Skkn phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp lớp 2 qua phân môn kể chuyện

  • Số trang: 22 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 24 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

Mục lục Trang Mở đầu ----------------------------------------------------------------------------------------------------2 Tính cấp thiết của đề tài---------------------------------------------------------------------------------2 Đối tượng và phạm vi nghiện cứu---------------------------------------------------------------------2 Mục đích nghiên cứu----------------------------------------------------------------------------------------------2 Cấu trúc của tiểu luận------------------------------------------------------------------------------------2 Phương pháp nghiên cứu-------------------------------------------------------------------------------2 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẨN ĐỀ VỀ SÁCH GIÁO KHOA VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN LỚP 2--------------------------------------------------------------------------3 Giờ kể chuyện trong Sách giáo khoa lớp 2----------------------------------------------------------3 CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGÔN NGỮ CHO HỌC SINH LỚP 2 QUA PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN--------------------------------------------------------------------7 Một số vấn đề phương pháp dạy học-----------------------------------------------------------------4 Thế nào là kể chuyện theo tranh?---------------------------------------------------------------------7 Rèn luyện kỹ năng nói qua hình thức kể chuyện theo tranh--------------------------------------7 Hướng dẫn kể chuyện theo sách giáo khoa và sách giáo viên------------------------------------7 Rèn luyện kĩ năng nói qua hình thức kể chuyện bằng hội thoại, giao tiếp----------------------9 Thế nào là kể chuyện bằng hội thoại, giao tiếp?----------------------------------------------------9 Hướng dẫn học sinh kể chuyện bằng hội thoại, giao tiếp.---------------------------------------10 Rèn luyện kỹ năng nói thông qua hình thức kể chuyện phân vai-------------------------------11 KẾT LUẬN--------------------------------------------------------------------------------------------13 MỞ ĐẦU 1 1. Tính cấp thiết của đề tài Phân môn kể chuyện ở tiểu học có vị tri quan trọng trong việc phát triển tư duy bồi dưỡng tâm hồn cũng như nâng cao năng lực ngôn ngữ cho học sinh.Cùng với các phân môn khác, kể chuyện giúp học sinh tiểu học tăng cường vốn từ, rèn luyện kĩ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ, bước đầu hình thành ở học sinh những kỹ năng đầu tiên trong cuộc sống giao tiếp của các em. Đối với học sinh lớp 2, việc nâng cao năng lực ngôn ngữ còn có ý nghĩa hết sức thiết thực, học sinh lớp 2 có vốn từ vựng ít, cách diễn đạt còn non nớt, vụng về, việc phát triển ngôn ngữ cho các em vì vậy trở thành một yêu cầu cấp thiết. Từ những thực tế trên chúng tôi chọn đề tài “ Phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp lớp 2 qua phân môn kể chuyện” để làm tiểu luận cuối khóa. 2. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu những phương thức tổ chức cho học sinh lớp 2 phát triển năng lực ngôn ngữ thông qua phân môn kể chuyện. 3. Đối tượng và phạm vi nghiện cứu Đối tượng nghiên cứu : Học sinh lớp 2 trường tiểu học Phạm vi nghiên cứu: những phương thức phát triển kỹ năng mới thông qua phân môn kể chuyện. 4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp thống kê. Phương pháp phân tích. Phương pháp so sánh 5. Cấu trúc của tiểu luận Ngoài phần mở đầu và kết luận, tiểu luận gồm 2 chương: Chương 1: Một số vấn đề về sách giáo khoa và phương pháp dạy học phân môn kể chuyện lớp 2. Chương 2:Phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 2 qua phân môn kể chuyện. 2 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẨN ĐỀ VỀ SÁCH GIÁO KHOA VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN LỚP 2 1.1 Giờ kể chuyện trong Sách giáo khoa lớp 2 Năm 2003 – 2004 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã áp dụng thay sách giáo khoa cho lớp 2 trên toàn quốc, ở chương trình tiểu học mới, phân môn kể chuyện có mối liên hệ gắn bó với các phân môn khác như Tập đọc, Tập làm văn. Nó có sự gắn bó không chỉ ở sự phân bố giờ học mà còn ở nội dung dạy, thể hiên rõ quan điểm tích hợp trong việc xây dựng chương trình ở chương trình tiểu học mới, tạo ra một phong cách mới trong dạy học phân môn kể chuyện. Việc lấy văn bản ở bài Tập đọc cũng như một số bài ở ngoài làm ngữ liệu cho giờ kể chuyện giúp giáo viên tiết kiệm được khá nhiều thời gian, giúp học sinh tìm hiểu truyện; ghi nhớ cốt truyện. Do đó, chương trình đã dành được nhiều thời gian cho việc rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh. Trong cấu trúc SGK Tiếng việt lớp 2 , các câu chuyện được phân bố như sau: Thể loại truyện Thần thoại, truyền thuyết Cổ tích và cổ tích mới Số lượng 2 Tên truyện Sơn Tinh Thủy Tinh 5 Chuyện quả bầu mẹ Sự tích cây vú sữa Hai anh em Bà cháu Tìm ngọc Ngụ ngôn Ông Mạnh thắng thần gió Có công mài sắt có ngay nên kim 6 Chuyện bốn mùa Một trí khôn hơn trăm trí khôn Kho báu Câu chuyện bó đũa 3 Qủa tim khỉ Danh nhân lịch sử 3 Ai ngoan sẽ được thưởng Chiếc rễ đa tròn Bóp nát quả cam Sinh hoạt 10 Phần thưởng Bím tóc đuôi sam Chiếc bút mực Mẫu giấy vụn Người thầy cũ Người làm đồ chơi Bông hoa niềm vui Sáng kiến của bé Hà Con chó nhà hàng xóm Đồng thoại Những quả đào Bạn của nai nhỏ 3 Chim sơn ca và bông cúc trắng Bác sĩ nói 1.2 Một số vấn đề phương pháp dạy học Theo luật giáo dục về yêu cầu nội dung , phương pháp giáo dục tiểu học thì : Phương pháp giáo dục tiểu học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của từng học sinh, phù hợp với từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn , tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh Đổi mới phương pháp dạy học là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình giáo dục. Đổi mới phương pháp dạy học được thể hiện đậm nét trong chương trình mới ở chỗ: 4 - Chương trình tiểu học mới tập trung vào cách dạy học, đặc biệt là giúp học sinh biết cách học và có nhu cầu tự học, khuyến khích dạy học cá nhân và dạy học hợp tác đề phát triển năng lực theo tốc độ học, khả năng của từng học sinh. - Là một phân môn nằm trong chương trình tiểu học mới, phân môn kể chuyện lớp 4 cũng được dạy theo phương pháp mới. Trong giờ kể chuyện, giáo viên chỉ nêu đầu bài, yêu cầu và mục đích của tiết kể chuyện. Học sinh tự kể (cá nhân) hoặc nhóm theo các yêu cầu thực hiện, chủ đạo trong tiết kể chuyện đó. Giáo viên chỉ kể mẩu một lần, thậm chí giáo viên không cần kể mẩu, mà có thể gọi học sinh khá lên kể mẩu, cho học sinh xung phong lên kể mẩu.Còn lại các học sinh khác lần lượt kể theo đoạn và kể cả câu chuyện bằng nhiều hình thức khác. Trong khi học sinh kể, chổ nào các em quên, lúng túng thì giáo viên nhác nhở một cách khéo léo, tế nhị hoặc mời một học sinh khác nhắc giúp bạn. Như vậy, trong giờ dạy học kể chuyện, học sinh sẽ phát huy được khả năng nghe nói của mình một cách tối đa. Hơn nữa giáo viên lại sử dụng các phương tiện dạy học như tranh ảnh, với một số dụng cụ thật với hình thức kể chuyện sắm vai, làm cho giờ học thực sự sôi nổi, hấp dẩn. - Hình thức dạy học cũng được đổi mới: giáo viên có thể tổ chức dạy học theo lớp, theo nhóm… Trước kia giáo viên chỉ dạy theo lớp là chủ yếu, học sinh ít được học theo nhóm. Hình thức học mới này sẽ giúp học sinh phát triển kỹ năng nói trước lớp, trước đám đông. Ví dụ: Con chó nhà hàng xóm (Tiếng Việt 2-tập 1 trang 128) yêu cầu dựa vào tranh kể lại từng đoạn câu chuyện đã được nghe cô giáo kể. Với tiết kể chuyện này, giáo viên cho học sinh quan sát tranh 1, sau đó đặt câu hỏi gợi ý: - Bạn của bé ở nhà là ai? - Bé và cún Bông đang làm việc gì? Sau khi quan sát tranh 1, nghe giáo viên đặt câu hỏi, học sinh phải huy động nhiều thao tác: nghe để nhớ câu hỏi, hiểu câu hỏi để xác định nội dung câu trả lời. cuối cùng các em phải trình bày được câu hỏi của mình dưới hình thức nói. Như vậy để trả lời được câu hỏi, học sinh phải sử dụng nhiều thao tác bộ phận kỹ năng nói: nghe-nhớ, 5 nghe –hiểu, xác định nội dung câu trả lời,nói. Đó là từng hoạt động của học sinh, mỗi học sinh trong nhóm thảo luận với nhau để tìm câu trả lời chính xác. Sau khi học sinh đã nhớ được đoạn 1 của câu chuyện, giáo viên cho học sinh kể. đây là lúc các em bước đầu rèn luyện kĩ năng nói nhưng chỉ mới ở dạng độc thoại. lời kể của các em diễn ra liên tục, sau đó các em ít có thời gian để ngừng nghỉ, chuẩn bị.Chính vì vậy đòi hỏi học sinh phải chuẩn bị kĩ càng nội dung kể , tâm thể kể chuyện ( thậm chí cả ngôn ngữ và yếu tố phụ trợ). Khi kể chuyện, ngoài việc tự nghe mình kể, các em còn phải lưu ý quan sát những phản ứng từ người nghe, để có sự điều chỉnh phù hợp về nội dung, giọng kể, điệu bộ… Những học sinh khác, khi nghe bạn kể chu ý nghe đẻ nhận xét lời kể của bạn về nội dung, về cách diễn đạt, cách thể hiện để bạn rút được kinh nghiệm và chính bản than các em cũng được bổ trợ những kinh nghiệm đó để điều chỉnh khi mình kể. Qua đây, ta thấy: rõ ràng phương pháp kể chuyện mới này đã có những tiến bộ rõ rệt trong tiết học, giáo viên chỉ là người hướng dẫn chỉ đạo còn học sinh mới thực sự là người làm cho tiết học sôi nổi, hấp dẫn hơn. Bởi trong tiết kể chuyện, hoạt động của học sinh chiếm. 2/3 tiết học. Như vậy có nghĩa là học sinh được chủ động trong việc nghe nói, đẩy ngôn ngữ nói của các em lên một mức cao hơn. 6 CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGÔN NGỮ CHO HỌC SINH LỚP 2 QUA PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN 2. 1 Rèn luyện kỹ năng nói qua hình thức kể chuyện theo tranh: 2.1.1 Thế nào là kể chuyện theo tranh? Chúng ta cần phân biệt kể chuyện theo tranh và sử dụng tranh minh họa cho truyện Tranh ảnh là đồ dùng trực quan có thể sử dụng trong bất kì một môn học nào . Nhưng các môn học khác, sử dụng tranh khi giới thiệu khái niệm hoặc nhằm minh họa cho khái niệm, nhưng ở tiết dạy kể chuyện của chương trình cải cách giáo dục, giáo viên sử dụng tranh minh họa cho nội dung chuyện, làm cho lời kể mình sinh động và hấp dẫn hơn. Còn hình thức kể chuyện theo tranh của chương trình mới thì hoàn toàn khác. Giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ tranh vẽ thể hiện nội dung, biểu diễn của câu chuyện. Học sinh dựa vào tranh vừa là phương tiện trợ giúp trí nhớ một cách đắc lực, vừa là công cụ làm cho việc thể hiện lại câu chuyện một cách sinh động và hấp dẫn. Hình thức kể chuyện theo tranh là hình thức rất hay, phải huy động được khả năng quan sát, óc tưởng tượng, đặc biệt là phát huy khả năng nói ở các em. 2.1.2 Hướng dẫn kể chuyện theo sách giáo khoa và sách giáo viên: Đa số các câu chuyện đều được kể theo tranh, mỗi bức tranh tương ứng với một nội dung của một đoạn truyện, thường thì mỗi câu chuyện có từ 3-4 đoạn nên có từ 34 bức tranh minh họa. Nhưng cũng có những truyện có từ 5-6 đoạn nên minh họa bằng 5-6 tranh, ví dụ như truyện Sự tích hồ Ba Bể ( Tiếng việt 4- trang 8 tập 1) Tranh sử dụng trong truyện kể có 2 loại: tranh kèm theo gợi ý( dung trong những tuần đầu năm học) và tranh không kèm theo gợi ý( dung trong những tuần sau) Trong việc áp dụng biện pháp này, giáo viên có thể sử dụng tranh trong sách giáo khoa hoặc vẽ tranh lớn treo lên bảng. Hướng dẫn đối với những truyện có tranh kèm theo lời gợi ý: Ví dụ truyện Có công mài sắt có ngày nên kim( lớp 2 – tập 1). 7 Qui trình hướng dẫn: Cho học sinh quan sát tranh Giáo viên đặt câu hỏi gợi ý. Cho từng học sinh kể Sau mỗi làn kể, cho lớp nhận xét: Về nội dung: Kể đã đầy đủ chưa? Kể có đúng trình tự không? Về cách diễn đạt: Nói đã thành câu chưa? Dùng từ có hợp không? Đã biết kể bằng lời của mình chưa( mức độ cao)? Về cách thể hiện: Kể có tự nhiên không? Đã biết phối hợp điệu bộ, nét mặt chưa? Giọng kể có thích hợp không? Kể theo tranh 1: Câu hỏi gợi ý: - Cậu bé đang làm gì? - Em hãy nhóa lại chuyện đã đọc: Cậu bé tập viết như thế nào? Ví dụ học sinh kể: Ngày xưa, có một cậu bé làm gì cũng chóng chán, cứ cầm đến quyển sách đọc được vài ba dòng là cậu lại ngáp ngắn ngáp dài rồi ngủ lúc nào không biết. Lúc tập viết, cậu cũng chỉ nắn nót được mấy chữ đầu rồi viết nguệch viết ngoạc cho xong chuyện Kể theo tranh 2: Câu hỏi gợi ý: - Tranh vẽ bà cụ đang làm gì? - Cậu bé hỏi bà cụ điều gì? - Bà cụ trả lời thế nào? - Cậu bé có tin lời bà cụ nói không? Kể theo tranh 3: Câu hỏi gợi ý: - Bà cụ trả lời thế nào? - Sau khi nghe giảng giải, cậu bé làm gì? 8 Kể theo tranh 4: Câu hỏi gợi ý: - Em hãy nói lại câu tục ngữ - Câu tục ngữ khuyên em điều gì? Như vậy, ta thấy : đối với những câu chuyện kèm theo lời gợi ý,giúp học sinh kể được câu chuyện một cách dễ dàng có thể tự mình kể được câu chuyện. Vậy hình thức kể chuyện theo tranh đã phát huy được tác tác dụng của nó, đó là rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh. Để dạy được hình thức bài tập này đạt hiệu quả cao thì giáo viên không nên treo tất cả các tranh cùng một lúc. Kể đoạn nào treo tranh đoạn đó để thu hút sự tập trung chú ý của các em. Nếu nhìn tranh kể toàn bộ câu chuyện thì mới treo tất cả các tranh cùng một lúc.( Phần củng cố) Hơn nữa, giáo viên nên cho học sinh quan sát dưới lớp trước, sau đó gọi các em lên bảng kể và khuyến khích học sinh khi kể không cân nhìn chăm chú vào tranh mà chỉ dùng tranh như một phương tiện làm cho lời kể hay hơn, hấp dẫn hơn. Nghĩa là học sinh quay xuống lớp kể chỗ nào cần đến tranh thì mới nhìn vào tranh. 2.2 . Rèn luyện kĩ năng nói qua hình thức kể chuyện bằng hội thoại, giao tiếp. 2.2.1. Thế nào là kể chuyện bằng hội thoại, giao tiếp? Kể chuyện bằng hội thoại, giao tiếp là hình thức kể chuyện sử dụng dàn ý, câu hỏi gợi ý để hướng dẫn học sinh kể chuyện. Trong tất cả các hình thức kể chuyện đây là hình thức dễ nhất vì các tình tiết, biểu diễn câu chuyện được ghi lại( trong dàn ý hoặc câu trả lời), học sinh dựa vào đó để kể lại truyện. Với các câu chuyện dài, nhiều tình tiết, giáo viên sử dụng hình thức kể chuyện này sẽ giúp học sinh dễ dàng kể lại được câu chuyện. 9 Ví dụ như truyện Kho báu (lớp 2 –tập 2). Nói chung đây cũng là một truyện khá dài, nếu giáo viên dùng hình thức hội thoại, giao tiếp trong tiết kể chuyện sẽ giúp học sinh kể được câu chuyện một cách dễ dàng hơn, đồng thời giúp học sinh phát huy được khả năng nói của mình. Dựa vào dàn ý dưới đây học sinh kể lại câu chuyện. - Đoạn 1: Hai vợ chồng chăm chỉ. + Thức khuya dậy sớm + Không lúc nào ngơi tay + Kết quả tốt đẹp - Đoạn 2: Dặn con +Tuổi già + Hai người con lười biếng + Lời dặn của người cha - Đoạn 3: Tìm kho báu + Đào ruộng tìm kho báu + Không thấy kho báu + Hiểu lời dạy của cha - 2.2.2 Hướng dẫn học sinh kể chuyện bằng hội thoại, giao tiếp. Qua khảo sát sách giáo khoa lớp 2 chương trình mới ta thấy , đây cũng là một hình thức mới, hình thức này không có yếu tố tranh ảnh phụ trợ. Song mỗi đoạn truyện thường có 3-4 câu gợi ý đó gợi lại trí nhớ, trí tưởng tượng của học sinh một cách dễ dàng. Lệnh của hình thức kể chuyện bằng hội, giao tiếp thường là: “Dựa vào các gợi ý 10 sau kể lại từng đoạn của chuyện mới học”. Sau khi phát lệnh, giáo viên ghi gợi ý của từng đoạn lên bảng và cho học sinh nhìn vào gợi ý đó để các em có thể kể lại. Tuy nhiên, để cho hình thức này phát huy hiệu quả rèn kỹ năng nói cho học sinh thì giáo viên không nên ghi những gợi ý đó lên bảng ngay, mà cần đưa ra câu hỏi cho học sinh trả lời. Những câu hỏi này phải đả bảo tính logic của truyện. Như vậy, có những dạng bài tập cụ thể sau: Dạng 1: Kể chuyện theo dàn ý Sách giáo khoa đưa ra những gợi ý hoặc dàn ý tương đối cụ thể để hướng dẫn họ sinh kể lịa câu chuyện. Ví dụ bài chim sơn ca và bông cúc trắng (Tiếng Việt 2tuần 21). Trước khi kể, giáo viên cho học sinh đọc thầm toàn bộ truyện và trả lời câu hỏi sau: - Truyện có mấy đoạn, xác định nội dung của các đoạn. - Giáo viên viết lần lượt từng đoạn lên bảng và từ đó giúp ọc sinh kẻ lại truyện. Dạng 2: Nêu những nhân vật trong truyện, kẻ về sự xuất hiện của nhân vật, nhắc lại lời nhân vật. Ví dụ truyện về người thầy cũ (Tiếng việt 2, tập 1), Bạn của Nai nhỏ (Tiếng Việt 2, tập 1) Ví dụ: Nhắc lại lời nhân vật trong truyện “Bạn của chú Nai nhỏ” (Tiếng việt 2, tập 1) với yâu cầu nhắc lại lời của Nai bố khi Nai nhỏ kể về bạn. Gaios vien cho học sinh nhìn vào tranh, nhớ, nhắc lại lời của Nai cha với Nai nhỏ. Có thể kèm theo những gợi ý như: - Nghe Nai nhỏ kể lại hành động hích đổ hòn đá to của bạn, cha Nai nhỏ nói thế nào? 11 - Nghe Nai nhỏ kẻ người bạn đã nhanh trí kéo mình chạy trốn khỏi con thú dữ, cha Nai đã mừng rỡ nói với con thế nào? - Nghe xong chuyenj bạn mình húc ngã lão Sói để cứu Dê con, cha Nai đã mừng rỡ nói với con thế nào? Từ những câu trả lời của học sinh, giáo viên nhận xét, uốn nắn. Với những bài tập kể lại sự xuất hienj của nhân vật, tiết dạy được tiến hành theo quy trinh trình như sau: -Xác định nhân vật của truyện - Sự xuất hiện của các nhân vật trong truyện về thời gian, địa điểm, lí do xuất hiện Dạng 3: Tóm tắt nội dung của từng đoạn bằng một câu và đặt tên cho từng đoạn truyện. Ví dụ Truyện Một trí khôn hơn trăm trí khôn 2..3. Rèn luyện kỹ năng nói thông qua hình thức kể chuyện phân vai: Đây là hình thức thu hút được đông đảo học sinh tham gia. Không chỉ các em tham gia đóng vai có thể hiện tính cách của nhân vật mà các em ngồi dưới theo dõi, cổ vũ hết sức nhiệt tình. Chính sự hứng thú của học sinh là điều kiện tốt để giáo viên rèn luyện kĩ năng nói, giao tiếp cho các em, trong giờ kể chuyện. Ví dụ: khi phân vai dựng lại câu chuyện Qủa tim khỉ (Tiếng Việt 2- tập 1) . Một em đóng vai người dẫn chuyện, một em đóng vai Khỉ, một em đống vai Cá sấu. Giọng người dẫn chuyện chậm rãi, nhẹ nhàng. Giọng Khỉ ân cần lúc hỏi han cá sấu, bình thản khi biết âm mưu của cá sấu. Giọng buồn một cáh giả dối, đặc biệt là trong mắt cá sấu thỉnh thoảng lại liếc sang khỉ để dò thái độ. Sau khi hướng dẫn xong , có thể giáo viên làm mẫu cho học sinh xem. 12 Như vậy, những dạng bài tập hình thức kể chuyện phong phú đã thu hút , lôi cuốn các em trong giờ kể chuyện, làm cho các em như sống lại với những nhân vật trong chuyện. với niềm say mê của học sinh cũng như sự dạy dỗ tận tình của giáo viên và phương pháp dạy học phù hợp thì giờ kể chuyện sẽ là một môi trường tốt để rèn luyện kỹ năng giao tiếp, kĩ năng nói cho học sinh. KẾT LUẬN Kể chuyện cho học sinh lớp 2 là một trong những trong những phân môn quan trọng góp phần hình thành ở học sinh những kĩ năng sử dụng ngôn ngữ và giao tiếp. Trong chương trình lớp 2, phân môn kể chuyện chiếm một thời lượng tương đối lớn. Với ý thức về vị trí của phân môn, người giáo viên không ngừng đổi mới phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học. 13 Để tiến hành dạy học giờ kể chuyện, tùy thuộc vào nội dung của truyện kể, người giáo viên có thể chọn những phương pháp thích hợp. Có những hình thức kể chuyện mà người giáo viên có thể lựa chọn như sau: Kể chuyện theo tranh vẽ dựa trên những tranh vẽ sát thực với truyện kể, học sinh kể lại cau chuyện. Cac kể chuyện như vậy làm cho tiets học sinh động, học sinh vận dụng vốn ngôn ngữ của mình một cách đa dạng và nhờ vậy phát huy ddowcj tính tích cực sáng tạo của học sinh. Kể chuyện bằng giao tiếp hội thoại được thực hiện trên cơ sở nắm bắt những đoạn hội thoại trong truyện kể. Phươn pháp này giúp học sinh tăng kĩ năng nhạy bén trong giao tiếp. Kể chuyện bằng hình thức phân vai tạo nên sự sinh động cho một giờ học, giúp các em không chỉ hiểu được nội dung của truyenj mà còn thấu hiểu được tính cách cũng như tình cảm của các nhân vật trong truyện. Vận dụng những biện pháp nêu trên, giờ dạy học phân môn kể truyện sẽ đạt những hiệu quả vượt bậc. Tuy nhiên trong giới hạn của một tiểu luận, chúng tôi chưa thể trình bày mọi phương pháp để có một giờ kể tryện hiệu quả. Vì vậy để tài còn là một mảnh đất màu mỡ cho những nghiên cứu trong tương lai. PHỤ LỤC GIÁO ÁN MINH HỌA TRUYỆN QUẢ BẦU (Lớp 2, tuần 32) 14 A.Mục tiêu: Học sinh dựa vào trí nhớ và tranh minh hoạ, kể lại được từng đoạn của câu chuyện theo hai hình thức: kể theo tranh, kể sáng tạo phần mở đầu. + Kể theo tranh: kể đoạn 1, 2. + Dùng hệ thống câu hỏi gợi ý kể lại đoạn 3. + Kể sáng tạo phần mở đầu : theo cách mở đầu trong sách giáo khoa. B. Đồ dùng dạy học: - Tranh minh hoạ(đoạn 1, đoạn 2 trong sách giáo khoa). - Ba bảng phụ ghi lại gợi ý của đoạn 1, đoạn 2, đoạn 3 (như sách học sinh). C.Các hoạt động dạy học chủ yếu: Hoạt động của giáo viên 1.Kiểm tra bài cũ (7phút). Trong giờ kể chuyện trước, các con đã được kể câu chuyện “Chiếc rễ đa tròn.” Câu chuyện gồm 3 đoạn, cô mời 3 bạn kể nối tiếp 3 đoạn của câu chuyện. Hoạt động của học sinh - Ba học sinh kể nối tiếp 3 đoạn của câu chuyện. - Câu chuyện nói lên tình thương bao la của Bác Hồ đối với mọi người, mọi vật sống xung quanh. Một chiếc rễ đa tròn rơi xuống đất, Bác cũng thương, muốn trồng lại cho rễ mọc - Giáo viên nhận xét, cho điểm từng họcthành cây, nhưng cây Bác muốn trồng mọc uốn theo hình vòng tròn làm chỗ vui chơi cho sinh. các cháu thiếu nhi. - Câu chuyện “Chiếc rễ đa tròn” nói lên điều gì? 15 - Giáo viên nhận xét, cho điểm. - Giáo viên nhận xét việc học bài cũ của học sinh. 2.Bài mới: a. Giới thiệu bài (2 phút). - Bài Chuyện quả bầu. -Trong tiết Tập đọc trước, các con đã được học bài tập đọc gì? - Học sinh làm theo lời giáo viên. - Trong giờ kể chuyện hôm nay, các con sẽ tập kể lại đoạn 1, đoạn 2 theo tranh, đoạn 3 theo gợi ý hướng dẫn trong sách giáo khoa. Sau đó kể lại toàn bộ câu chuyện theo cách mở đầu mới. Các con mở sách Tiếng Việt trang 120 cho cô. - Giáo viên ghi tên đầu bài lên bảng. b.Bài mới: * Dựa theo tranh, kể lại đoạn 1 và đoạn 2 của Chuyện quả bầu. -Học sinh quan sát tranh. + Kể lại đoạn 1 - Giáo viên treo tranh (thể hiện nội - Trong tranh vẽ 3 nhân vật: Con Dúi, vợ dung của đoạn 1). chồng người đi rừng. - Nhìn vào tranh, ai cho cô biết, tác giả 16 vẽ mấy nhân vật trong bức tranh này? Đó là những nhân vật nào? (Giáo viên ghi bảng: ghi vào phần gợi ý). - Con Dúi lạy van xin tha, hứa sẽ nói điều bí mật. - Con Dúi làm gì khi bị hai vợ chồng - Con Dúi mách: sắp có mưa to, gió lớn làm người đi rừng bắt? ngập lụt khắp miền, khuyên hai vợ chồng (Giáo viên ghi bảng: ghi vào phần gợi cách phòng lụt. ý: Con Dúi lạy van xin tha...) - Con Dúi mách điều bí mật gì? (Giáo viên ghi bảng: ghi vào phần gợi ý...) - Đoạn này nên kể với giọng thế nào? - Giọng kể khoan thai, chậm rãi. - Hai học sinh kể. -Học sinh nhận xét. - Bức tranh vẽ cảnh sau nạn lụt. Tác giả vẽ cảnh hai vợ chồng vừa bước ra từ qủa bầu. Họ - Dựa vào tranh và những gợi ý trên, cô mời thấy cảnh vật xung quanh đều tàn tạ, héo úa. các con kể lại đoạn 1 của câu chuyện. - Họ nghe lời khuyên của Dúi: lấy khúc gỗ to, - Giáo viên gợi ý học sinh nhận xét khoét rỗng, chuẩn bị thức ăn đủ bảy ngày, bảy cách bạn kể: kể đúng, đủ ý chưa, đã đêm, rồi chui vào đó, bịt kín miệng gỗ bằng bám sát vào tranh chưa? Giọng kể có sáp ong, hết hạn bảy ngày mới chui ra. thích hợp không, bạn dùng từ có thích hợp không? - Giáo viên nhận xét, cho điểm. + Kể lại đoạn 2 - Nhìn vào tranh cho cô biết: bức tranh 17 vẽ cảnh gì? Hãy tả lại cảnh đó. - Như vậy, hai vợ chồng họ đã làm cách nào để thoát khỏi nạn lụt? (Giáo viên ghi bảng: vào phần gợi ý...). - Đoạn này chúng ta nên kể với giọng - Lên giọng khi kể về trận lụt xảy ra bất ngờ, như thế nào? thấp giọng khi kể về cảnh vật sau trận lụt. - Cô mời một bạn kể lại đoạn 2 theo gợi ý - Hai học sinh kể lại trên, chú ý thể hiện đúng giọng kể. - Giáo viên gọi học sinh nhận xét bạn kể: đúng, đủ ý chưa? giọng kể có phù - Học sinh nhận xét hợp không? - Giáo viên nhận xét cho điểm + Kể lại đoạn 3: - Khi sinh con, việc kỳ lạ gì đã xảy ra đối với người vợ? - Người vợ sinh ra quả bầu. - Hai vợ chồng đi làm nương về, nghe thấy tiếng cười đùa trên bếp. Lấy làm lạ, họ lấy - Sau đó câu chuyện diễn biến thế nào? bầu xuống, áp tai nghe thì thấy tiếng lao xao. Người vợ lấy que đốt thành cái dùi, nhẹ nhàng dùi quả bầu. Từ trong quả bầu, những con người bé nhỏ nhảy ra. - Giáo viên treo bảng phụ gợi ý đoạn 3 - Kể với giọng trầm, chậm, thể hiện sự kỳ lạ - Theo các con, đoạn 3 nên kể với giọng xảy ra đối với hai vợ chồng; dừng lại một lúc như thế nào? trước đoạn “Các con người bé nhỏ nhảy ra từ trong quả bầu” để cho người nghe hồi hộp. 18 - Con hãy dựa vào gợi ý, dùng giọng kể thích hợp để kể lại đoạn 3 - Giáo viên gọi học sinh nhận xét bạn - Hai học sinh kể lại đoạn 3 kể: đúng, đủ ý chưa? giọng kể có thích - Học sinh nhận xét hợp không? - Giáo viên nhận xét cho điểm - Vừa rồi các con đã được kể lại từng đoạn truyện. Bây giờ cô mời 3 bạn kể - 3 học sinh kể nối tiếp 3 đoạn truyện nối tiếp 3 đoạn truyện. - Học sinh nhận xét bạn kể: ý, trình tự, - Học sinh nhận xét giọng kể. - Ai cho cô biết, câu chuyện này muốn - Câu chuyện giới thiệu nguồn gốc các dân tộc nói với chúng ta điều gì? - Câu chuyện giúp chúng ta hiểu điều gì? anh em trên đất nước Việt Nam . - Khẳng định các dân tộc anh em một nhà, cùng một nguồn gốc. * Kể lại toàn bộ câu chuyện theo cách mở đầu mới (kể sáng tạo): Đất nước ta có 54 dân tộc anh em. Mỗi dân tộc có tiếng nói riêng, có cách ăn mặc riêng. Nhưng tất cả các dân tộc ấy đều được sinh ra từ một mẹ. Chuyện kể rằng... - Vừa rồi các con đã kể lại được toàn bộ câu chuyện, bây giờ các con cũng sẽ kể lại câu chuyện này nhưng với mở đầu mới. Khi kể, các con có thể dùng phần - Hai học sinh kể lại. chú giải trong bài Tập đọc để thay thế, thêm bớt từ trong truyện. - Cô mời một bạn kể lại truyện theo cách cô đã hướng dẫn trên. 19 - Giáo viên gọi học sinh nhận xét bạn kể: đúng, đủ ý chưa? bạn có kể theo đúng cách trên không? Bạn đã thay đổi, - Học sinh nhận xét bạn kể thêm bớt từ nào? Bạn thay từ, dùng từ như thế đã phù hợp chưa? - Giáo viên nhận xét, cho điểm 3. Củng cố (7 phút): - Vừa rồi, các con đã được kể câu chuyện Chuyện quả bầu, câu chuyện muốn nói với chúng ta điều gì? - Câu chuyện giúp chúng ta hiểu điều gì? - Câu chuyện nói về nguồn gốc các dân tộc Việt Nam - Câu chuyện giúp chúng ta hiểu: Các dân tộc trên đất nước ta đều là anh em, phải yêu quý các dân tộc anh em. - Bây giờ, 4 tổ mỗi tổ cử một bạn đại diện thi kể lại đoạn 1, đoạn 2 theo cách mở đầu mà cô đã hướng dẫn. Khi kể các - Đại diện 4 tổ lần lượt kể lại đoạn 1, đoạn 2 con chú ý kể với giọng phù hợp, có thể của câu chuyện. kết hợp sử dụng điệu bộ để diễn tả cho câu chuyện thêm sinh động - Giáo viên gọi học sinh nhận xét nhóm bạn kể: đúng, đủ ý không? Giọng kể có - Học sinh nhận xét phù hợp không? - Giáo viên nhận xét, cho điểm - Bạn nào có thể đặt tên khác cho câu chuyện? - Giáo viên nhận xét chung giờ học 4. Dặn dò (1 phút): - Dặn học sinh kể lại câu chuyện cho - Truyện các dân tộc Việt Nam Các dân tộc Việt Nam là anh em. bạn bè và người thân nghe (có thể kể bằng lời của mình). 20
- Xem thêm -