Skkn phương pháp tạo và hướng dẫn làm bài tập trắc nghiệm hoá học cho học sinh thcs

  • Số trang: 16 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 23 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

Sáng kiến kinh nghiệm Nguyễn Thế Lâm Phòng giáo dục đào tạo Tiên Du ------  ------ Đe tai chat luong ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Trường THCS Phú Lâm 1 Năm học 2005-2006 Sáng kiến kinh nghiệm Nguyễn Thế Lâm PHẦN A: MỞ ĐẦU I, LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. Việt Nam – một đất nước đang trong thời kỳ đổi mới. Nền kinh tế đang biến chuyển từng ngày, từng giờ. Cùng với sự gia nhập WTO, Việt Nam đang từng bước khẳng định mình với bạn bè thế giới. Hoà cùng không khí đó, trong những năm học vừa qua, giáo dục nước nhà đã có nhiều đổi mới. Việc thay sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học đã đạt được những thành tựu đáng kể. Năm học 2006 – 2007 là năm học đầu tiên chúng ta thi đầu vào đại học bằng phương pháp trắc nghiệm với 4 môn: Hoá Học, Sinh Học, Vật Lý và Ngoại Ngữ. Đồng thời là năm cuối cùng chúng ta thay sách giáo khoa bậc THPT. Đây cũng là năm chúng ta nhìn lại những vấn đề đã đạt được cũng như còn tồn tại trong hệ thống giáo dục THCS. Trong nền công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển con người toàn diện là nhiệm vụ hàng đầu. Trong đó, quan trọng hơn cả là lớp người lao động có khả năng va chạm thực tế, có kinh nghiệm trong các hoạt động và có kỹ năng thành thạo. Để đạt được mục đích đó, phương pháp làm bài tập hoá học phát huy hiệu quả nhất là phương pháp tư duy kết hợp thực tế. Đồng thời người làm bài còn phải biết kết hợp tính logic để đạt năng suất làm việc cao. Đây là một khó khăn mà không phải học sinh nào cũng làm được. Thực tế hiện nay, khi đổi mới phương pháp dạy học, việc hình thành các kỹ năng để làm bài tập trắc nghiệm là hết sức cần thiết. Người giáo viên là trung tâm để dắt học sinh vào trọng tâm bài đồng thời cũng là người phải đưa ra các bài tập cho các em cọ sát. Nhưng thực tế còn nhiều bất cập. Hiện nay, hầu hết đội ngũ giáo viên đã công tác lâu năm. Do đó đã quen với phương pháp làm bài tập truyền thống. Vì thế các thao tác biên soạn và giải đề thi trắc nghiệm là rất hạn chế. Mặt khác học Trường THCS Phú Lâm 2 Năm học 2005-2006 Sáng kiến kinh nghiệm Nguyễn Thế Lâm sinh THCS lại là đối tượng chưa được làm quan nhiều với dạng bài tập này nên việc hình thành các kỹ năng là rất kém, gây nên các khó khăn cơ bản trong các giờ kiểm tra. Trong khi đó, trước mắt các em lại là cả một con đường dài với vô số các bài tập trắc nghiệm, các kỳ thi và cả thực tế. Điều đó đã đưa tới cho tôi một lý do khi chọn đề tài: “Phương pháp tạo và hướng dẫn làm bài tập trắc nghiệm hoá học cho học sinh THCS” II, VẤN ĐỀ ĐẶT RA. Trong các năm trước và một số năm gần đây, vấn đề “Nâng cao kỹ năng làm bài tập trắc nghiệm hoá học” đã được nói đến rất nhiều. Ngày nay, với phương pháp dạy học và thi đổi mới, vấn đề càng trở nên cấp bách không chỉ với đông đảo đội ngũ giáo viên mà còn cần thiết với bất kỳ học sinh nào. Đối với giáo viên, việc biên soạn đề đã là một việc không dễ chút nào, nhất là khi kiểm tra trắc nghiệm, yêu cầu đặt ra là mỗi học sinh phải có một đề riêng biệt. Vậy nếu 1 lớp có 45 học sinh thì 1 giáo viên phải soạn bằng đúng số đó đề kiểm tra. Đây quả thực là thách thức trong khi trước đây, số đề cho 1 tiết kiểm tra là 1. So sánh tỉ lệ thì khó mà tưởng tượng, nhất là với các giáo viên không am hiểu về công nghệ thông tin. Với học sinh, việc phải giải quyết từ 25 tới 30 câu hỏi trong 1 tiết tưởng chừng không bao giờ có. Trước đây các em thường chỉ phải làm từ 3 tới 4 bài tập trong 1 giờ kiểm tra. Vì thế việc có được kỹ năng làm bài tập trắc nghiệm là hết sức cần thiết. III, MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU Với các bài cụ thể, đề tài sẽ đưa ra được 2 vấn đề cần phải giải quyết được: - Hướng dẫn giáo viên dựa vào các cơ sở lý luận để tạo một ngân hàng đề trắc nghiệm và trộn đề trắc nghiệm. - Hướng dẫn học sinh giải bài tập trắc nghiệm trên cơ sở các kiến thức có liên quan. Trường THCS Phú Lâm 3 Năm học 2005-2006 Sáng kiến kinh nghiệm Nguyễn Thế Lâm Với mục đích đó, yêu cầu đặt ra với đề tài là phải giải quyết tốt phần lý luận chung. Đồng thời phải đưa ra được các ví dụ cụ thể, sinh động, đặc trưng bộ môn và có tính ứng dụng thực tiễn cao. IV. KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT Với phạm vi của đề tài, đối tượng được nói đến là đông đảo đội ngũ giáo viên và học sinh. Trong đó, đề tài tập trung vào khách thể là học sinh THCS, nhứng người mới chỉ có khái niệm sơ đẳng về phương pháp trắc nghiệm, chưa có một đường lối rõ ràng. Cũng trong khuôn khổ của mình, đề tài sẽ hướng đội ngũ giáo viên có một phương pháp để tạo đề trắc nghiệm môn hoá học. Đó sẽ là cơ sở cho việc đổi mới dạy học đồng thời cũng là tiền đề cho việc nâng cao chất lượng học sinh. Phương pháp nghiên cứu: Để đảm bảo tính sát thực của đề tài và bảo đảm tính khoa học, trong đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản như sau: - Phương pháp sử dụng tài liệu: Đề tài có sử dụng một số tài liệu hướng dẫn thiết kế và giải bài tập trắc nghiệm môn Hoá học. - Phương pháp trò chuyện: Đây là phương pháp cơ bản trong việc nắm được tâm lý của người dạy cũng như người học trong khi thiết kế và giải bài tập trắc nghiệm môn Hoá học. - Phương pháp dùng dụng cụ hỗ trợ: Để tạo được các câu hỏi trắc nghiệm, đề tài có sử dụng các chương trình tin học ứng dụng trong nhà trường giúp biên soạn và tạo đề kiểm tra trắc nghiệm cho học sinh như: EmpTest của Đại học quốc gia Thành phố HCM… V. NHIỆM VỤ, PHẠM VI VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN CỦA ĐỀ TÀI Với nội dung của mình, đề tài sẽ đưa ra được 2 nhiệm vụ cần phải giải quyết được: - Hướng dẫn giáo viên dựa vào các cơ sở lý luận để tạo một ngân hàng đề trắc nghiệm và trộn đề trắc nghiệm. Trường THCS Phú Lâm 4 Năm học 2005-2006 Sáng kiến kinh nghiệm Nguyễn Thế Lâm - Hướng dẫn học sinh giải bài tập trắc nghiệm trên cơ sở các kiến thức có liên quan. Về phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong phạm vi 1 trường học THCS. Tuy nhiên phạm vi áp dụng của nó không giới hạn về không gian cũng như về cơ sở vật chất. Trong khuôn khổ làm đề tài, phạm vi nghiên cứu trọng tâm là khách thể của đề tài: Đó là giáo viên dạy học môn Hoá học và học sinh đang học môn Hoá học. Thời gian thực hiện: Đề tài được thực hiện trong thời gian một học kỳ. Trong thời gian đó, học sinh được tiếp xúc với các kỳ thi như: Thi định kỳ, thi giữa kỳ, thi cuối kỳ … Điều này giúp đề tài có thể khẳng định tính sát thực của mình. VI. ĐÓNG GÓP VỀ MẶT KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI. Đề tài khi hoàn thành sẽ là tài liệu nghiên cứu cho giáo viên dạy môn hoá học, đồng thời cũng là có sở để các giáo viên có thể nghiên cứu, phát triển và đi sâu thêm theo các hướng khác nhau. Đề tài sẽ góp phần cung cấp tài liệu cho học sinh có thể nghiên cứu và tìm ra phương pháp làm bài tập trắc nghiệm cho mình. Đây cũng là trọng tâm chủ yếu của đề tài. Tính khoa học của đề tài càng được thể hiện rõ trong thời kỳ đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Nhất là trong năm học 2006 – 2007, Bộ GD-ĐT nước ta đã có chính sách thi trắc nghiệm với bộ môn Hoá học. Hy vọng rằng, với nội dung sâu sắc của mình, đề tài sẽ góp một phần trong sự nghiệp giáo dục của Tỉnh nói riêng và nước ta nói chung. Trường THCS Phú Lâm 5 Năm học 2005-2006 Sáng kiến kinh nghiệm Nguyễn Thế Lâm PHẦN B: NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC, CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1, Cơ sở lý luận Việc làm bài tập theo phương pháp trắc nghiệm không phải là mới, cũng không phải là chỉ có ở bộ môn hoá học, các nước khác và các bộ môn khác đã áp dụng phương pháp này từ lâu. Trong đó các nước trên thế giới đã áp dụng rộng rãi trong các kỳ thi tuyển quan trọng. Hoà cùng không khí đó, trong những năm học vừa qua, giáo dục nước nhà đã có nhiều đổi mới. Việc thay sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học đã đạt được những thành tựu đáng kể. Năm học 2006 – 2007 là năm học đầu tiên chúng ta thi đầu vào đại học bằng phương pháp trắc nghiệm với 4 môn: Hoá Học, Sinh Học, Vật Lý và Ngoại Ngữ. Đồng thời là năm cuối cùng chúng ta thay sách giáo khoa bậc THPT. Đây cũng là năm chúng ta nhìn lại những vấn đề đã đạt được cũng như còn tồn tại trong hệ thống giáo dục THCS. Trong nền công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển con người toàn diện là nhiệm vụ hàng đầu. Trong đó, quan trọng hơn cả là lớp người lao động có khả năng va chạm thực tế, có kinh nghiệm trong các hoạt động và có kỹ năng thành thạo. Phục vụ mục đích đó, trong những năm qua , nền giáo dục nước ta đã cải cách tiến bộ rõ rệt. Phương pháp dạy học cũng đã có nhiều bước đột phá. Từ dạy học theo phương pháp truyền thống tức là chủ yếu trang bị cho các em hệ thống lý thuyết. Chú trọng tới việc truyền thụ kiến thức trên sách vở. Điều này chỉ giúp các em có được một hệ thống kiến thức đầy đủ nhưng hoàn toàn xa lạ với thực tế. Điều này có thể chứng minh khi lớp thanh niên này ra trường; họ hoàn toàn ngỡ ngàng trước thực tế khác xa so với lý thuyết được trang bị. Khắc phục điều đó, trong những năm qua, giáo dục đã đẩy mạnh việc va chạm với thực tế của Trường THCS Phú Lâm 6 Năm học 2005-2006 Sáng kiến kinh nghiệm Nguyễn Thế Lâm học sinh. Bằng cách gắn thực tế với tiết dạy. Dùng lý thuyết phục vụ trở lại thực tế. Số tiết thực hành của học sinh tăng lên, tạo điều kiện cho học sinh được tự mình kiểm nghiệm lại các kiến thức mình thu được. Hoá học là một môn khoa học thực nghiệm. Tất cả các kiến thức của Hoá học đều rút ra từ thực tế và được kiểm nghiệm bằng thực tế. Vì vậy, khi đổi mới phương pháp dạy học, số tiết thực hành Hoá học cũng tăng lên nhiều. Vì vậy điều cần thiết là phải có một kỹ năng làm thí nghiệm một cách thành thạo. Đảm bảo “Học đi đôi với hành”. Để đạt được mục đích đó, phương pháp làm bài tập hoá học phát huy hiệu quả nhất là phương pháp tư duy kết hợp thực tế. Đồng thời người làm bài còn phải biết kết hợp tính logic để đạt năng suất làm việc cao. Đây là một khó khăn mà không phải học sinh nào cũng làm được. Và đó cũng là điều mà không phải một người giáo viên nào cũng rèn luyện được cho học sinh của mình. 2, Cơ sở thực tế. Thực tế hiện nay, khi đổi mới phương pháp dạy học, việc hình thành các kỹ năng để làm bài tập trắc nghiệm là hết sức cần thiết. Người giáo viên là trung tâm để dắt học sinh vào trọng tâm bài đồng thời cũng là người phải đưa ra các bài tập cho các em cọ sát. Nhưng thực tế còn nhiều bất cập. Hiện nay, hầu hết đội ngũ giáo viên đã công tác lâu năm. Do đó đã quen với phương pháp làm bài tập truyền thống. Vì thế các thao tác biên soạn và giải đề thi trắc nghiệm là rất hạn chế. Mặt khác học sinh THCS lại là đối tượng chưa được làm quan nhiều với dạng bài tập này nên việc hình thành các kỹ năng là rất kém, gây nên các khó khăn cơ bản trong các giờ kiểm tra. Trong khi đó, trước mắt các em lại là cả một con đường dài với vô số các bài tập trắc nghiệm, các kỳ thi và cả thực tế. Vì thế mô hình chung phải trang bị cho các em một hành trang: Phương pháp làm bài tập trắc nghiệm hoá học. Trường THCS Phú Lâm 7 Năm học 2005-2006 Sáng kiến kinh nghiệm Nguyễn Thế Lâm CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH Hiện nay, học sinh THCS đang được làm quen với phương pháp học tập mới. Cũng như vậy khi học sinh làm bài thi và các bài kiểm tra. Hoà trong không khí đó thì bộ môn hoá học trở thành một trong các môn đi đầu trong công cuộc đổi mới giáo dục. Với đặc thù bộ môn là một môn khoa học thực nghiệm, gắn liền với tính toán nhưng lại phải nắm được chắc kiến thức. Vì thế hoá học là môn học khó đối với bất kỳ học sinh nào. Việc học hoá học lại càng trở nên khó khăn hơn khi năm học 2006 – 2007, Bộ GD-ĐT đã ban hành quyết định thi trắc nghiệm môn Hoá học trong các kỳ thi đại học và tốt nghiệp THPT. Đó là thách thức lớn cho học sinh các cấp nói chung và là cơ hội bứt phá cho học sinh các cấp. Để đón đầu được xu hướng đó, không phải chỉ học sinh THPT mới dược tập dượt phương pháp làm bài tập trắc nghiệm, mà ở bậc THCS cũng cần có các biện pháp thích hợp để giúp các em có được kỹ năng ban đầu. Thực tế hiện nay, học sinh THCS chưa có phương pháp làm bài trắc nghiệm. Có thể thấy rõ qua các kỳ thi, đại đa số học sinh có tư tưởng coi nhẹ, làm đại khái phần thi trắc nghiệm. Đây là một diều đáng báo động khi mà số lượng cũng như chất lượng các bài tập trắc nghiệm ngày càng được nâng cao. Trước tình hình đó, cùng với việc đổi mới phương pháp thi của Bộ GDĐT, trong những năm qua, đã có không ít các tác giả đã băn khoăn, trăn trở trong việc tìm ra cho học sinh một phương pháp để làm bài trắc nghiệm. Đó là Lê Đình Nguyên, đó là Ngô Ngọc An, là Nguyễn Hữu Thạc, Nguyễn Xuân Trường… Nhưng tất cả vấn chỉ là trên sách vở vì đa phần các tác giả đều chỉ viết chung chung, không xoáy sâu vào thực tế. Chưa thực sự khắc phục được điểm yếu của học sinh và chưa đề ra được các biện pháp hợp lý. Là một giáo viên dạy Hoá học bậc THCS, tôi thấy rằng cần phải có trách nhiệm nào đó trong việc trang bị cho các em các kỹ năng cần thiết để bước vào đời, để vượt qua các kỳ thi trước mắt. Theo đưởi tư tưởng đó, tôi cùng các đồng Trường THCS Phú Lâm 8 Năm học 2005-2006 Sáng kiến kinh nghiệm Nguyễn Thế Lâm nghiệp đã nghiên cứu, khảo sát và cùng đưa ra đề tài: “Phương pháp tạo và hướng dẫn làm bài tập trắc nghiệm hoá học cho học sinh” Với thực tế năm học 2006 – 2007, đề tài vẫn còn trong bước đầu của giai đoạn áp dụng vào thực tế. Vì vậy hẳn không tránh khỏi thiếu sót. Tuy nhiên, hy vọng nó sẽ góp một phần quan trọng trng việc hỗ trợ các đồng chí giáo viên cũng như là một tài liệu bổ ích giúp học sinh có thể tham khảo, từ đó nâng cao được kỹ năng làm bài trắc nghiệm của mình.  CHƯƠNG III: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. Để đảm bảo một bài kiểm tra trắc nghiệm đạt hiệu quả cao, giáo viên truyền thụ hết được kỹ năng, kiến thức, học sinh lĩnh hội được các yêu cầu mà bài đặt ra. Giáo viên và Học sinh có thể thực hiện linh hoạt khác nhau tuỳ theo điều kiện, cơ sở vật chất của trường dựa trên một số các hoạt động sau đây: 1. Sự chuẩn bị của Giáo viên và Học sinh cho bài kiểm tra. Trước khi làm bài kiểm tra, việc chuẩn bị của Giáo viên và Học sinh là hết sức cần thiết. Giáo viên cần chuẩn bị trước toàn bộ đề bài, đáp án phục vụ cho bài kiểm tra. Đồng thời phải làm thao tác trộn đề và phân phối đề cho học sinh. Việc làm này sẽ đảm bảo cho giáo viên chuẩn bị sẵn các phương án, tình huống bắt gặp trong bài kiểm tra để có thể đảm bảo xử lý kịp thời. Đối với Học sinh, để chuẩn bị cho bài kiểm tra cần xem lại phần kiến thức có liên quan, đặc biệt là tài liệu hướng dẫn làm bài tập và chuẩn bị trước các dụng cụ cần thiết hư giấy nháp, bút chì, máy tính… Việc làm này sẽ giúp Học sinh chuẩn bị sẵn một tâm thế khi bước vào bài kiểm tra. Tạo điều kiện cho các thao tác của học sinh chính xác, làm bài một cách vững vàng hơn. Hơn thế nữa, sự chuẩn bị trước sẽ giúp giáo viên và học sinh có được sự tự tin khi bước vào giờ kiểm tra. Tránh xảy ra các sự việc đáng tiếc trong khi làm bài như: quay cóp, gian lận, nhầm lẫn đề…. Trường THCS Phú Lâm 9 Năm học 2005-2006 Sáng kiến kinh nghiệm Nguyễn Thế Lâm Trong nội dung đề tài, tôi xin nêu ra sự chuẩn bị cần thiết của giáo viên và học sinh cho bài kiểm tra số 4 - Hoá học 8 như sau: + Giáo viên: Chuẩn bị đầy đủ đề bài cho học sinh của lớp. Có thể áp dụng các thành tựu công nghệ thông tin. Trước tiên để có được bài kiểm tra tốt, giáo viên cần biên soạn sẵn một ngân hàng đề trắc nghiệm. Tôi xin lấy ví dụ, đối với bài kiểm tra lần này có thể có một ngân hàng câu hỏi như sau: 1. Đối với phần tính chất hoá học của oxi, giáo viên có thể xoáy học sinh vào 3 tính chất cơ bản. Trên cơ sở đó, học sinh phải nắm được và không được nhầm lẫn giữa các tính chất với nhau, sau đây là một số câu hỏi minh hoạ: Câu : Tính chất hoá học của oxi là: A- Tác dụng với kim loại B- Tác dụng với phi kim C- Tác dụng với hợp chất D- Cả 3 tính chất trên Câu : Sự oxi hóa là: A- Sự tác dụng của oxi với 1 kim loại. B- Sự tác dụng của oxi với 1 phi kim. C- Sự tác dụng của oxi với 1 chất. D- Sự tác dụng của oxi với 1 nguyên tố hoá học. Câu : Sự cháy là: A- Sự oxi hoá có toả nhiệt và phát sáng B- Sự oxi hoá có toả nhiệt nhưng không phát sáng C- Sự oxi hoá không toả nhiệt và phát sáng D- Sự oxi hoá chậm có toả nhiệt và phát sáng Câu : Sự oxi hoá chậm là: A- Sự oxi hoá có toả nhiệt và phát sáng B- Sự oxi hoá có toả nhiệt nhưng không phát sáng C- Sự oxi hoá không toả nhiệt và phát sáng Trường THCS Phú Lâm 10 Năm học 2005-2006 Sáng kiến kinh nghiệm D- Sự cháy có toả nhiệt và phát sáng Nguyễn Thế Lâm 2. Để giúp học sinh nắm chắc khái niệm về các loại phản ứng hoá học, trước bài kiểm tra, giáo viên cần cho học sinh hệ thống lại các khái niệm về phản ứng hoá hợp, phản ứng phân huỷ. Trên cơ sở đó, giáo viên có thể biên soan các câu hỏi như sau: Câu : Phản ứng hoá hợp là: A- Là phản ứng hoá học trong đó chỉ có 1 chất mới được tạo ra từ 2 hay nhiều chất ban đầu B- Là phản ứng hoá học trong đó chỉ có 1 chất mới được tạo ra từ 2 hay nhiều chất sản phẩm C- Là phản ứng hoá học trong đó chỉ có 1 chất sinh ra 2 hay nhiều chất mới D- Là phản ứng hoá học trong đó chỉ có 1 chất tham gia được tạo ra từ 2 hay nhiều chất ban đầu Câu : Phản ứng phân huỷ là: A- Là phản ứng hoá học trong đó chỉ có 1 chất mới được tạo ra từ 2 hay nhiều chất ban đầu B- Là phản ứng hoá học trong đó chỉ có 1 chất ban đầu tạo ra 2 hay nhiều chất tham gia. C- Là phản ứng hoá học trong đó chỉ có 1 chất sinh ra 2 hay nhiều chất mới D- Là phản ứng hoá học trong đó chỉ có 1 chất tham gia được tạo ra từ 2 hay nhiều chất ban đầu 3. Cũng trong phạm vi của bài kiểm tra, một nội dung cơ bản mà học sinh phải nắm được đó là khái niệm, công thức, phân loại và gọi tên các oxit. Nhằm giúp học sinh nắm được khái niệm oxit một cách chắc chắn cũng như các khái niệm về oxit axit, oxit bazơ. Giáo viên có thể dùng các câu hỏi sau: Câu : Oxit là: A- Hợp chất của oxi với 1 nguyên tố khác B- Hợp chất gồm 2 nguyên tố, trong đó có 1 nguyên tố là oxi. C- Hợp chất được tạo bởi nguyên tố oxi và 1 nguyên tố nào đó. Trường THCS Phú Lâm 11 Năm học 2005-2006 Sáng kiến kinh nghiệm D- Cả A, B, C đúng. Nguyễn Thế Lâm Câu : Oxit axit là: A- Là oxit của phi kim và tương ứng với 1 axit B- Là oxit của kim loại và tương ứng với 1 axit C- Là oxit của phi kim và tương ứng với 1 oxit axit D- Thường là oxit của phi kim và tương ứng với 1 axit Câu : Oxit bazơ là: A- Là oxit của phi kim và kim loại, tương ứng với 1 bazơ B- Là oxit của kim loại và tương ứng với 1 bazơ C- Thường là oxit của phi kim và tương ứng với 1 bazơ D- Là oxit của phi kim và tương ứng với 1 oxit axit Lưu ý: Khi ra bài tập, giáo viên nên đưa ra các phương án ảo, gây nhiễu có nội dung gần giống với đáp án để đòi hỏi học sinh phải tư duy logic. 4. Giáo viên cũng có thể luyện tập cho học sinh không chỉ thuộc khái niệm mà còn có thể yêu cầu học sinh có được kỹ năng nhận biết ra các loại oxit. Dựa trên sườn đó, giáo viên có thể biên soạn một số câu hỏi như sau: Câu : Cho các oxit sau: CO2, SO2, Fe2O3, P2O5, K2O. Trong đó có: A- Hai oxit axit và 3 oxit bazơ B- Ba oxit axit và 2 oxit bazơ C- Một oxit axit và 4 oxit bazơ D- Bốn oxit axit và 1 oxit bazơ Câu : Cho các oxit sau: CaO, SO2, Fe2O3, P2O5, K2O. Trong đó có: A- Hai oxit axit và 3 oxit bazơ B- Ba oxit axit và 2 oxit bazơ C- Một oxit axit và 4 oxit bazơ D- Bốn oxit axit và 1 oxit bazơ Tương tự, giáo viên cho các câu hỏi khác dạng giống các câu hỏi trên: Cho các oxit sau: …. Trong đó có: A- … Trường THCS Phú Lâm 12 Năm học 2005-2006 Sáng kiến kinh nghiệm Nguyễn Thế Lâm Dựa trên cách này, giáo viên có thể tạo ra vô số các câu hỏi trắc nghiệm phục vụ bài kiểm tra của mình. Tuy nhiên, không nên biên soạn quá nhiều câu hỏi cùng một dạng. Số lượng câu hỏi cũng không nhất thiết phải là bội số của số học sinh. Có thể sử dụng một câu hỏi cho nhiều đề bài, miễn là số thứ tự của chúng xa nhau để tránh hiện tượng quay cóp. Về phần tên gọi của các oxit, giáo viên cũng có thể cho các câu hỏi như sau: Câu: Cho oxit sau: N2O3. Cách gọi tên đúng là: A- DiNitơ TriOxit B- Nitơ (III) Oxit C- Nitơ Oxit D- Cả 3 cách đều đúng Câu: Cho oxit sau: Cr2O3. Cách gọi tên đúng là: A- DiCrom TriOxit B- Crom (III) Oxit C- Crom Oxit D- Cả 3 cách đều đúng Với các bài tập định lượng trong chương này, giáo viên có thể cho ra các câu hỏi như sau: Câu : Một oxit của Lưu huỳnh có khối lượng mol là 64 gam và có thành phần % của lưu huỳnh trong đó là 50%. Công thức hoá học của oxit đó là: A- SO2 B- SO3 C- S2O D- SO4 Câu : Một oxit của Photpho có khối lượng mol là 142 gam và có thành phần % của photpho trong đó là 43,66%. Công thức hoá học của oxit đó là: A- P2O5 B- PO3 C- P2O3 D- PO4 Câu : Khi cho 3,1 gam Photpho tác dụng vừa đủ với Oxi, lượng P 2O5 tạo thành sau phản ứng là: A, 6,2 gam Trường THCS Phú Lâm B, 7,1 gam C, 12,6 gam 13 D, 14,2 gam Năm học 2005-2006 Sáng kiến kinh nghiệm Nguyễn Thế Lâm Câu : Để điều chế được 9,6 gam Oxi trong phòng thí nghiệm, người ta cần phải dùng bao nhiêu gam KClO3? a, 122,5 gam b, 24,5 gam c, 36,75 gam d, 87,35 gam Câu : Đốt cháy Photpho trong bình đựng 6,72 lit Oxi (đktc) thu được 14,2 gam Diphotpho pentaoxit. Khối lượng Phot pho đã cháy là: A- 6 g B- 6,1 g C- 6,2 g D- 7,5 g Như vậy, giáo viên có thể tạo ra hàng loạt đề bài mà không sợ bị trùng lặp, nhàm chán hay sai kiến thức trọng tâm. + Học sinh: Yêu cầu chung là phải xem lại toàn bộ phần tính chất của oxi. Xem lại về khái niệm, phân loại và cách gọi tên oxit. Từ đó tạo nên tâm lý vững vàng khi làm bài kiểm tra. Khi làm bài kiểm tra cần đọc kỹ nội dung câu hỏi, suy nghĩ rồi mới chọn đáp án. Khi chọn cần đánh dấu bằng bút chì trước để có thể sửa chữa được. Lúc làm bài cần để ý các kiến thức liên quan, then chốt để trả lời câu hỏi. VD: Với câu hỏi: SO2 có tên gọi là gì? Học sinh có thể suy nghĩ logic như sau: Đây là oxit của phi kim có nhiều hoá trị, vậy phải có các tiếp đầu ngữ: Từ đó suy ra phương án trả lời là Lưu huỳnh dioxit. Các phương án khác có thể bỏ qua. Cũng như vậy khi làm các bài tập định lượng, nên chú ý vào 1 dữ liệu nổi bật. VD: Một oxit của Photpho có khối lượng mol là 142 gam và có thành phần % của photpho trong đó là 43,66%. Công thức hoá học của oxit đó là gì? Lúc này học sinh chỉ cần nhìn vào PTK = 142 có thể kiểm tra ngay trong các oxit trên là P2O5. Vậy không cần để ý vào thành phần % của P. Với cách làm như trên, trong đợt kiểm tra vừa qua, kết quả bài của các em học sinh tăng lên rõ rệt. Khối 8 đạt 91,5% trên trung bình. Khối 9 đạt 93% trên trung bình. Đó quả thực là một thành công lớn và cũng là sự đóng góp tâm huyết cả tất cả các thầy cô. Trường THCS Phú Lâm 14 Năm học 2005-2006 Sáng kiến kinh nghiệm Nguyễn Thế Lâm PHẦN C: KẾT LUẬN Hiện nay, việc trang bị các kỹ năng cho Giáo viên và Học sinh đã và đang được tiến hành qua các lớp tập huấn hè, các câu lạc bộ trong các trường học. Nhưng để duy trì các hoạt động đó cũng như tạo điều kiện để học sinh có thể tham gia các kỳ thi chất lượng hơn thì việc trang bị một hệ thống cơ sở vật chất cho các trường là hết sức cần thiết. Hiện nay, theo trực quan tôi thấy rằng hầu hết các trường đều có đội ngũ giáo viên chưa biết sử dụng thành thạo các phương pháp tạo đề trắc nghiệm, cúng như vậy, đa số học sinh làm bài trắc nghiệm một cách qua loa, đại khái. Đây là vấn đề bức xúc nhất là trong thời kỳ đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Đề tài khi được thực hiện sẽ đem lại lợi ích to lớn cho học sinh và giáo viên dạy môn hoá học. Đề tài sẽ góp phần cung cấp tài liệu cho học sinh có thể nghiên cứu và tìm ra phương pháp làm bài tập trắc nghiệm cho mình. Đây cũng là trọng tâm chủ yếu của đề tài. Tính khoa học của đề tài càng được thể hiện rõ trong thời kỳ đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Nhất là trong năm học 2006 – 2007, Bộ GD-ĐT nước ta đã có chính sách thi trắc nghiệm với bộ môn Hoá học. Kết luận. Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng đề tài vẫn còn nhiều thiếu sót. Trong khuôn khổ của mình, đề tài đã giải quyết được các vấn đề đặt ra. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục. Hy vọng khi đọc đề tài, tôi sẽ nhận được các ý kiến đóng góp chân thành của các đồng nghiệp và bạn đọc để đề tài ngày càng hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Trường THCS Phú Lâm 15 Năm học 2005-2006 Sáng kiến kinh nghiệm Nguyễn Thế Lâm TÀI LIỆU THAM KHẢO 1, Sách giáo khoa Hoá Học 8 2, Sách giáo viên Hóa Học 8 3, Hướng dẫn làm bài tập trắc nghiệm Hoá Học THCS 4, Hoá Học thực hành – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 5, Tạp chí “Bạn là nhà Hoá Học” Số 174 6, Hoá học thực hành – Sách CĐSP. NXB Giáo Dục 7, 400 bài tập hoá học lớp 8 - Ngô Ngọc An Trường THCS Phú Lâm 16 Năm học 2005-2006
- Xem thêm -