Skkn sử dụng phiếu hỏi nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy môn nhảy cao cho học sinh lớp 10

  • Số trang: 12 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 19 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

Sáng kiến kinh nghiệm I. Trần Văn Minh LỜI NÓI ĐẦU Giáo dục thể chất là bộ phận quan trọng trong chương trình giáo dục ở mọi quốc gia. Giáo dục thể chất góp phần làm phong phú các kỹ năng vận động, hình thành kỹ xảo vận động cho học sinh. Nói cách khác giáo dục thể chất trong trường học góp phần phát triển các tố chất vận động ( sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo, mền dẻo) và trang bị cho học sinh kỹ thuật của các môn thể thao . Tuy nhiên hiện nay do yêu cầu của việc đổi mới chương trình, khối lượng các kỹ thuật thể thao cần trang bị cho học sinh rất nhiều, trong khi đó thời lượng dành cho môn học lại rất hạn chế. Bên cạnh đó là sự khó khăn về cơ sở vật chất thiết bị dạy học, thời tiết khí hậu làm cho việc hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh môn học thể dục không đạt kết quả mong muốn. Với thời gian học 1 buổi/ tuần , khoảng cách giữa 2 buổi học là khá xa ( 7 ngày) thì việc học sinh quên các kỹ thuật đã học trong buổi học trước diễn ra phổ biến. Khi trao đổi với các giáo viên bộ môn thể dục trường THPT Phú Quốc tất cả đếu cho rằng nguyên nhân học sinh quên các kỹ thuật đã học là do khoảng cách giữa 2 buổi học quá xa nhau, và học sinh không chịu ôn bài trước khi đến lớp. Như vậy giải pháp để khắc phục tình trạng trên chúng ta có thể tách riêng 2 tiết học thể dục thành 02 buổi khác nhau trong tuần. Tuy nhiên trong điều kiện của trường để thực hiện điều đó là không đơn giản. Mặt khắc phục thứ hai đó là nâng cao tính tự giác ôn tập bài ở nhà, ở mặt này khó khăn gặp phải là những hiểu biết về kỹ thuật cũng như các bài tập của học sinh còn hạn chế dẫn đến các em không biết tự ôn ra sao, các em không đánh giá được mức độ hoàn thiện kỹ thuật của mình. Câu hỏi đặt ra ở đây là: Làm thế nào để các em học sinh có thể tự ôn tập các kỹ thuật thể thao tại nhà một cách có hệ thống đảm bảo tập đúng kỹ thuật. Có một số hình thức để hướng dẫn các em tự tập luyện ở nhà đó là: 1 Sáng kiến kinh nghiệm Trần Văn Minh - Hình thức thứ nhất : Cuối các buổi học giáo viên làm mẫu các bài tập để học sinh về nhà tập - Hình thức thứ hai: Cung cấp tài liệu chuyên môn cho các em học sinh ngiên cứu để các em tự tập. Cả 2 hình thức nêu trên đều có những hạn chế riêng: Đối với hình thức thứ nhất việc học sinh nắm được và nhớ các động tác mẫu của giáo viên để có thể tự ôn tại nhà là không tốt, học sinh dễ quên động tác mẫu nên không biết tự ôn thế nào. Đối với hình thức thứ hai: Với trình độ của học sinh phổ thông việc hiểu các kỹ thuật từ tài liệu chuyên môn để tự tập là không đơn giản, ngoài ra nguồn tài liệu hiện nay của môn thể dục là rất ít. Cả 2 hình thức này đều có 1 nhước điểm chung đó là nó phụ thuộc rất lớn vào ý thức tự giác của học sinh. Để khắc phục các nhựợc điểm nêu trên yêu cầu đặt ra là phải có biện pháp dẫn dắt các em tự ôn tập ở nhà và có thể tự đánh giá được mức độ hoàn thiện kỹ thuật mà mình thực hiện. Từ những phân tích trên tôi đã đưa ra hình thức giúp các em tự tập các nội dung kỹ thuật một cách hệ thống theo nội dung từng buổi học, đó là phát các phiếu hướng dẫn ôn tập dưới dạng hình thức phiếu hỏi ( các em tự tập các hình thức khác nhau để tìm câu trả lời đúng). Với hình thức đó HS có thể tự so sánh hiệu quả của các hình thức thực hiện kỹ thuật để rút ra kỹ thuật chuẩn, khi đó việc hình thành kỹ thuật sẽ rất vững chắc ( khắc phục sự quên ) Năm học 2007-2008 tôi đã áp dụng phương pháp này vào giảng dạy môn nhảy xa đối với lớp 11B2. Tuy không tiến hành đánh giá kết quả cụ thể song phương pháp trên đã có những dấu hiệu khá tích cực như học sinh tích cực hơn, các sai lầm hay mắc trong tập luyện đã giảm… Với những phân tích về cơ sở lỹ luận và thực tiễn nêu trên, được sự giúp đỡ của giáo viên bộ môn tôi mạnh dạn xây dựng Sáng kiến kinh nghiệm “ Sử dụng phiếu hỏi nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy môn nhảy cao cho học sinh lớp 10” Thời gian nghiên cứu từ tháng 10 năm 2008 đến tháng 4 năm 2009 2 Sáng kiến kinh nghiệm Trần Văn Minh Đối tượng ngiên cứu: Học sinh lớp 10 trường THPT Phú Quốc năm học 2008-2009 ( 2 lớp 10 A10 và 10 A 11). Nội dung phạm vi ngiên cứu: Ngiên cứu việc học tập môn nhảy cao của HS lớp 10. II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận : Trong quá trình giảng dạy kỹ thuật thể thao, luôn tồn tại hai nhiệm vụ song song đó là nhiệm vụ tổ chức tập luyện các kỹ thuật thể thao và nhiệm vụ trang bị những kiến thức về kỹ thuật đó. Việc trang bị kiến thức của kỹ thuật thể thao cho người tập giúp quá trình trình tập luyện hình thành kỹ thuật thể thao diễn ra thuận lợi hơn. Khi người tập có những hiểu biết đúng đắn về kỹ thuật thì trong quá trình tập luyện có thể tự điều chỉnh các hành vi vận động cho phù hợp. Theo V. Plovsky “ Việc trang bị kiến thức thể thao cho vận động viên trẻ là việc được làm trước và trong quá trình tập luyện kỹ thuật đó”. Cũng theo V. Plovsky “ Cách thức để vận động viện nắm vững kiến thức về kỹ thuật thể thao nhanh và bền vững nhất là làm cho họ có khả năng tự đánh giá mức độ thực hiện kỹ thuật thông qua việc so sánh hiệu quả của động tác đúng và động tác sai” ( Huấn luyện thể thao trẻ - tác giả V. Plovsky – Nhà xuất bản thể dục thể thao – năm 1993) Từ những phân tích trên tôi nhận thấy việc hướng dẫn các em học sinh tự ôn tập theo hình thức tự tập các phần của động tác kỹ thuật theo hai cách thức : cách thức chuẩn và cách thức sai lầm để các em tự so sách đánh giá rút ra kỹ thuật đúng là việc làm cần thiết. Đó cúng chính là cơ sở lý luận của đề tài SKKN của tôi. 2. Thực trạng tình hình giảng dạy môn nhảy cao lớp 10 ở trường THPT Phú Quốc: Môn nhảy cao có thời lượng 8 tiết ( 4 buổi) học kỹ thuật nhảy cao nằm nghiêng. Đây là kỹ thuật các em HS lớp 10 bắt đầu học, có một số đặc điểm 3 Sáng kiến kinh nghiệm Trần Văn Minh kỹ thuật khác với kỹ thuật nhảy cao các em đã học ở khối THCS. Đối với việc giảng dạy môn nhảy cao ở trường có một số thuận lợi đó là: sân tập và thiết bị khá đầy đủ, đội ngũ giáo viên có chuyên môn khá vững , phần lớp các em học sinh có đủ thể lực để đảm bảo học môn nhảy cao. Tuy nhiên kết quả chung của môn học nhảy cao khối lớp 10 còn khá thấp so với các nội dung học khác. Cụ thể khi thống kê điểm nội dung nhảy cao của 11 lớp 10 năm học 2007-2008 ( từ A1 đến A11) do 03giáo viên giảng dạy là Giáo viên Trần Văn Minh, Lê Trung Thành và giáo viên Ngô tuấn Khang kết quả đạt được như sau: Bảng 1 : Thống kê điểm một số nội dung môn thể dục của học sinh lớp 10 trường THPT Phú Quốc ( từ A1 đến A11 năm học 2007-2008): Nội dung Số lượng HS Điểm thống kê Nhảy cao 445 Thể dục nhịp điệu 445 Đẩy tạ Chạy bền Đá cầu 7,31 445 445 445 trung Điểm trung bình học kỳ bình cộng 6,48 6,39 7,12 7,16 II năm học 2007-2008 6,91 Kết quả bảng 1 cho thấy 2 nội dung Nhảy cao và đẩy tạ có điểm trung bình thấp hơn đáng kể so với các nội dung còn lại và thấp hơn so với điểm TBHK. Nhận xét: Từ kết quả trên ta nhận thấy nội dung nhảy cao và đẩy tạ là hai nội dung học sinh gặp khó khăn để ôn tập tại nhà, kết quả học tập hai nội dung đó phần lớn phụ thuộc vào kết quả học tại lớp. cao của cơ thể khi qua xà. Để có cơ sở khẳng định nhận xét trên tôi tiến hành thăm dò ý kiến của học sinh về việc tự ôn tập các nội dung môn thể dục tại nhà đối với HS 4 lớp A1. A2, A3. A4 năm học 2007-2008, nội dung phiếu thăm dò như sau: 4 Sáng kiến kinh nghiệm Trần Văn Minh Trong học kỳ II năm học này việc ôn tập ở nhà các nội dung môn thể dục của em như thế nào? Em hãy đánh dấu X vào ô tương ứng trong bảng sau: Phiếu số 1: Nội dung Thường Mật độ ôn tập Tập không Tập ít xuyên Không tập đều Nhảy cao Thể dục nhịp điệu Đẩy tạ Chạy bền Đá cầu Sau khi thống kê phiếu số 1 kết quả được trình bày ở bảng 2: Bảng 2: Kết quả thăm dó ý kiến về việc tự ôn tập các nội dung môn thể dục tại nhà đối với HS lớp 10 năm học 2007-2008. n=168 Nội dung Nhảy cao Thể dục nhịp điệu Đẩy tạ Chạy bền Đá cầu Thường Mật độ ôn tập Tập không Tập ít Không tập xuyên 0/168 49/168 đều 3/168 85/168 19/168 14/168 146/168 0/168 14/168 25/168 20/168 0/168 66/168 32/168 16/168 31/168 61/168 152/168 57/168 48/168 Kết quả bảng 2 cho thấy Các nội dung Nhảy cao và đẩy tạ số lượng HS không ôn tập ở nhà chiếm các tỷ lệ thấp lần lượt là 87% và 90%, qua kết quả trên ta cũng nhận thấy mối tương quan thuận rõ rệt giữa tỷ lệ ôn tập tại nhà và kết quả học các nội dung môn thể dục. Bên cạnh việc thống kê điểm số của HS tôi đã tiến hành quan sát sư phạm về việc thực hiện kỹ thuật nhảy cao ở nhóm học sinh trên dựa vào các tiết dự giờ. Tôi nhận thấy HS mắc phải một số sai lầm khá phổ biến sau: 5 Sáng kiến kinh nghiệm Trần Văn Minh + Sai lầm 1: Chạy đà nhanh ngay từ đầu dẫn tới khá khăn trong việc giậm nhảy. + Sai lầm 2 : Bước giậm nhảy chậm và ngắn dẫn tới góc độ giậm nhảy nhỏ cơ thể lao nhiều ra trước + Sai lầm 3: Không phối hợp được sự đánh lăng tay và chân lăng nên làm giảm hiệu quả giậm nhảy + Sai lầm 4: Khi qua trên không các em xoay thân quá sớm làm giảm độ bay cao của cơ thể khi qua xà. Từ sự phân tích thực trạng trên tôi rút ra kết luận : + Kết quả học tập các nội dung môn học thể dục phụ thuộc rất lớn vào việc tự ôn tập của học sinh tại nhà. + Các nội dung có kỹ thuật tổng hợp ( gồm nhiều kỹ thuật thnàh phần) như các nội dung nhảy, đẩy thì tỷ lệ học sinh ôn tập ở nhà rất thấp ( do khó ôn tập) + Sai lầm thường gặp trong việc thực hiện kỹ thuật nhảy cao của HS xảy ra ở tất cả các kỹ thuật thành phần ( các giai đoạn kỹ thuật) III. GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ Từ những thực trạng và khó khăn trên để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn nhảy cao nằm nghiêng cho học sinh khối 10, biện pháp đưa ra phải nâng cao hiệu quả ôn tập tại nhà của HS. Thời lượng học môn nhảy cao khối 10 được giảng dạy trong 4 tuần ( 8 tiết) - Tuần 1 : Học các động tác bổ trợ giậm nhảy , đá lăng - Tuần 2 : Học kỹ thuật chạy đà, kết hợp giậm nhảy, đà lăng - Tuần 3: Học kỹ thuật qua xà, tiếp nệm, phối hợp các giai đoạn - Tuần 4 : Hoàn thiện kỹ thuật và kiểm tra Dựa trên phân phối nội dung giảng dạy trên tôi đã đưa ra các phiếu hỏi có nội dung phù hợp cho từng tuần. Các phiếu hỏi được phát cho học sinh 02 lớp A9 và A11 trường THPT Phú Quốc năm học 2008-2009 n =75 ( nữ 29, nam 46) tôi gọi là đối tượng thực nghiệm ( NTN). Để có cơ sở so sánh tôi 6 Sáng kiến kinh nghiệm Trần Văn Minh lấy HS 02 lớp A8. A10 làm đối tượng đối chiếu (NĐC) có n =77 ( nữ 28 , nam 49 ) Để đảm bảo tính khách quan tôi tiến hành kiểm tra ban đầu 02 nhóm thực nghiệm và đối chiếu nội dung nhảy cao bước qua ( học ở cấp THCS) và điểm TBHKI môn thể dục năm 2008-2009. Kết quả được trình bày ở bảng 3 Bảng 3: Kết quả so sánh 2 nhóm thực nhiệm và đối chiếu: NỘI DUNG NHẢY CAO BƯỚC QUA ĐTB HKI Nhoùm Möùc ñoä Soá löôïng Tæ leä Nhoùm Thöïc Nghieäm (n=75) Nhoùm Ñoái Chieáu (n=77) Ñaït kyõ thuaät A Ñaït kyõ thuaät B Ñaït kyõ thuaät C Ñaït kyõ thuaät D Ñaït kyõ thuaät A Ñaït kyõ thuaä tB Ñaït kyõ thuaä tC Ñaït kyõ thuaät D 0 16 17 42 0 17 21 39 1.6% 11.6 % 86.8 % 0% 0% 18. 3% 6,54 0% 6.67 81.7 % Từ kết quả bảng 3 cho thấy không có sự khác biệt giữa 2 nhóm thực nghiệm và đối chiếu: Cụ thể kỹ thuật nhảy cao: KTA: NTN = 0 , NĐC=0 KTB : NTN = 16, NĐC=17 KTC : NTN = 17, NĐC=21 KTD : NTN = 42, NĐC=39 Điểm TB học kỳ I là NTN=6,67 và NĐC=6,54 ( NTN=101,8 % NĐC) Sau khi kiểm tra kết quả ban đầu của 2 nhóm TN và ĐC tôi tiến hành phát phiếu hỏi cho đối tượng nhóm thực nghiệm. Các phiếu hỏi được phát ra căn cứ vào nội dung từng buổi học trước và sau đó, và căn cứ vào những sai sót thường gặp của HS. Thời điểm phát phiếu hỏi vào cuối các buổi học – thời lượng 7-10 phút ( phần củng cố dặn dò), thời điểm thu phiếu vào đầu các tiết 7 Sáng kiến kinh nghiệm Trần Văn Minh học sau đó thời lượng 10-15 phút ( phần trả bài). Tiến trình thực nghiệm như sau: * Sau buổi học thứ nhất ( học các động tác bổ trợ chạy đà, bổ trợ giậm nhảy, bổ trợ đá lăng): Tôi tiến hành phát phiếu 1: Phiếu 1: Em hãy đặt 1 vật thấp từ 30-50cm và chạy 4-6 bước đà và nhảy qua. Em hãy thực hiện theo 2 cách: - Cách 1: Chạy nhanh ngay từ đầu và nhảy qua - Cách 2 Chạy nhanh dần và nhanh nhất ở bước cuối nhảy qua Em nhận thấy cách nào giúp em dễ dàng nhảy qua vật cản hơn Cách 1 Cách 2 Mục đích của việc đưa ra phiếu 1 nhằm giúp học sinh tập luyện để phân biệt cách chạy đà đúng và cách chạy đà sai, giúp nâng cao hiệu quả của bài tập chạy đà sẽ học trên lớp sau đó. Vào đầu tiết học 2 tôi tiến hành thu phiếu. sau khi tổng hợp phiếu kết quả có 46/66 phiếu trả lời phương án 2 (phương án đúng) chiếm 69%. Tôi cũng tiến hành kiểm tra thực tế 10 HS thực hiện động tác trên kết quả đạt điểm TB=7,1. * Sau buổi học thứ hai ( học các động tác chạy đà giậm nhảy ): Tôi tiến hành phát phiếu 2: Phiếu 2: Cách giậm nhảy nào sau đây giúp cơ thể bay theo quỹ đạo thẳng đứng. Em hãy thực hiện theo 2 cách và so sánh: - Cách 1: Bước giậm nhảy nhanh và dài - Cách 2: Bước giậm nhảy ngắn và chậm Hãy đánh dấu X vào phương án lựa chọn Cách 1 Cách 2 Mục đích của phiếu 2 nhằm khắc phục sai lầm sau giậm nhảy quỹ đạo bay của cơ thể vận động viện không lên cao mà hướng ra trước quá nhiều . 8 Sáng kiến kinh nghiệm Trần Văn Minh Vào đầu tiết học 3 tôi tiến hành thu phiếu. sau khi tổng hợp phiếu kết quả có 69/73 phiếu trả lời phương án 1 (phương án đúng) chiếm 94%.) Tôi cũng tiến hành kiểm tra thực tế 10 HS thực hiện động tác trên kết quả đạt điểm TB= 6,8. * Sau buổi học thứ ba ( học các động tác chạy đà giậm nhảy , đá lăng qua xà ): Tôi tiến hành phát phiếu 3: Phiếu 3: Khi giậm nhảy em hãy chủ động đánh mạnh tay và lăng chân đồng thời. Em rút ra nhận xét nào sau đây: Thực hiện như trên giúp cơ thể vươn cao hơn không đánh lăng Thực hiện như trên làm cơ thể tụt thấp hơn không đánh lăng Phiếu 3 : Định hướng cho học sinh thói quen khi giậm nhảy phải kết hợp đá lăng và lăng tay tích cực. Vào đầu tiết học 4 tôi tiến hành thu phiếu. sau khi tổng hợp phiếu kết quả có 66/72 phiếu trả lời phương án 1 (phương án đúng) chiếm 86%.) Tôi cũng tiến hành kiểm tra thực tế 10 HS thực hiện động tác trên kết quả đạt điểm TB= 6,7 Cũng vào đầu tiết học này tôi phát phiếu 4 Phiếu 4 : Sau Khi giậm nhảy em hãy chủ động giữ cho đầu thẳng mắt nhìn cao. Em rút ra nhận xét nào sau đây: Thực hiện như trên giúp thân không xaoy quá sớm Thực hiện như trên làm cơ thể xoay sớm Phiếu 4 hướng dẫn cho các em biện pháp khắc phục sai lầm xoay thân sớm sau giậm nhảy. Vào đầu tiết học 4 tôi tiến hành thu phiếu. sau khi tổng hợp phiếu kết quả có 74/74 phiếu trả lời phương án 1 (phương án đúng) chiếm 100%.) Để có cách nhìn tổng quát tôi đã tổng hợp kết quả phát phiếu phiếu hỏi: 9 Sáng kiến kinh nghiệm Trần Văn Minh Bảng 4. Kết quả tổng hợp quá trình phát phiếu hỏi Tổng số phiếu Tổng số phiếu thu Tổng số phiếu lựa Điểm kiểm tra phát ra vào chọn phương án thực hiện các kỹ đúng thuật ôn tập theo 253 ( 90,7%) phiếu hỏi 6.9 297 285 Kết thúc thời gian học nhảy cao tôi tiến hành kiểm tra kết quả thực hiện kỹ thuật và thành tích nhảy cao của 2 nhóm TN và ĐC . Kết quả như sau Bảng 5: Kết quả về thực hiện kỹ thuật của HS 2 nhóm TN và ĐC Nội dung Möùc ñoä Phần Kỹ thuật Soá löôïng Tæ leä Nhoùm Thöïc Nghieäm Ñaït Ñaït Ñaït Ñaït kyõ kyõ kyõ kyõ thuaät thuaät thuaät thuaät A B C D 36 31 7 1 48% 41,3 % 9,3 % 1,4 % Nhoùm Ñoái Chieáu Ñaït Ñaït Ñaït Ñaït kyõ kyõ kyõ kyõ thuaät thuaät thuaät thuaät A B C D 19 37 11 10 25,7% 47,6 % 14.3 % 12,4 % Kết quả bảng 5 cho thấy: đã có sự khác biệt rõ ràng về kết quả thực hiện kỹ thuật. Cụ thể KTA: NTN = 48% , NĐC=25,7% KTD : NTN = 1,4%, NĐC=12,4% Bảng 6: Kết quả thành tích ( mức xà vượt qua) của HS 2 nhóm TN và ĐC Nội dung Möùc ñoä Nam Soá löôïng Nhoùm Thöïc Nghieäm > > > < 1,30 1,2m 1,1m 1,1m m 12 20 12 2 10 Nhoùm Ñoái Chieáu > > > < 1,30 1,2m 1,1m 1,1m m 13 14 19 3 Sáng kiến kinh nghiệm Trần Văn Minh TB x = 1,25m 1,27 m x n > 1,10 m 7 Möùc ñoä Nữ Soá löôïng TB x > 1,0m > 0.9m < 0.9m 16 5 1 = > 1,0m > 0.9m < 0.9m 12 9 2 1,03 m 1,06 m x > 1,10 m 5 n Kết quả bảng 6 cho thấy thành tích của nhóm thực nghiệm cả nam và nữ đều cao hơn so với nhóm đối chiếu, mặc dù sự khác biệt không rõ ràng song cũng cho phép chúng ta đi đến nhận xét: Sự khác biệt về kỹ thuật dẫn đến sự khác biệt của thành tích của 2 nhóm TN và ĐC Bảng 7: Kết quả điểm kiểm tra ( điẻm tổng hợp ) nội dung nhảy cao 2 nhóm TN và ĐC: Chỉ số T.Kê Nhoùm NTN (n=75) NÑC (n=77) Giá trị So sánh Giaù trò trung bình cuûa ñieåm x = x n Phöông sai 1  2= n 7,25  )2 0,24 (x- x Söï khaùc bieät A=  B x A n - A x B n 0.41 6,67 0,59 8.3% 0,42 laàn p<0.05 Kết quả bảng 7 cho thấy: Điểm trung bình của đối tượng thực nghiệm và đối chiếu có sự khác biệt khá rõ ràng . Cụ thể: + Giá Trị trung bình: NTN = 108,3% NĐC + Trị số phương sai: NTN= 0,42 lần NĐC 11 Sáng kiến kinh nghiệm Trần Văn Minh + Chỉ số khác biệt là: 0,41. IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận: Căn cứ vào thực trạng của việc giảng dạy môn nhảy cao và kết quả nghiên cứu giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nội dung nhảy cao cho đối tượng học sinh lớp 10 trường THPT Phú Quốc. Tôi rút ra kết luận sau : + Kết Luận 1 : Các nội dung của môn thể dục đòi hỏi kỹ thuật tổng hợp như các nội dung nhảy, đẩy hầu hết học sinh không tự giác ôn tập ở nhà.. Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn tới kết quả học tập các nội dung trên rất thấp. + Kết luận 2 : Trong giảng dạy nhảy cao sử dụng các phiếu hỏi được căn cứ vào nội dung từng tiết học và căn cứ vào những sai sót kỹ thuật thường gặp, đồng thời kết hợp với việc kiểm tra thường xuyên việc ôn tập theo phiếu hỏi đó đã tạo nên hiệu quả tích cực. Kết quả thống kê sau thời gian thực nghiệm cho thấy việc sử dụng phiếu hướng dẫn ôn tập tại nhà cho học sinh dưới dạng các phiếu hỏi đã có kết quả tích cực so với phương pháp truyền thống. 2. Kiến nghị : Kết quả của phương pháp sử dụng phiếu hỏi đã đạt được kết quả rõ ràng trên đối tượng thực nghiệm Song mới chỉ dừng lại ở 1 nội dung, ngoài ra mẫu thực nghiệm còn nhỏ ( n=75) nên chưa lọai trừ được trị số biến cố ngẫu nhiên. Vậy tôi kiến nghị BGH và các đồng nghiệp bộ môn hỗ trợ để tôi tiếp tục nghiên cứu mở rộng đề tài trước khi áp dụng rộng rãi trọng thực tiễn. 12
- Xem thêm -