trách nhiệm đối với ngành, với đất nước phải băn khoăn, trăn trở. Nền giáo dục nước ta hiện nay vẫn còn nặng về thi cử, khoa bảng, coi trọng giáo dục kiến thức mà coi nhẹ rèn luyện kỹ năng, với nội dung giảng dạy “ổn định, đơn điệu”. Mục tiêu dạy và học vẫn là để thuộc bài, nhớ bài và sao chép lại tri thức. Trong việc giảng dạy bộ môn Ngữ Văn ở trường trung học phổ thông Lê Lai, tình trạng “thầy đọc trò chép” cũng vẫn còn phổ biến. Giáo viên ở đây còn nặng về thuyết trình, áp đặt, nhồi nhét, độc thoại một chiều. Người học thì chưa chủ động, chưa tích cực, tinh thần sáng tạo chưa cao, thói quen tự suy nghĩ, tự tìm tòi, chủ động giải quyết vấn đề còn rất hạn chế. Cách dạy đó đi ngược lại với bản chất của văn chương, đi ngược lại với nguyên tắc dạy học, tách học sinh người đọc ra khỏi tác phẩm, làm cho học sinh không có dịp đối diện với văn bản, do đó không có thói quen tự mình khám phá văn bản và tất nhiên đánh mất luôn năng lực tự học của các em. Vì thế, học sinh thờ ơ, lãnh đạm với văn chương, nhất là văn chương trung đại trong chương trình Ngữ Văn lớp 10; các em thấy chán ghét môn Văn, thậm chí… ghét luôn cả giáo viên dạy Văn. Và trong các kỳ thi, thì điểm số môn học này thường không cao và đã có không ít bài văn dở khóc dở cười. Trong khi đó, một giáo viên dạy Ngữ văn giỏi phải là người biết tổ chức cho học sinh hoạt động. Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh, dạy học sinh cách tìm ra chân lí. Muốn vậy giáo viên phải biết lựa chọn và vận dụng phương pháp dạy học phù hợp với đặc điểm môn học, phải biết tổ chức cho học sinh những hoạt động học tập thú vị, hấp dẫn và có hiệu quả để vừa phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, vừa rèn luyện được thói quen, khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn của học sinh, vừa tạo được niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập cho các em, đồng thời đạt được mục tiêu bài học. Để khắc phục tình trạng này, theo tôi, không còn cách nào khác là giáo viên phải đổi mới cách dạy, học sinh phải đổi mới cách học, trong đó vận dụng trò chơi vào dạy - học môn Ngữ Văn ở trường trung học phổ thông Lê Lai nói chung và chương trình Ngữ văn lớp 10 nói riêng là một giải pháp khả thi và có hiệu quả. Việc tổ chức trò chơi trong dạy học Ngữ Văn là một cách tổ chức dạy học tích cực, nó góp phần quan trọng giúp giáo viên thực hiện tốt mục tiêu của chương trình. Vì những lí do như trên, tôi đã quyết định: “Vận dụng trò chơi vào dạy học một số bài Ngữ Văn lớp 10 tại trường THPT Lê Lai” nhắm nâng cao hiệu quả giờ dạy Ngữ Văn. 1 Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Lê Lai B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. CƠ SỞ LÝ LUẬN: 1. Phương pháp dạy học và vấn đề đổi mới phương pháp dạy học: Đổi mới phương pháp dạy học là thay đổi phương pháp dạy học trên cơ sở cải tiến hoàn thiện các phương pháp cũ, vận dụng những phương pháp mới, kết hợp với việc sử dụng các thiết bị kỹ thuật hiện đại, các phương tiện truyền thông đa phương tiện nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, đáp ứng yêu cầu giáo dục của nhà trường và sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII (1/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII (12/1996), được thể chế hoá trong Luật Giáo dục (2005), được cụ thể hoá trong các Chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 14 (4/1999). Điều 28.2 trong Luật Giáo dục (2005) đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh”. Cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông thực hiện theo các yêu cầu sau: - Dạy học tiến hành thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh. - Dạy học kết hợp giữa học tập cá thể với học tập hợp tác; giữa hình thức học cá nhân với hình thức học theo nhóm, theo lớp. - Dạy học thể hiện mối quan hệ tích cực, dân chủ giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với nhau. - Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện các kỹ năng, năng lực, tăng cường thực hành và gắn nội dung bài học với thực tiễn đời sống. - Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, năng lực tự học, tự nghiên cứu; tạo niềm vui, hứng thú, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho học sinh. - Dạy học chú trọng đến việc sử dụng có hiệu quả phương tiện, thiết bị dạy học được trang bị họăc do giáo viên tự làm, đặc biệt lưu ý đến những ứng dụng của công nghệ thông tin. - Dạy học chú trọng đến việc đa dạng nội dung, các hình thức, cách thức đánh giá và tăng cường hiệu quả việc đánh giá. Trong việc đổi mới phương pháp dạy học, thì việc tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh có một vai trò hết sức quan trọng. 2 Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Lê Lai 2. Phương pháp dạy học tích cực: Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp dạy học hướng tới phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, nghĩa là hướng vào phát huy tính tích cực, chủ động của người học chứ không chỉ hướng vào phát huy tính tích cực của người dạy. Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực là: - Dạy học tăng cường phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tự tin thông qua tổ chức thực hiện các hoạt động học tập của học sinh. - Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp và phát huy năng lực tự học để người học có thể học tập suốt đời. - Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác. - Kết hợp đánh giá của thầy với đánh giá của bạn, với tự đánh giá của trò. - Tăng cường khả năng vận dụng vào thực tế, phù hợp với điều kiện thực tế về cơ sở vật chất, về đội ngũ giáo viên, khả năng của học sinh, tối ưu các điều kiện hiện có. Sử dụng các phương tiện dạy học, thiết bị dạy học hiện đại khi có điều kiện. - Giáo viên: thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn. Những phương pháp dạy và học tích cực: Vấn đáp, đàm thoại; dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề; dạy và học hợp tác nhóm nhỏ; dạy và học theo dự án; đóng vai; dạy và học thông qua việc tổ chức trò chơi… 3. Đặc điểm bộ môn Ngữ Văn: Môn Ngữ Văn ở nhà trường là một môn học vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật và bản chất của nó là môn dạy đọc văn chứ không phải đơn thuần là giảng văn hay phân tích văn học. Mục tiêu của chương trình Ngữ Văn ở nhà trường THPT là đào tạo cho học sinh năng lực nghe, nói, đọc, viết, đặc biệt là yêu cầu đọc văn và làm văn, đảm bảo năng lực tự học sau này. Dạy Văn là dạy cho học sinh phương pháp đọc, kỹ năng đọc, năng lực đọc để học sinh có thể đọc - hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại. Từ đọc - hiểu văn mà trực tiếp tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính. Người dạy văn không phải chỉ giảng cho học sinh nghe, đọc cho học sinh chép lại cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương do mình khám phá, cảm nhận mà phải biết “biến tác phẩm của nhà văn thành tác phẩm của học sinh” (TS. Hồ Ngọc Đại), phải “trả tác phẩm về cho học sinh” (TS. Nguyễn Quang Trung). Đó là con đường duy nhất để bồi dưỡng cho học sinh năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm mỹ. 3 Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Lê Lai Vì thế, sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành đã lấy nội dung đọc - hiểu văn bản là chính và đọc - hiểu đó trước hết là hoạt động của học sinh. Một giáo viên dạy Ngữ Văn giỏi phải là người biết tổ chức cho học sinh hoạt động. Vận dụng trò chơi là một cách dạy học tích cực vào giảng dạy sẽ góp phần quan trọng giúp giáo viên thực hiện tốt mục tiêu của chương trình Ngữ Văn ở nhà trường THPT. II. THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY NGỮ VĂN LỚP 10 TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LÊ LAI Tại trường trung học phổ thông Lê Lai, giáo viên bộ môn Ngữ Văn đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy. Nhưng trên thực tế giảng dạy Ngữ Văn nói chung và việc giảng dạy Ngữ Văn 10 nói riêng, nhiều giáo viên vẫn quen với cách dạy “giảng văn” truyền thống nên họ vẫn nói tới việc tích cực hoá hoạt động của học sinh một cách chung chung như một nguyên tắc mà không tổ chức cho các em hoạt động để tự chiếm lĩnh tri thức, hầu hết giáo viên vẫn truyền đạt kiến thức một chiều mà ít để ý đến việc thông qua dạy kiến thức để dạy học sinh cách suy luận khoa học, cách suy nghĩ, cách giải quyết các vấn đề một cách thông minh, độc lập, sáng tạo. Giáo viên vẫn “đọc” thay, “hiểu” thay cho học sinh rồi giảng giải tràn lan, liên tục, “nói mất phần trò”, áp đặt cách cảm, cách hiểu của mình cho học sinh, mà coi nhẹ việc đào tạo năng lực tự đọc cho các em. Thầy chỉ thưởng thức văn chương hộ rồi giảng lại cái hay, cái đẹp cho trò chép mà chưa coi trọng các cảm thụ, thể nghiệm, lý giải chủ quan của học sinh để từ đó nâng trình độ của học sinh lên trình độ khoa học. Giáo viên vẫn soạn bài để thuyết giảng là chủ yếu, câu hỏi đưa ra cho học sinh (nếu có) thì tuỳ hứng, vụn vặt, thiếu hệ thống và chỉ là bước đệm cho lời giảng của giáo viên mà thôi. Thành thử đọc tác phẩm học sinh thấy “hay” cũng là “hay” của thầy, ”đẹp” cũng là “đẹp” của thầy, rồi vui - buồn, yêu - ghét, xúc động… đều “mượn” của thầy và phải theo thầy. Một số giáo viên đã có sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp nêu vấn đề, đặt câu hỏi. Tuy nhiên, chừng ấy chưa đủ để giờ học sôi nổi, hứng thú. Đây lại chính là điều rất cần trong giờ dạy Ngữ Văn. Mặt khác, trường trung học phổ thông Lê Lai là một trường miền núi, lực học của học sinh hầu hết rất yếu. Minh chứng cho điều này là điểm xét tuyển của các em khi vào trường rất thấp, nếu các em không có điểm liệt (điểm 0) thì được đậu vào trường. Vì vậy, có nhiều em khi đậu vào lớp 10 điểm môn Ngữ Văn chỉ đạt 0,25 hay 0,5. Đại đa phần các em chỉ đạt điểm dưới trung bình. Trong mỗi khóa học những em đạt điểm 5 trở lên chỉ đếm trên đầu ngón tay. Trong khi đó bộ môn Ngữ Văn yêu cầu học sinh ít nhiều phải có tư chất, có năng khiếu, ít nhất cũng phải là ham học, ham đọc, ham tìm tòi, nhất là đối với 4 Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Lê Lai văn thơ trung đại, một mảng văn thơ khá xa lạ với các em về tư tưởng, văn hóa, ngôn ngữ... Từ thực trạng trên, ta thấy nếu cả giáo viên và học sinh đều có những hạn chế mà chúng ta không chịu tìm tòi, tổ chức tiết học cho tốt thì giờ dạy Văn học trung đại sẽ trở nên khô khan, thiếu hứng thú, kém hiệu quả. Bởi vậy, thiết nghĩ vận dụng được các trò chơi trong giờ Đọc văn lớp 10 sẽ phần nào tạo được không khí thoải mái, tạo được hứng thú cho học sinh trong quá trình học bài và giúp các em tiếp nhận kiến thức tốt hơn. Tiết học nhờ vậy sẽ có không khí dân chủ, thân thiện hơn. III. NHỮNG LƯU Ý KHI VẬN DỤNG TRÒ CHƠI VÀO GIẢNG DẠY MỘT SỐ BÀI ĐỌC VĂN LỚP 10 1. Khái niệm trò chơi: Trò chơi không chỉ là một hoạt động tự nhiên và cần thiết nhằm thoả mãn nhu cầu giải trí đa dạng của con người mà đó còn vai trò giáo dục hết sức to lớn. Qua trò chơi, người chơi không chỉ được phát triển về các mặt trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ mà còn hình thành nhiều phẩm chất và hành vi tích cực. Chính vì vậy, trò chơi được sử dụng như một phương pháp dạy học hữu hiệu. 2. Đặc điểm của vận dụng trò chơi trong giảng dạy Ngữ văn lớp 10: - Các trò chơi trí tuệ với sự tham gia tích cực của học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên là trung tâm của hoạt động dạy học. Vì vậy, yêu cầu cốt yếu khi vận dụng nó, giáo viên phải sáng tạo ra được các trò chơi và tổ chức thực hiện tốt các trò chơi đó. - Vai trò của học sinh được đẩy lên hàng đầu, trong đó hoạt động thảo luận, hợp tác trong nhóm chơi, đội chơi từ khâu chuẩn bị cho đến khi kết thúc quá trình chơi là hoạt động cốt lõi. - Giáo viên có vai trò vừa là người biên soạn, vừa là người viết kịch, vừa là tổng đạo diễn, vừa là diễn viên, vừa là kỹ thuật viên, vừa là giám khảo, vừa là cố vấn, vừa là người dẫn chương trình, vừa là một giáo viên bình thường trên lớp… - Khâu chuẩn bị (đối với cả giáo viên học sinh) có ý nghĩa hết sức quan trọng, đòi hỏi phải đầu tư nhiều thời gian và công sức. - Các phương tiện dạy và học (sách giáo khoa, sách giáo viên, các tài liệu tham khảo, máy vi tính và projector, máy chiếu hắt, băng hình, băng cassette, tranh ảnh, giấy khổ to, bảng con, bút dạ, kéo cắt, băng keo, các đồ dùng dạy học tự làm khác…) được sử dụng nhiều và phát huy tối đa tác dụng. 3. Mục tiêu của việc vận dụng trò chơi trong giảng dạy Ngữ Văn: 3.1. Về nhận thức: Giúp học sinh có cơ hội nắm vững kiến thức cả về chiều rộng lẫn chiều sâu thông qua các trò chơi trí tuệ. 5 Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Lê Lai 3.2. Về kỹ năng: - Giúp học sinh phát triển năng lực tự học, tự đọc, đặc biệt là biết tư duy, biết tự cảm nhận cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương. - Rèn luyện cho học sinh năng lực học tập theo nhóm, kỹ năng tranh luận, phát biểu trước đám đông, kỹ năng xử lý tình huống…để khi ra trường có thể chịu được áp lực của môi trường sống, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng có thể làm việc độc lập, đồng thời có khả năng thích ứng với môi trường học tập ở cấp học cao hơn 3.3. Về thái độ: Giúp học sinh: - Cảm thấy thoải mái, nhẹ nhàng, hứng thú trong việc học. - Thấy gắn bó, yêu thích môn học và sự học. - Thấy được những giá trị của hoạt động tập thể đối với bản thân. 4. Yêu cầu khi tổ chức trò chơi trong giảng dạy giờ Đọc văn lớp 10 4.1. Yêu cầu chung: Ở cấp 2, 3, các trò chơi thiên về tư duy, đòi hỏi phức tạp hơn. Trong giờ Đọc văn, cái đích cuối cùng của trò chơi sẽ xoay quanh tri thức và kĩ năng văn học, ngôn ngữ. Giáo viên cần xác định rõ mục đích chơi; chọn những bài học có khả năng tổ chức trò chơi (thường là những tiết ôn tập, bài khái quát về tác giả, bài tìm hiểu tác phẩm...) Trò chơi phải phù hợp quỹ thời gian, điều kiện thực tế của lớp học. Nên tổ chức trò chơi trong một khoảng thời gian nhất định trong tiết học như phần củng cố kiến thức cuối giờ đối với bài Đọc- hiểu tác phẩm, hoặc sau mỗi phần đối với bài khái quát, bài về tác gia văn học, bài ôn tập... không nên tổ chức hết cả tiết để đảm bảo đúng yêu cầu của một giờ dạy văn. Trong cả năm học, có thể áp dụng nhiều trò chơi khác nhau, tránh để lặp đi lặp lại gây nhàm chán. 4.2. Yêu cầu đối với giáo viên: - Lựa chọn trò chơi phải dễ tổ chức và thực hiện, tạo được hứng thú, phấn khởi với người chơi, phù hợp với đối tượng chơi, số lượng người chơi, nội dung bài học, thời lượng cho hoạt động, với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của lớp học. Đồng thời phải đạt được hiệu quả giáo dục. - Giáo viên cần phải chuẩn bị đầy đủ, kỹ càng nội dung giảng dạy và cách tổ chức trò chơi kèm theo các dụng cụ cần thiết, kiểm tra công tác chuẩn bị của các đội chơi cũng như các thiết bị máy móc, kỹ thuật hỗ trợ, đồng thời phải biết dự đoán trước mọi tình huống có thể xảy ra và hướng giải quyết để không bị bất ngờ. Giáo viên phải nghiên cứu kỹ, nắm rõ ý nghĩa và mục tiêu của từng trò chơi để khai thác hết các khía cạnh tích cực của nó. - Giáo viên với tư cách là người dẫn chương trình phải tự tin; mềm dẻo; chân tình, thân thiện, vui tươi, hài hước; biết làm chủ thời gian, kiểm soát được 6 Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Lê Lai tiến trình hoạt động; biết đảm nhận nhiều vai trò khác nhau: người tư vấn, người xúc tác, người nghe, người thầy, người bạn…; luôn chú ý lắng nghe và tỏ thái độ quan tâm, tôn trọng , khuyến khích, động viên, biểu dương học sinh; khi bắt lỗi và cho điểm phải khách quan, chính xác, công bằng. Câu hỏi giáo viên sử dụng trong các phần chơi phải đa dạng, trọng tâm, then chốt, có tình huống, phù hợp với trình độ của học sinh, thu hút được sự chú ý, kích thích hứng thú tìm tòi của học sinh, buộc học sinh phải suy nghĩ và có hứng thú bộc lộ cảm nghĩ của mình, đồng thời đảm bảo tính hệ thống, có khả năng tích hợp và kết nối kiến thức của bài học. Ngôn ngữ trong câu hỏi phải trong sáng, rõ ràng; Những thiết bị kỹ thuật đa phương tiện nên sử dụng hợp lý. - Người dạy phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện cho học sinh tham gia tất cả các khâu: từ chuẩn bị, tiến hành trò chơi và đánh giá sau khi chơi; khuyến khích học sinh phát huy sáng kiến trong phạm vi luật của trò chơi. 4.3. Yêu cầu đối với học sinh: - Học sinh phải có tài liệu học tập, tài liệu tham khảo; có ý thức học tập cao và sẵn sàng hợp tác. Để thực hiện tốt tiết học, giáo viên cần hướng dẫn trước cho học sinh chuẩn bị bài học ở nhà thật kĩ, lưu ý các em phần trọng tâm bài học. - Mỗi học sinh, mỗi nhóm chơi cần đưa ra những nguyên tắc chung, thống nhất mà mọi người đều đồng ý. Mỗi thành viên trong đội chơi cần phải làm quen với cách thức hoạt động của cả đội. - Mỗi thành viên phải luôn cố gắng liên tục phát biểu những ý kiến, đặt ra những câu hỏi hay đưa ra những giải pháp; luôn chia sẻ những kinh nghiệm cũng như hiểu biết của mình về vấn đề đang thảo luận với cả đội; cố gắng để hiểu ý kiến, quan điểm của các thành viên khác, không chỉ trích người khác nếu người đó đưa ra một quan điểm trái ngược với mình hoặc mình không đồng ý; không ngại hỏi những điều mình chưa biết hoặc thắc mắc; phải thể hiện tinh thần hợp tác hết mình với cả đội từ khâu chuẩn bị cho đến khi kết thúc bài học, tuyệt đối không “ăn theo”, không phụ thuộc, dựa dẫm vào các thành viên khác trong đội. - Trước mỗi phần chơi, học sinh phải nắm được quy tắc chơi và tôn trọng luật chơi, có quyền yêu cầu người dẫn chương trình phổ biến lại nếu chưa rõ. - Tham gia các phần chơi với tâm lý vui tươi, thoải mái, nhiệt tình hết mình; trong quá trình chơi phải thể hiện rõ tinh thần giao lưu, học hỏi, không nên quá coi trọng thắng thua. 7 Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Lê Lai IV. TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG GIẢNG DẠY MỘT SỐ BÀI ĐỌC VĂN LỚP 10: 1. Trò chơi “Tích luỹ”: 1.1. Chuẩn bị: * Giáo viên: Chuẩn bị một hệ thống câu hỏi và đáp án về những vấn đề thuộc phạm vi kiến thức của bài học (số lượng câu hỏi cho mỗi đội chơi tuỳ theo từng bài, chủ yếu là những câu hỏi ghi nhớ, tái hiện, suy nghĩ và trả lời trong thời gian ngắn). * Học sinh: Đọc kỹ các nội dung trong sách giáo khoa; Tham khảo thêm các tài liệu liên quan;Trả lời các câu hỏi phần hướng dẫn học bài. 1.2. Thực hiện: *Cách 1: Giáo viên chia các câu hỏi thành các gói nhỏ (tuỳ theo số đội chơi), rồi lần lượt mời học sinh lên bắt thăm gói câu hỏi, thảo luận trong nhóm và cử đại diện lên trả lời. Thời gian suy nghĩ - thảo luận và điểm số cho mỗi câu hỏi do giáo viên quy định (tuỳ theo đối tượng học sinh và đặc điểm bài học). Kết thúc phần chơi, giáo viên đánh giá, biểu dương, động viên tinh thần và tổng kết điểm của các nhóm chơi sau đó chuyển sang phần chơi tiếp theo. *Cách 2: Ở phần chơi này người dẫn chương trình sẽ lần lượt đưa ra các câu hỏi cho các nhóm (bắt đầu từ nhóm 1). Sau một thời gian suy nghĩ - thảo luận nhóm sẽ đưa ra câu trả lời, mỗi câu trả lời đúng sẽ được điểm. Hết thời gian suy nghĩ thảo luận, nếu nhóm được hỏi không có câu trả lời hoặc trả lời chưa chính xác thì các nhóm khác sẽ giành quyền trả lời. Số lượng câu hỏi, thời gian suy nghĩ thảo luận và điểm số cho mỗi câu hỏi do giáo viên quy định (tuỳ theo đối tượng học sinh và đặc điểm bài học). Kết thúc phần chơi, giáo viên đánh giá, biểu dương, động viên tinh thần và tổng kết điểm của các nhóm. Ví dụ: Khi tổ chức dạy học bài “Tổng quan văn học Việt Nam”, giáo viên có thể thiết kế các câu hỏi như sau: - Văn học Việt Nam gồm mấy bộ phận lớn? - Văn học dân gian do lực lượng nào sáng tác? - Văn học viết từ xưa tới nay về cơ bản được viết bằng những ngôn ngữ nào? - Văn học trung đại Việt Nam bắt đầu từ thế kỷ thứ mấy? … 1.3. Một số lưu ý khi vận dụng: - Đáp án các câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng. - Phạm vi, mức độ kiến thức trong mỗi gói câu hỏi và giữa các gói câu hỏi phải tương đương nhau; có thể sử dụng cả các câu hỏi trắc nghiệm với nhiều phương án trả lời. 8 Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Lê Lai - Giáo viên phải bấm thời gian thật chính xác để đảm bảo công bằng cho các đội (có thể nhờ một học sinh làm công việc này). - Trò chơi có thể áp dụng đối với các dạng bài: Tổng quan văn học, khái quát văn học giai đoạn, tác gia văn học, ôn tập văn học giai đoạn. - Trò chơi này có thể tổ chức trước hoặc sau khi học xong một phần kiến thức của bài học, cũng có thể sử dụng cho phần tổng kết tiết học. 2. Trò chơi “Giải ô chữ” 2.1. Chuẩn bị: * Giáo viên: - Chuẩn bị giấy khổ to (có vẽ sẵn các ô chữ, số lượng các hàng ngang tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng bài học và đối tượng học sinh) và bút dạ. Nếu có điều kiện giáo viên có thể thiết kế ô chữ trên máy tính sau đó dùng máy chiếu đa năng hỗ trợ. - Chuẩn bị một hệ thống các câu hỏi và đáp án về những vấn đề thuộc phạm vi kiến thức của bài học tương ứng với các ô chữ (hàng ngang và từ chìa khoá). * Học sinh: Đọc sách giáo khoa. 2.2. Thực hiện: Giáo viên sẽ đưa ra một số câu hỏi tương đương với một số từ (hoặc cụm từ) hàng ngang (số lượng từ hàng ngang tuỳ theo từng bài học), mỗi từ sẽ có một đến hai chữ cái thuộc từ chìa khoá. Các nhóm (bắt đầu từ nhóm thứ nhất) sẽ lần lượt lựa chọn các hàng ngang, hết thời gian suy nghĩ các nhóm sẽ đưa ra đáp án (viết ra giấy khổ to hoặc bảng con). Sau lượt lựa chọn thứ nhất các nhóm có quyền trả lời từ chìa khoá, trả lời đúng từ chìa khoá trước khi có gợi ý của giáo viên sẽ có điểm cao hơn sau khi có gợi ý. Thời gian suy nghĩ - thảo luận và điểm số cho mỗi câu hỏi do giáo viên quy định (tuỳ theo đối tượng học sinh và đặc điểm bài học). Kết thúc phần chơi, giáo viên đánh giá, biểu dương, động viên tinh thần và tổng kết điểm của các nhóm chơi. Ví dụ: Khi tổ chức dạy học bài: “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi – Phần một: Tác giả, giáo viên có thể thiết kế các câu hỏi như sau: + Hàng ngang thứ nhất là một cụm từ gồm có 8 chữ cái: Đây là tên một tác phẩm của Nguyễn Trãi, được xem là bộ sách địa lý cổ nhất của Việt Nam. -> Trả lời: DƯ ĐỊA CHÍ (chữ cái của từ chìa khoá là: I) + Hàng ngang thứ hai là một cụm từ gồm có 9 chữ cái: Đây là nơi Nguyễn Trãi đã phải chịu nỗi oan khiên thảm khốc rồi bị khép vào tội “tru di tam tộc” (giết cả ba họ). -> Trả lời: LỆ CHI VIÊN (chữ cái của từ chìa khoá là: H và N) + Hàng ngang thứ ba là một cụm từ gồm có 12 chữ cái: Đây là tên một tập thơ của Nguyễn Trãi được xem là bông hoa đầu mùa của văn học chữ Nôm. 9 Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Lê Lai -> Trả lời: QUỐC ÂM THI TẬP (chữ cái của từ chìa khoá là: Â). + Hàng ngang thứ 4 là một từ gồm có 4 chữ cái: Đây là một loài cây có sức sống khoẻ khoắn, có phẩm chất tốt đẹp tượng trưng cho người quân tử được nhắc đến trong thơ Nguyễn Trãi. -> Trả lời: TÙNG (chữ cái của từ chìa khoá là: N). + Hàng ngang thứ 5 là một cụm từ gồm có 10 chữ cái: Đây là một đối tương được đề cập nhiều trong thơ Nguyễn Trãi. -> Trả lời: THIÊN NHIÊN (chữ cái của từ chìa khoá là: H). + Hàng ngang thứ 6 là một cụm từ gồm có 12 chữ cái: Tác phẩm “ Đại cáo bình Ngô” được Nguyễn Trãi viết theo thể loại này. -> Trả lời: VĂN CHÍNH LUẬN (chữ cái của từ chìa khoá là: N). + Hàng ngang thứ 7 là một từ gồm có 11 chữ cái: Đây là vị vua đã minh oan cho Nguyễn Trãi và cho sưu tầm lại thơ văn của ông. -> Trả lời: LÊ THÁNH TÔNG (chữ cái của từ chìa khoá là: G). + Hàng ngang thứ 8 là một cụm từ gồm có 13 chữ cái: Đây là nơi Nguyễn Trãi bị giặc Minh giam lỏng. -> Trả lời: THÀNH ĐÔNG QUAN (chữ cái của từ chìa khoá là: A). + Gợi ý trả lời từ chìa khoá: Từ chìa khoá là một từ gồm có 9 chữ cái: Đây là một trong những tư tưởng chủ đạo xuyên suốt các áng văn chính luận của Nguyễn Trãi. -> Trả lời: NHÂN NGHĨA. Ô chữ như sau: Q V T D Ư Đ Ị A C H Í L Ệ C H I V I Ê N U Ố C  M T H I T T Ù N G Ậ T H I Ê N N H I Ê N Ă N C H Í N H L U Ậ N L Ê T H Á N H T Ô N G H À N H Đ Ô N G Q U A P N 10 Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Lê Lai 2.3. Một số lưu ý khi vận dụng: - Từ hàng ngang không nên quá dài. - Số lượng từ hàng ngang ít nhất phải được 2 vòng chơi (gấp đôi số lượng đội chơi). - Không hỏi về những cụm từ phiên âm từ tiếng nước ngoài. - Sau khi học sinh trả lời xong mỗi từ (hoặc cụm từ) hàng ngang, giáo viên nên dừng lại giảng giải cho cả lớp hiểu rõ hơn về ý nghĩa của từ (hoặc cụm từ) đó trước khi hỏi câu hỏi về từ (hoặc cụm từ) hàng ngang tiếp theo. - Trò chơi này nên áp dụng nhiều đối với các dạng bài: Tổng quan văn học, khái quát văn học giai đoạn, tác gia văn học, ôn tập văn học giai đoạn. - Giáo viên có thể vận dụng trò chơi cho phần tạo tâm thế- giới thiệu bài mới hoặc phần củng cố bài học, cũng có thể tổ chức giữa giờ. 3. Trò chơi “Đối mặt” 3.1. Chuẩn bị: * Giáo viên: Chuẩn bị một hệ thống câu hỏi và đáp án về những vấn đề thuộc phạm vi kiến thức của bài học (số lượng câu hỏi tuỳ theo từng bài, chủ yếu là những câu hỏi liệt kê sự vật, nhân vật, hiện tượng…). * Học sinh: - Đọc các nội dung trong sách giáo khoa. - Tham khảo thêm các tài liệu liên quan. - Trả lời các câu hỏi phần hướng dẫn học bài. 3.2. Thực hiện: - Giáo viên đọc trước các câu hỏi cho học sinh thảo luận trong một thời gian nhất định sau đó yêu cầu một số em lên tham gia phần thi. - Sau khi đủ số lượng theo yêu cầu, giáo viên yêu cầu người chơi đứng thành hàng và đọc câu hỏi (có nhiều đáp án). Mỗi người, mỗi lần chỉ trả lời một đáp án sau đó chuyển sang người tiếp theo. Đến lượt, người nào không trả lời được người đó sẽ bị loại. Kết thúc phần chơi, giáo viên sẽ chọn ra một người chơi xuất sắc nhất (người còn lại cuối cùng) và cho điểm đội chơi mà người đó đại diện (điểm số do giáo viên quy định), đồng thời đánh giá, biểu dương, động viên tinh thần tham gia trò chơi của học sinh. Ví dụ: Khi dạy bài “Ôn tập văn học dân gian Việt Nam” có thể yêu cầu học sinh liệt kê các thể loại văn học dân gian hoặc kể tên các tác phẩm thuộc một thể loại nào đấy. Hoặc khi dạy bài: “Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa” có thể yêu cầu học sinh liệt kê những câu ca dao bắt đầu bằng hai chữ “thân em”… 11 Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Lê Lai 3.3. Một số lưu ý khi vận dụng: - Trò chơi này có thể tổ chức ở đầu tiết học- phần tạo tâm thế, hoặc có thể tổ chức ở phần cuối tiết học- phần củng cố. Và có thể vận dụng ở các bài giảng văn: Ca dao than thân yêu thương tình nghĩa, Ca dao hài hước, bài Ôn tập văn học dân gian Việt Nam, Kkhái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX... - Nên chọn những câu hỏi càng nhiều đáp án càng tốt, nhưng ít nhất phải có 10 đáp án trở lên. - Giáo viên phải nhanh nhạy, quyết đoán để phán xét nhanh chóng các đáp án mà người chơi đưa ra, tránh tình trạng người chơi đưa ra đáp án đúng nhưng người dẫn chương trình lại nói sai và ngược lại. - Nếu thời gian (dự kiến) cho phần chơi đã hết mà những người chơi vẫn chưa phân thắng bại hoàn toàn, thì giáo viên có thể dừng cuộc chơi và cho điểm tất cả các đội chơi có đại diện còn lại đến thời điểm đó để không lấn thời gian của tiết học. 4. Trò chơi “Gợi ý – trả lời” 4.1. Chuẩn bị: * Giáo viên: Chuẩn bị một hệ thống các từ (cụm từ, câu) chuyển tải những nội dung kiến thức thuộc phạm vi bài học và dự kiến các câu gợi ý tương ứng với các vấn đề đó; sau đó chia đều thành các gói nhỏ. * Học sinh: - Đọc kỹ sách và tóm tắt lại các nội dung trong sách giáo khoa. - Tham khảo thêm các tài liệu liên quan. 4.2. Thực hiện: Giáo viên gọi 2 người tham gia trò chơi (một người gợi ý và một người trả lời). Người chơi sẽ bước lên bục giảng, người gợi ý và người trả lời quay lưng lại với nhau (người gợi ý quay mặt lên màn hình máy chiếu) và lựa chọn gói từ ngữ. Sau một thời gian suy nghĩ, người gợi ý sẽ đưa ra câu gợi ý cho các từ ngữ mà giáo viên đưa ra (gói từ ngữ này hiện lên màn hình máy chiếu), người trả lời nếu trả lời đúng sẽ được điểm. Từ nào khó, chưa thể đặt câu gợi ý, người gợi ý có thể bỏ qua để chuyển sang từ tiếp theo. Trong câu gợi ý, người gợi ý tuyệt đối không được nhắc đến những từ có trong đáp án. Số lượng từ (cụm từ), thời gian suy nghĩ trả lời và điểm số cho mỗi câu hỏi do giáo viên quy định (tuỳ theo đối tượng học sinh và đặc điểm bài học). Ví dụ: Khi dạy bài: “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu, giáo viên có thể đưa ra các từ như: Thăng Phủ, Thái bảo, Bạch Đằng, phú, tráng chí, Tử Trường, tự hào, bô lão, con người… Các câu gợi ý tương ứng là: 12 Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Lê Lai - Tên tự của Trương Hán Siêu là gì? - Khi mất Trương Hán Siêu được nhà vua tặng tước này. - Đây là tên một dòng sông đã từng ghi dấu nhiều chiến công vang dội trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta. - Đây là một thể văn có vần hoặc xen lẫn văn vần và văn xuôi dùng để tả cảnh vật, phong tục, kể sự việc, bàn chuyện đời…;bố cục thường có bốn phần. - Đây là tên một sử gia nổi tiếng vào thời Hán ở Trung Quốc được Trương Hán Siêu nhắc đến trong phần đầu của bài phú. - Từ này chỉ cảm xúc của nhân vật “khách” trước khung cảnh thiên nhiên sông Bạch Đằng (bắt đầu bằng chữ “T”). - Đây là một nhân vật xuất hiện trong bài phú để kể lại chiến tích trên sông Bạch Đằng cho khách nghe. - Qua lời kể của các bô lão thì đây là yếu tố giữ vai trò quan trọng nhất làm nên chiến thắng Bạch Đằng. … 4.3. Một số lưu ý khi vận dụng: - Các gói từ (cụm từ, câu) phải có mức độ tương đương nhau. - Trước khi bắt đầu phần chơi phải quán triệt các tất cả các thành viên trong lớp không được nhắc đáp án cho người chơi, nếu thành viên của đội nào vi phạm, đội đó sẽ bị trừ điểm. - Hết phần chơi của mỗi đôi giáo viên nên giảng giải rõ thêm về những nội dung kiến thức được chuyển tải qua các từ ngữ vừa trả lời trước khi chuyển sang phần chơi của đội tiếp theo. 5. Trò chơi “Chiếc nón kỳ diệu” 5.1. Chuẩn bị: * Giáo viên: - Làm một vật hình tròn (có thể bằng gỗ, bìa cứng, ván ép…) có thể quay xung quanh một trục, trên có các cọc phân thành các ô nhỏ, trong các ô này ghi điểm số (10, 20, 30, 40…), bên cạnh là một cần gạt. - Chuẩn bị một hệ thống câu hỏi và đáp án về những vấn đề thuộc phạm vi kiến thức của bài học với mức độ khó tương đương với số điểm ghi trên nón. * Học sinh: - Đọc kỹ và tóm tắt lại các nội dung trong sách giáo khoa. - Tham khảo thêm các tài liệu liên quan. - Trả lời các câu hỏi phần hướng dẫn học bài. 5.2. Thực hiện: Giáo viên lần lượt mời học sinh lên quay nón. Khi nón dừng, cần gạt chỉ ở ô bao nhiêu điểm giáo viên sẽ đọc câu hỏi tương ứng với số điểm. Hết thời gian suy nghĩ - thảo luận (tuỳ theo độ khó của câu hỏi), học sinh sẽ đưa ra phương án 13 Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Lê Lai trả lời. Thời gian suy nghĩ trả lời, điểm số cho mỗi câu hỏi và số lượt quay do giáo viên quy định (tuỳ theo đối tượng học sinh và đặc điểm bài học). Ví dụ: Khi dạy bài “Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX”, giáo viên có thể thiết kế những câu hỏi như sau: + Văn học Việt Nam thời trung đại gồm mấy thành phần chính? (câu 10 điểm). + Văn học chữ Nôm xuất hiện vào thời điểm nào? Kể tên 4 tác phẩm tiêu biểu (câu 20 điểm). + Văn học Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIV tồn tại và phát triển trong hoàn cảnh lịch sử như thế nào? Nội dung chính là gì? (Câu 30 điểm). + Tính quy phạm và khuynh hướng trang nhã thể hiện như thế nào trong văn học Việt Nam trung đại? (câu 40 điểm). … 5.3. Một số lưu ý khi vận dụng: - Nên vận dung để củng cố tiết học. - Câu hỏi đưa ra phải có mức độ khó tương đương với số điểm. - Cùng một mức điểm phải chuẩn bị nhiều câu hỏi, đề phòng trường hợp các đội chơi quay nhiều lần đều vào cùng một mức điểm. - Mỗi ô trên nón có thể ghi thêm những thông số khác như: phần thưởng, thêm lượt, nhân đôi điểm…để trò chơi sinh động, hấp dẫn hơn. 6. Mô hình 6: Xem (nghe) hình ảnh và trả lời câu hỏi. 6.1. Chuẩn bị: * Giáo viên: - Chuẩn bị máy tính, máy chiếu đa năng (hoặc tivi, đầu quay) và một số hình ảnh, đoạn phim (hoặc sân khấu), đĩa nhạc…liên quan đến bài học. - Thiết kế một số câu hỏi và đáp án về những vấn đề thuộc phạm vi kiến thức của bài học. * Học sinh: - Đọc kỹ và tóm tắt lại các nội dung trong sách giáo khoa. - Tham khảo thêm các tài liệu liên quan. - Trả lời các câu hỏi phần hướng dẫn học bài. 6.2. Thực hiện: Giáo viên cho học sinh xem hình ảnh hoặc đoạn phim (hoặc sân khấu) liên quan đến bài học, sau đó nêu câu hỏi. Sau một thời gian suy nghĩ, các đội sẽ đưa ra câu trả lời (đội nào có tín hiệu trước đội đó sẽ giành quyền trả lời trước, nếu các đội cùng có tín hiệu trả lời thì sẽ viết đáp án ra giấy khổ to hoặc vào bảng con). Thời gian suy nghĩ trả lời, điểm số cho mỗi câu hỏi và số lượt quay do giáo viên quy định (tuỳ theo đối tượng học sinh và đặc điểm bài học). Kết 14 Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Lê Lai thúc phần chơi, giáo viên đánh giá, biểu dương, động viên tinh thần và tổng kết điểm của các đội chơi sau đó chuyển sang phần chơi tiếp theo. Ví dụ: Khi dạy bài: “Tổng kết phần văn học”, giáo viên có thể cho học sinh xem một số hình ảnh liên quan đến một tác giả nào đó sau đó hỏi: Những hình ảnh này nói về ai? Hoặc khi dạy bài “Truyện Kiều – Phần một: Tác giả” gíáo viên có thể cho học sinh xem một đoạn phim tài liệu về Nguyễn Du và “Truyện Kiều”, sau đó nêu câu hỏi: Đoạn phim cho em biết những gì về Nguyễn Du và “Truyện Kiều”? (học sinh sẽ xem phim và kết hợp với những kiến thức trong sách giáo khoa để trả lời câu hỏi này). Hoặc khi dạy bài “Khái quát văn học dân gian Việt Nam” giáo viên có thể cho học sinh nghe (xem) một đoạn dân ca mà phần lời là những câu ca dao quen thuộc, sau đó nêu câu hỏi: Ca dao khác dân ca ở điểm nào? 6.3. Một số lưu ý khi vận dụng: - Nên vận dụng trong phần tạo tâm thế ở đầu tiết học. - Đoạn phim không nên quá dài nhưng cũng không nên ngắn quá. - Mô hình này nên áp dụng cho các dạng bài: Tổng quan văn học, khái quát văn học giai đoạn, tác gia văn học, ôn tập văn học giai đoạn. Riêng đối với những bài Đọc - hiểu tác phẩm văn học, việc áp dụng phải khéo léo, sáng tạo và cân nhắc nếu không sẽ phá vỡ tính văn chương của tác phẩm, biến giờ học văn thành buổi xem phim thuần tuý V. KẾT QUẢ KIỂM NGHIỆM: 1. So sánh kết quả giờ học: - Lớp 10A3: Không vận dụng trò chơi trong giờ học: Tiết học trầm, học sinh ít hoạt động, không có hứng thú tìm hiểu bài, kiến thức hời hợt, chưa sâu, một số em không tập trung và có biểu hiện chán học. - Lớp 10A4: Vận dụng trò chơi trong giờ học: Lớp học sôi nổi, học sinh hoạt động nhiều, có hứng thú trong học tập, khả năng tiếp thu kiến thức cao hơn, các em cảm thấy yêu thích môn học Sau khi dạy tôi đã thực nghiệm để kiểm tra thái độ của em đối với tiết học: Lớp 10A3 (đối chứng) 10A4 (thực nghiệm) Sĩ số Hứng thú Bình thường Không hứng thú SL % SL % SL % 46 11 23,5 15 32,5 20 44 47 25 53 17 36 5 11 15 Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Lê Lai 2. So sánh kết quả bài kiểm tra: Sau khi dạy thực nghiệm và đối chứng chúng tôi cho học sinh 2 lớp làm bài kiểm tra 90 phút (đề thi gồm 2 phần: trắc nghiệm – 3 điểm và tự luận – 7 điểm). Lớp Số bài Điểm 0-4 Số bài % Điểm 5-6 Số bài % Điểm 7-10 Số bài % 10A3 (đối chứng) 10A4 (thực nghiệm) 46 6 13 18 39,1 22 47,9 47 1 2,1 16 34 30 63,9 VI. NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA VIỆC VẬN DỤNG TRÒ CHƠI VÀO GIẢNG DẠY MỘT SỐ BÀI ĐỌC VĂN LỚP 10 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LÊ LAI: Qua một quá trình giảng dạy và tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy việc vận dụng trò chơi vào dạy học môn Ngữ văn có những ưu điểm và hạn chế sau đây: 1. Ưu điểm: - Tổ chức trò chơi dựa trên cơ sở tâm lý là kích thích hoạt động nhận thức bởi sự tò mò và ham hiểu biết nên phát huy được tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh. Năng lực học tập của học sinh một khi đã được khơi dậy sẽ giúp các em cảm thấy hứng thú và trở nên tự giác hơn trên con đường tìm kiếm tri thức. - Thông qua các trò chơi học sinh được rèn luyện các kỹ năng cần thiết: kỹ năng, thói quen đọc tài liệu; phương pháp tư duy khoa học, tranh luận, biện luận khoa học; kỹ năng làm việc cá nhân và tập thể, đóng góp ý kiến và tổng hợp vấn đề; kỹ năng xây dựng một chuyên đề; kỹ năng tự học, tự đọc, tự tìm tòi, khám phá, sáng tạo; kỹ năng phát biểu trước đám đông, kỹ năng xử lý tình huống … - Do được chủ động tìm kiếm kiến thức và vận dụng kiến thức để tham gia các trò chơi, do được sống và nghiệm sinh vào tác phẩm nên học sinh có thể nắm bắt bài học vừa rộng, vừa sâu và kiến thức được lưu giữ lâu trong trí nhớ. - Vận dụng trò chơi đòi hỏi người giáo viên phải luôn tìm tòi, xây dựng những trò chơi vừa lý thú, vừa phù hợp với môn học và thời gian cho phép; biết cách xử lý khéo léo những tình huống diễn ra trong quá trình chơi…Do đó nó đã tạo môi trường giúp giáo viên không ngừng nâng cao trình độ và các kỹ năng sư phạm tích cực của mình. - Với trò chơi, việc học tập được tiến hành một cách nhẹ nhàng, giờ học trở nên phong phú, sinh động, không khô khan, nhàm chán. Học sinh được lôi 16 Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Lê Lai cuốn vào quá trình học tập một cách tự nhiên, hứng thú và có tinh thần trách nhiệm, đồng thời giải trừ được những căng thẳng, mệt mỏi trong học tập. Nó còn giúp phát triển tình bạn, tình đoàn kết, ý thức tổ chức, kỷ luật, tinh thần tương trợ; tăng cường khả năng giao tiếp giữa học sinh với học sinh, giữa giáo viên với học sinh; xây dựng phong cách tự tin; giúp cho học sinh, đặc biệt là những em nhút nhát trở nên bạo dạn hơn, dễ hoà nhập hơn . - Ngoài ra, vận dụng trò chơi, giáo viên còn có thể tận dụng được tối đa những lợi thế to lớn của các phương tiện, thiết bị, đồ dùng dạy học, đặc biệt là những phương tiện, thiết bị kỹ thuật hiện đại. 2. Hạn chế: - Nếu không tổ chức và kiểm soát tốt học sinh dễ xem giờ học như một giờ giải trí bình thường, không phải là hoạt động giáo dục. - Tốn nhiều thời gian, công sức và kinh phí của giáo viên. - Dễ bị trục trặc kỹ thuật nếu như thiết bị máy móc hỗ trợ không tốt và giáo viên sử dụng chưa thành thạo. - Khó vận dụng đối với những lớp quá đông học sinh. 17 Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Lê Lai C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUÂT 1.Kết luận: Qua quá trình tìm hiểu và ứng dụng tôi nhận thấy tổ chức trò chơi có ý nghĩa tích cực, to lớn, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Ngữ văn nói chung và dạy Đọc văn 10 nói riêng ở nhà trường THPT Lê Lai. Nội dung chương trình sách giáo khoa mới cùng với việc trang bị những đồ dùng và thiết bị dạy học hiện đại phục vụ cho việc cải cách giáo dục hiện nay sẽ tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho giáo viên vận dụng các trò chơi này. Vẫn biết việc đổi mới một phương pháp dạy học mang tính chất truyền thống, ổn định từ bao đời nay là việc làm rất khó khăn, cần có thời gian nhất định để giáo viên thích nghi. Nhưng chúng tôi tin rằng, vì tương lai con em chúng ta, vì yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, tuyệt đại bộ phận giáo viên sẽ tán đồng, ủng hộ cho việc đổi mới tiết dạy học môn Ngữ văn ở nhà trường THPT Lê Lai thông qua việc vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10. Mỗi hình thức tổ chức dạy học vừa có kỹ thuật riêng vừa chịu sự chỉ đạo của một lý thuyết nhất định. Trên thực tế không có cách dạy học nào là tối ưu. Vận dụng trò chơi trong dạy học Ngữ Văn cũng vậy. Vì thế, khi vận dụng nó vào giảng dạy ngoài sự dũng cảm và lòng nhiệt tình nghề nghiệp, giáo viên cần phải hết sức linh hoạt, chủ động, sáng tạo, tránh rập khuôn, máy móc và nên kết hợp với những phương pháp dạy học tích cực khác để giờ dạy Ngữ văn trở nên hấp dẫn, lôi cuốn và đạt kết quả cao. 2. Đề xuất: Việc vận dụng trò chơi vào giảng dạy đại trà hiện nay là rất cần thiết. Để vận dụng thành công, ngoài sự nỗ lực, quyết tâm của giáo viên thì các cấp quản lý cũng như đồng nghiệp cũng cần phải có sự quan tâm, ủng hộ, khích lệ chúng tôi. Riêng đối với bản thân tôi, đây mới chỉ là những kết quả bước đầu, nếu đề tài được đánh giá tốt chúng tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn, đầy đủ, toàn diện hơn trước khi đưa vào áp dụng đại trà. XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Ngọc Lặc, ngày 06 tháng 05 năm 2013 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. Người thực hiện Trương Thị Lan 18 Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Lê Lai TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Nguyễn Hải Châu (Chủ biên), Nguyễn Lê Huân, Nguyễn Khắc Đàm, (2006), Giới thiệu giáo án Ngữ văn 10 (Chương trình chuẩn – Tập 2), Nxb Hà Nội. [2]. Nguyễn Khắc Đàm, Nguyễn Trọng Hoàn (2006), Giới thiệu giáo án Ngữ văn 10 (Chương trình chuẩn – Tập 1), Nxb Hà Nội. [3]. Phan Trọng Luận (Tổng Chủ biên) (2006), Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 (Chương trình chuẩn – Tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội. [4]. Phan Trọng Luận (Tổng Chủ biên) (2006), Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 (Chương trình chuẩn – Tập 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội. [5]. Phan Trọng Luận (Tổng Chủ biên) (2006), Sách giáo viên Ngữ văn lớp 10 (Chương trình chuẩn – Tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội. [6]. Phan Trọng Luận (Tổng Chủ biên) (2006), Sách giáo viên Ngữ văn lớp 10 (Chương trình chuẩn – Tập 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội. [7]. Phan Trọng Luận (Chủ biên) (2006), Bài tập Ngữ văn lớp 10 (Chương trình chuẩn – Tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội. [8]. Phan Trọng Luận (Chủ biên) (2006), Bài tập Ngữ văn lớp 10 (Chương trình chuẩn – Tập 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội. [9]. Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử (Đồng Chủ biên) (2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 trung học phổ thông – Môn Ngữ văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội. [11]. Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên), Nguyễn Thành Thi, Nguyễn Thị Hồng Vân (2006), Bài tập trắc nghiệm Ngữ văn 10, Nxb Giáo dục, Hà Nội. [12]. Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên), Phạm Thu Hiền, Nguyễn Thị Nương, Nguyễn Thị Hồng Vân (2007), Hệ thống đề mở Ngữ văn 10, Nxb Giáo dục, Hà Nội. [13]. Bùi Sỹ Tụng (Tổng Chủ biên), Nguyễn Dục Quang (Chủ biên), Nguyễn Phi Long, Trần Quốc Thành, Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp – Lớp 10 (Sách giáo viên). 19 Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc Vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10 tại trường trung học phổ thông Lê Lai MỤC LỤC STT Nội dung 1 A – ĐẶT VẤN ĐỀ. 2 B – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. 1. Cơ sở lý luận của đề tài. 2. Thực trạng giảng dạy Ngữ văn lớp 10 tại trường THPT Lê Lai 3. Những lưu ý khi vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài đọc văn lớp 10 4. Tổ chức trò chơi trong giảng dạy một số bài đọc văn lớp 10 5. Kết quả kiểm nghiệm. 6. Những ưu điểm và hạn chế của việc vận dụng trò chơi vào giảng dạy một số bài Đọc văn lớp 10 ở trường trung học phổ thông Lê Lai 3 C - KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT. 4 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 5 MỤC LỤC. Trang 1 2 2 4 5 8 15 16 18 19 20 20 Trương Thị Lan - Giáo viên trường PTTH Lê Lai - Ngọc Lặc
- Xem thêm -