Skkn phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử bài chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) lớp 11 chương trình chuẩn

  • Số trang: 16 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

A. ĐẶT VẤN ĐỀ. I. LỜI MỞ ĐẦU Loài người đã bước vào thế kỉ XXI - thế kỉ của tri thức. Tri thức là nguồn lực quyết định sự phát triển và tăng trưởng kinh tế. Tri thức đóng một vai trò rất quan trọng đối với sự tiến bộ cũng như tốc độ phát triển của nền văn minh nhân loại. Sự bùng nổ của công nghệ thông tin đang tác động mạnh mẽ vào sự phát triển của tất cả các ngành trong đời sống xã hội. Trong bối cảnh đó, “nếu muốn việc dạy học theo kịp cuộc sống, chúng ta nhất thiết phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh”. Việc nâng cao chất lượng giáo dục ở nước ta trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi phải đổi mới phương pháp dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng là một cuộc cách mạng, là một vấn đề cấp thiết cần phải tiến hành mạnh mẽ ở tất cả các trường phổ thông. Ý thức được điều đó, trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta đã được Đảng, Nhà nước cũng như các cấp quản lí giáo dục quan tâm. Mặc dù vậy, một thực tế diễn ra mà chúng ta chưa thể khắc phục hết được đó là các em học sinh không thích học sử. Các em cho rằng lịch sử là môn phụ, không có tác dụng thiết thực trong cuộc sống; lịch sử là môn khô khan, nhiều số liệu, nhiều sự kiện. Chính điều đó dẫn đến tình trạng học sinh không nắm vững sự kiện cơ bản, nhớ sai, nhớ lầm kiến thức lịch sử là khá phổ biến. Ở đây, yếu tố chính quyết định đến hứng thú học tập lịch sử của các em là phương pháp dạy học của giáo viên chưa đáp ứng đặc trưng bộ môn. Trong thực tế, có rất nhiều giáo viên tâm huyết với nghề đã hết sức cố gắng trong việc tìm tòi, đổi mới phương pháp dạy học, làm cho giờ học lịch sử trở nên sinh động và có kết quả tốt. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều giáo viên dạy theo kiểu truyền thống, giáo viên đọc sách giáo khoa cho học sinh chép, học sinh học thuộc lòng, nói lại sách giáo khoa và bài giảng của thầy. Việc dạy học như vậy làm “thui chột” khả năng sư phạm của giáo viên và khả năng tư duy sáng tạo của học sinh. Vì vậy, yêu cầu cấp bách của giáo dục hiện nay là phải đổi mới phương pháp dạy học lịch sử để nâng cao hiệu quả giáo dục, phát huy được tính tích cực ở học sinh, để việc dạy và học lịch sử “không phải chỉ là biết quá khứ mà trên cơ sở hiểu biết quá khứ, để hiểu sâu sắc hiện tại, hành động tích cực trong hiện tại, tiên đoán sự phát triển của tương lai và đấu tranh cho sự thắng lợi tất yếu của tương lai”. 1 Xuất phát từ thực tế đó, tôi mạnh dạn trình bày một số biện pháp để “Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử bài “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)” ở lớp 11, chương trình chuẩn mong muốn góp một chút vốn kiến thức của mình vào công tác giảng dạy, để việc học tập lịch sử ở trường THPH Nguyễn Thị Lợi – Sầm Sơn đạt kết quả cao hơn. II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Thực trạng. “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)” là một bài khá quan trọng trong chương trình. Bài học giúp các em nhận thức rõ nguyên nhân và tính chất của chiến tranh thế giới thứ hai, thấy được các giai đoạn và các mặt trận chính cũng như vai trò của Liên Xô, các nước Mỹ, Anh, Pháp trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít. Không chỉ vậy, thông qua bài học này còn giúp các em nhận thức rõ nếu như cuộc chiến tranh thế giới thứ ba nổ ra sẽ là một cuộc chiến tranh hạt nhân huỷ diệt toàn nhân loại. Cũng vì thế cuộc đấu tranh bảo vệ hoà bình, chống nguy cơ chiến tranh hạt nhân huỷ diệt để bảo vệ sự sống của con người và nền văn minh nhân loại đang là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của tất cả mọi người. Đây cũng là một bài khó với những sự kiện phong phú, diễn biến chằng chéo, phức tạp. Trong tình hình hiện nay, giảng dạy bài này lại càng khó khăn hơn nữa. Do đó, để làm cho học sinh hiểu rõ là điều không dễ. Qua việc tìm hiểu và giảng dạy bài “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 -1945)” ở một số trường (Trường THPT Sầm Sơnvà trường THPH Nguyễn Thị Lợi-Thanh Hoá) chúng tôi nhận thấy: - Về giảng dạy của giáo viên: Phần lớn giáo viên đã nhận thức rõ vai trò và vị trí của môn sử nói chung và bài “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)” nói riêng đối với việc giáo dục phẩm chất đạo đức, thế giới quan khoa học cho các em. Vì vậy, họ rất quan tâm đến việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển tư duy độc lập ở học sinh. Trong quá trình lên lớp, nhiều giáo viên đã dạy theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, khai thác sâu kiến thức, đặc biệt đã thường xuyên thiết kế và sử dụng bài tập nhận thức, đưa ra những “câu hỏi có vấn đề”, sử dụng đồ dùng trực quan. Bên cạnh đó một số giáo viên vẫn dạy theo kiểu truyền thống: thầy đọc trò ghi, phần ghi bảng quá nhiều. Nhiều đoạn tư liệu bổ sung không được sử dụng thường xuyên. - Về học tập của học sinh : Trong quá trình học tập, học sinh hăng say trả lời các câu hỏi mà giáo viên đưa ra, tích cực ghi chép nội dung kiến thức của bài giảng. Tuy nhiên, các em chỉ ghi những gì mà giáo viên ghi trên bảng chứ chưa biết cách vừa nghe giảng vừa ghi bài. 2 2. Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên Mặc dù đã suy nghĩ, cải tiến, thậm chí nhiều giáo viên sử dụng cả phương tiện dạy học hiện đại (băng video, đèn chiếu) song nhìn chung vẫn là hoạt động của thầy trên lớp, giáo viên chủ yếu vẫn thuyết trình, phân tích, giải thích, tình trạng học sinh nghe, ghi chép vẫn là phổ biến( chiếm tới 80% số tiết học). Vì vậy, nhìn chung chất lượng dạy học lịch sử không cao. Nội dung dạy học còn nặng nề, quá nhiều sự kiện, hiện tượng trong bài dẫn đến tình trạng dạy học nhồi nhét. Học sinh học sử mà chỉ nhận thức ý nghĩa giáo dục, lí luận của quá khứ mà không thấy ý nghĩa của thực tiễn. Từ đó không có niềm say sưa, không có ý thức tự chiếm lĩnh kiến thức, dẫn đến tình trạng học vẹt, học đối phó. Dạy học kiểu cũ bài “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) ở lớp 11C1 trường THPT Nguyễn Thị Lợi chúng tôi đã thu được kết qủa: Điểm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 2 1 3 3 8 7 13 8 4 1 SL học sinh 50 Những kết quả điều tra trên cho thấy việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh là một yêu cầu cấp bách có tính chất “sống còn”. Bản thân lịch sử là sinh động, hấp dẫn và không phải tất cả học sinh đều không thích học lịch sử , đều coi nó là môn phụVấn đề là ở chỗ cần cung cấp cho các em những phương pháp chiếm lĩnh kiến thức tích cực. Xuất phát từ suy nghĩ đó, để công vịêc giảng dạy đạt hiệu quả tôt hơn, tôi đã mạnh dạn cải tiến phương pháp dạy học bài “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)”. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 1. Muốn phát huy tính tích cực học tập của học sinh phải căn cứ vào mục tiêu đào tạo và yêu cầu của việc kiểm tra, đánh giá kế quả học tập của học sinh . 2. Triệt để khai thác nội dung chương trình sách giáo khoa. Nội dung chương trình sách giáo khoa tập trung những kiến thức hết sức cơ bản của bài học. Với bài này, sách giáo khoa đã trình bày các sự kiện lịch sử cơ bản, các nhân vật lịch sử điển hình giúp học sinh phát huy tính tích cực. 3 Khi dạy mục: “Quan hệ quốc tế dẫn đến chiến tranh”, giáo viên có yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi: Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945) ? Khi dạy mục: “ Đức tấn công Liên Xô. Chiến tranh lan rộng khắp thế giới (từ tháng 6/1941 đến cuối năm 1942)", giáo viên có thể đưa ra câu hỏi trong sách giáo khoa để học sinh trả lời: Vì sao Liên Xô tham chiến đã làm thay đổi hẳn tính chất của cuộc chiến tranh thế giới? 3. Sử dụng đa dạng hệ thống phương pháp dạy học theo tinh thần đổi mới dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Nhìn chung khi dạy bài “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)”, giáo viên cần phải biết kết hợp sử dụng nhuần nhuyễn các phương pháp trình bày miệng, phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan, phương pháp sử dụng tài liệu, phương pháp kiểm tra thực hành. 4. Đảm bảo tính vừa sức cho học sinh . Tính vừa sức khi dạy bài “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)" gắn chặt với tính cơ bản của nội dung bài học. Tính vừa sức giúp học sinh độc lập và hứng thú tự mình lĩnh hội kiến thức. Vì vậy, cần chú ý không nêu lên các vấn đề quá khó hoặc quá đơn giản đối với học sinh . 5. Đảm bảo yêu cầu về giáo dục tư tưởng, tình cảm và phát triển nhân cách học sinh trong quá trình phát huy tính tích cực của học sinh . Trong đời sống xã hội , lịch sử có tác dụng quan trọng không chỉ về trí tuệ mà cả về tình cảm, tư tưởng. Những con người, những việc thực của quá khứ có sức thuyết phục, có sức rung cảm mạnh mẽ với thế hệ trẻ. Bài “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)” ở trường THPT gồm nhiều vấn đề như: Nguyên nhân của chiến tranh thế giới thứ hai, nhận xét về việc Mĩ ném hai quả bom nguyên tử xuống Hirosima ngày 6/8/1945 và Nagadaki ngày 8/9/1945, phân tích vai trò của Liên Xô trong chiến tranh thế giới thứ hai. Những nội dung này rất có ưu thế trong việc giáo dục tình cảm cho các em. 6. Nắm vững cấu trúc mô hình tiết dạy theo hướng phát huy năng lực trí tuệ của học sinh . Một nội dung cơ bản của tiết dạy theo hướng phát huy năng lực trí tuệ của học sinh là thiết kế bài học nhận thức để đưa học sinh vào tình huống có vấn đề, bắt buộc học sinh phải vận dụng tất cả những kiến thức đã học để giải quyết. Khi thiết kế bài tập nhận thức và tổ chức để học sinh lĩnh hội cần tuân theo quy trình 4 bước: - Bước 1: Định hướng mục đích. 4 - Bước 2: Cung cấp thông tin để tạo ra hình ảnh cụ thể, sinh động về những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ. - Bước 3: Tổ chức cho học sinh làm việc, tự giải quyết các vấn đề để tiếp nhận thông tin. - Bước 4: Rút ra kết luận của bài học. II. CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ TỔ CHỨC THỰC HIỆN VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI “CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI (1939-1945)” Ở TRƯỜNG THPT Để phát huy tính tích cực của học sinh, tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để có các biện pháp phù hợp. Các biện pháp sư phạm sau đây có thể coi là phổ biến và đạt hiệu quả cao trong việc phát triển tư duy: 1. Thiết kế bài tập nhận thức - Thiết kế bài tập nhận thức rèn luyện các thao tác tư duy để khái quát các sự kiện, hiện tượng lịch sử. Bài tập nhận thức không chỉ dừng lại ở mức độ khắc sâu những sự kiện cơ bản mà còn đòi hỏi học sinh phải biết khái quát được sự liên hệ, tính kế thừa để nâng lên ở mức khái quát có tính lí luận. Ví dụ, khi dạy mục "Quan hệ quốc tế dẫn đến chiến tranh" với bài tập nhận thức: “ Hãy rút ra nguyên nhân của chiến tranh thế giới thứ hai? ”, học sinh phải vận dụng các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp các sự kiện nổi bật trong một quá trình từ khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc (1918) đến năm 1939. - Thiết kế bài tập theo hướng rèn luyện thao tác so sánh đối chiếu để rút ra kết luận khái quát về các sự kiện hiện tượng lịch sử. Khi giảng xong bài “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)” để tiếp tục củng cố kiến thức cơ bản của bài học, đồng thời rèn luyện cho học sinh kỹ năng so sánh, đối chiếu, phân tích, giáo viên có thể đưa ra bài tập nhận thức cho học sinh: Lập bảng so sánh hai cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thức hai. Với việc hoàn thành bài tập này, các em sẽ củng cố được những kiến thức cơ bản đã học một cách cụ thể, không rập khuôn trong bài giảng của thầy cô giáo và sách giáo khoa. Các em còn phải biết lựa chọn những sự kiện nổi bật nhất, những kiến thức khái quát nhất để so sánh . - Thiết kế bài tập theo hướng rèn luyện thao tác tư duy, tìm mối liên hệ nhân quả. Khi giảng mục “Chủ nghĩa phát xít Đức bị tiêu diệt” có thể ra bài tập: Tại sao chủ nghĩa phát xít Đức bị tiêu diệt? Để giải quyết được bài tập này, học sinh không những phải phân tích tổng hợp kiến thức mà còn phải thấy được mối liên hệ giữa các sự kiện để tìm ra mối liên hệ nhân quả của chúng. Chủ nghĩa phát xít Đức bị tiêu diệt do vai trò của Liên Xô. Chiến thắng Xtalingrat 5 của Hồng quân Liên Xô đã tạo ra bước ngoặt của chiến tranh. Hồng quân đã chuyển sang tổng tiến công trên khắp các mặt trận.Việc Anh-Mĩ mở mặt trận thứ hai làm cho phát xít Đức bị kẹp giữa hai gọng kìm cũng là một nguyên nhân khiến chủ nghĩa phát xít Đức bị tiêu diệt. Qua đó, học sinh sẽ nhận thức được “kẻ gieo gió phải gặt bão” - đó là quy luật. - Xác định nội dung cần chú ý để xây dựng hệ thống bài tập nhận thức lịch sử. Khi dạy bài “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)”, giáo viên có thể xác định nội dung bài tập nhận thức theo hai bước sau:  Bước 1: Giới thiệu về các mốc của chiến tranh . Trước hết, để tìm hiểu về các mốc của chiến tranh thế giới thứ hai, giáo viên gợi ý cho học sinh nhận thức được về các giai đoạn của chiến tranh. Sau đó hướng dẫn các em lập niên biểu về các mốc của chiến tranh với ba cột: Thời gian, sự kiện chủ yếu, ý nghĩa sự kiện. Trên cơ sở đó, giáo viên huy động trí tuệ của học sinh bằng hệ thống các câu hỏi: + Tại sao Đức nhanh chóng tiến sâu được vào lãnh thổ Liên Xô và thu được thắng lợi to lớn? + Ý nghĩa của chiến thắng Xtalingrat ? + Liên Xô có vai trò như thế nào trong việc giải phóng Đông Âu ? + Tác dụng của việc Anh- Mĩ mở mặt trận thứ hai ?  Bước 2: Sau khi tìm hiểu các sự kiện trên và trả lời các câu hỏi gợi mở bài tập nhận thức được đặt ra là: Kết cục của chiến tranh thế giới thứ hai như thế nào? Ý nghĩa của kết cục đó? 2. Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề Câu hỏi nêu vấn đề chứa đựng tình huống có vấn đề, vạch ra trước học sinh những mục tiêu, nhiệm vụ nhận thức để khai thác kinh nghiệm sống của học sinh. Có hai loại câu hỏi nêu vấn đề: - Hệ thống câu hỏi tái hiện nhằm gợi lại những kiến thức đã học để tiếp thu kiến thức mới, khái quát và hệ thống hoá kiến thức. Nó giúp cho học sinh củng cố hiểu sâu hơn kiến thức cũ, làm cơ sở cho việc tiếp thu kiến thức mới không bị gián đoạn trong nhận thức. - Hệ thống câu hỏi tìm tòi, phát hiện nhằm nêu lên sự phát sinh, phát triển của một biến cố hay hiện tượng lịch sử. Để phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học bài “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)” ở trường trung học phổ thông, có thể sử dụng một số câu hỏi nêu vấn đề và câu hỏi gợi mở như sau: 6 Tên mục Câu hỏi vấn đề I. Nguyên nhân - Nguyên nhân của chiến dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai? tranh - từ ngày chiến tranh bùng nổ đến cuối năm 1942. 1. Quan hệ quốc tế dẫn đến chiến tranh Câu hỏi gợi mở + Quan hệ quốc tế trước chiến tranh thế giới thứ hai như thế nào? * Hậu quả của khủng hoảng kinh tế (1929-1933)? * Quan hệ giữa hai khối đế quốc này với nhau và với Liên Xô như thế nào? Vì sao có quan hệ đó? * Nhận xét gì về quan hệ quốc tế này? + Đức, Italia, Nhật bản có thái độ và hành động như thế nào? + Trước nguy cơ chiến tranh, Liên Xô có chủ trương gì? Thái độ của Mĩ, Anh, Pháp ra sao? 2.Chiến tranh bùng nổ, Đức chiếm châu Âu (1/9/193922/6/1941) - Tại sao từ 9/1939 đến 6/1941 các nước Tây Âu bị Đức đánh bại nhanh chóng? + Sau 9/1939, Anh, Pháp, Mĩ có thái độ như thế nào đối với hành động gây chiến của phát xít Đức? 3. Đức tấn công Liên Xô. Chiến tranh lan rộng khắp thế giới (từ tháng 6/1941 đến cuối năm 1942) - Vì sao phát xít Đức có thể nhanh chóng tiến sâu vào lãnh thổ Liên Xô và thu được những thắng lợi đáng kể? + Đức tấn công Liên Xô trong hoàn cảnh nào? + Thái độ của Mĩ, Anh, Pháp với Liên Xô? + Với kế hoạch Bacbarôxa (Râu hung), Đức huy động lực lượng như thế nào? + Quân đội Đức là quân đội như thế nào? - Vì sao Liên Xô tham chiến đã làm thay đổi hẳn tính chất của cuộc chiến tranh thế giới? II. Từ chiến thắng Xtalingrat đến thất bại hoàn toàn của phát xít Đức, Italia, Nhật Bản 7 + Vì sao ở giai đoạn đầu, tính chất của cuộc chiến tranh là phi nghĩa? +Mục đích tham gia chiến tranh của Liên Xô là gì? (từ cuối năm 1942 đến tháng 8/1945). - Vì sao nói chiến thắng Xtalingrat là bước ngoặt Xtalingrat và của cuộc chiến tranh thế bước ngoặt của giới thứ hai? tiến trình chiến tranh thế giới 1. Chiến thắng + Trận Xtalingrat diễn ra như thế nào? + Hệ quả Xtalingrat? của chiến thắng 2. Chủ nghĩa - Việc Mĩ - Anh mở mặt + Mặt trận thứ hai là mặt trận ở phát xít Đức bị trận thứ hai có ý nghĩa đâu? tiêu diệt như thế nào? +Trước khi mặt trận thứ hai được mở, Đức phải đối phó với những - Ý nghĩa của việc phát xít lực lượng nào? Đức bị tiêu diệt? + Việc phát xít Đức bị tiêu diệt tác động như thế nào đến phát xít Nhật ở châu Á - Thái Bình Dương? 3. Chủ nghĩa - Ý nghĩa của việc Liên + Đây là đội quân như thế nào? quân phiệt Nhật Xô tấn công đội quân + Việc tiêu diệt được đội quân này bị sụp đổ Quan Đông của Nhật? có tác động như thế nào đối với chiến sự ở Thái Bình Dương, với - Nhận xét về việc Mĩ ném cách mạng ba nước Đông Dương? hai quả bom nguyên tử + Mĩ có cần thiết phải ném bom xuống Hirosima (6/8) và không? Vì sao? Mục đích của Nadagaki (9/8) của Nhật? hành động đó là gì? 4. Kết cục của - Kết cục của chiến tranh + Cuộc chiến tranh kết thúc với chiến tranh thế thế giới thứ hai? Ý nghĩa thắng lợi thuộc về ai, thất bại giới thứ hai của kết cục đó? thuộc về ai? + Thắng lợi của phe Đồng minh trong chiến tranh có ý nghĩa gì? 3. Xây dựng hệ thống đồ dùng trực quan quy ước đơn giản. Trong dạy học lịch sử, đồ dùng trực quan góp phần quan trọng tạo biểu tượng và hình thành khái niệm cho học sinh, cụ thể hoá các sự kiện, là chỗ dựa để hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện lịch sử, là phương tiện hữu hiệu để hình thành khái niệm lịch sử, giúp học sinh nắm vững quy luật phát triển xã hội, nhớ kĩ, hiểu sâu kiến thức lịch sử. Nhóm đồ dùng trực quan quy ước gồm: Bản đồ, biểu đồ, sơ đồ, niên biểu, tranh ảnh. - Bản đồ lịch sử : 8 Bản đồ lịch sử nhằm xác định địa điểm của sự kiện trong thời gian và không gian nhất định. Nó cũng giúp học sinh suy nghĩ, giải thích các hiện tượng lịch sử và mối liên hệ nhân quả về tính quy luật và trình tự phát triển của quá trình lịch sử, giúp các em củng cố, ghi nhớ những kiến thức đã học. Khi giảng bài, giáo viên có thể không trình bày tất cả nội dung trong sách giáo khoa mà hướng dẫn học sinh nhận biết các sự kiện qua việc quan sát bản đồ. Giáo viên có thể đặt ra cho học sinh những câu hỏi mà chỉ có thể trả lời được tốt khi biết “đọc” bản đồ. Ví dụ, khi giảng mục: “Chiến tranh bùng nổ, Đức đánh chiếm châu Âu(1/9/1939 - 22/6/1941)”, sử dụng bản đồ “Phát xít Đức xâm lược các nước châu Âu (1939 – 1941)”, giáo viên xác định cho học sinh thấy được vị trí của các nước và nêu lên một số câu hỏi: + Tại sao Đức chọn Ba Lan làm nơi tấn công đầu tiên? + Tại sao các nước Tây Âu bị đánh bại nhanh chóng? - Sơ đồ và biểu đồ: Đây là phương tiện dạy học quan trọng để cụ thể hóa và hệ thống hoá các sự kiện, hiện tượng lịch sử theo thứ tự thời gian hoặc nêu lên mối liên hệ nhân quả giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử. Nó có tác dụng lớn trong việc phát huy tính tích cực của học sinh. Khi giảng mục: “Quan hệ quốc tế dẫn đến chiến tranh”, để thể hiện sự chằng chéo, phức tạp trong quan hệ quốc tế, giáo viên có thể mô hình hoá nhanh lên bảng sơ đồ mối liên hệ giữa Mĩ, Anh, Pháp với Đức, Italia, Nhật và hai khối này với Liên Xô : Đế quốc dân chủ Đế quốc phát xít (Mĩ, Anh, Pháp) (Đức, Italia, Nhật) Liên Xô Sau khi đã cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về chiến tranh thế giới thứ hai, để giúp cho học sinh vừa nắm bắt được bài mới, vừa ôn lại những kiến thức đã học, tạo điều kiện phát triển tư duy, giáo viên cũng có thể đưa ra một số con số so sánh giữa hai cuộc chiến tranh: Chiến tranh thế giới thứ nhất Chiến tranh thế giới thứ hai 1. Những nước tuyên bố tình trạng chiến tranh 36 76 2. Số người bị động viên vào quân đội(triệu người). 74 110 9 3. Số người chết (triệu người ). 10 60 4. Số người bị thương và tàn tật( triệu người). 20 90 5. Thiệt hại về vật chất( tỉ USD). 338 4.000 Trên cơ sở bảng so sánh, giáo viên đặt câu hỏi: Nhìn vào bảng so sánh, em có nhận xét gì về cuộc chiến tranh thế giới thứ hai? - Niên biểu: Niên biểu là phương tiện để liệt kê, hệ thống hoá các sự kiện, hiện tượng lịch sử quan trọng theo trình tự thời gian, giúp học sinh nắm được các mốc thời gian, hiểu được mối liên hệ giữa các sự kiện, hiểu bản chất sự kiện một cách toàn diện, từ đó, có thể thấy đặc trưng của sự kiện hoặc rút ra kết luận khái quát có tính chất nguyên lí. Khi giảng xong tiết 1 của bài, để kiểm tra bài cũ, giáo viên gọi một học sinh lên bảng điền vào bảng niên biểu sau: Thời gian Nội dung sự kiện Ngày 1/9/1939 Ngày 3/9/1939 Ngày 22/6/1940. Ngày 22/6/1941 Ngày 6/12/1941 Ngày 7/12/1941 Ngày 1/1/1942 Sau khi học xong hai tiết của bài, để củng cố kiến thức cho các em, giáo viên cũng có thể ra bài tập: Lập niên biểu thống kê về diễn biến của chiến tranh thế giới thứ hai: Thời gian (qua các giai đoạn) Các mặt trận Mặt trận Xô- Đức Mặt trận phía Tây Mặt trận châu Á Thái Bình Dương 10 Tính chất (thay đổi qua các giai đoạn) Kết quả … … …. …. … … - Tranh ảnh: Tranh ảnh cũng là một loại đồ dùng trực quan hết sức quan trọng góp phần gây hứng thú học tập lịch sử ở học sinh. Khi dạy bài: “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)”, giáo viên sử dụng một số tranh ảnh: Ảnh thường dân Liên Xô bị phát xít Đức tàn sát, ảnh Hitle, Mutxôlini, ảnh về Hirosima sau ngày bị ném bom nguyên tử. Khi sử dụng tranh ảnh cần giới thiệu nội dung phản ánh quan tranh. Ví dụ, để giới thiệu về thường dân Liên Xô bị phát xít Đức tàn sát, giáo viên cần khắc sâu cho học sinh những chính sách tàn bạo mà bọn phát xít gây nên qua việc đặt câu hỏi: Em hãy phân tích về bức ảnh này?( Sau khi giáo viên đã nêu xuất xứ của bức ảnh). 4. Thiết kế mô hình bài học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh Trong khuôn khổ của đề tài, tác giả chỉ thiết kế mô hình dạy tiết 1 bài “ Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)”. - Bước 1: Định hướng mục tiêu Giáo viên định hướng mục tiêu bài học ngay ở phần đầu để tạo ra nhiệm vụ nhận thức và học sinh tập trung chú ý theo dõi, giải quyết vấn đề đưa ra: “Từ năm 1914 đến 1918, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã diễn ra, gây nên nhiều hậu quả to lớn. Hai mốt năm sau, nhân loại bước vào cuộc chiến tranh mới với quy mô và sự tàn khốc lớn hơn nhiều so với cuộc chiến tranh trước đó. Vậy nguyên nhân nào đã đẩy loài người đến cuộc chiến tranh thế giới thứ hai? Tại sao trong thời gian đầu của chiến tranh, phát xít Đức lại thắng lợi nhanh chóng? Vì sao khi Liên Xô tham chiến đã làm thay đổi hẳn tính chất của chiến tranh? Đó là những vấn đề mà các em phải nắm vững qua bài học này”. - Bước 2: Giáo viên tạo ra những hình ảnh vừa sinh động, vừa cụ thể về những sự kiện diễn ra trong quá khứ. Để hoàn thành bước 2 này, giáo viên cần phải kết hợp nhiều phương pháp giảng dạy và các thao tác tư duy, giúp học sinh biết cách thu nhận, tìm ra kiến thức mới. Mục: Quan hệ quốc tế dẫn đến chiến tranh Trước hết, giáo viên nêu yêu cầu nhận thức cho học sinh: Nguyên nhân của chiến tranh thế giới thứ hai? Để giúp học sinh giải quyết yêu cầu nhận thức trên, cần đưa ra các câu hỏi dẫn dắt, gợi mở: + Quan hệ quốc tế trước chiến tranh thế giới thứ hai như thế nào? 11 + Đức, Italia, Nhật có thái độ và hành động gì? + Trước nguy cơ chiến tranh, Liên Xô có chủ trương gì? Thái độ của Mĩ, Anh, Pháp ra sao? (Giáo viên có thể kể câu chuyện: “Nghêu cò tranh ăn, ngư ông hưởng lợi” để nói về âm mưu của Mĩ, Anh, Pháp). Trong quá trình sử dụng các phương pháp trên, giáo viên lưu ý không áp đặt ngay các mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc, đế quốc với Liên Xô mà gợi ý để học sinh tự tìm ra các yếu tố tạo nên nguyên nhân của chiến tranh, trên cơ sở đó, các em tự rút ra được kết luận. Mục: Chiến tranh bùng nổ, Đức đánh chiếm châu Âuu(1/9/1939 22/6/1941). Khi giảng mục này, giáo viên sử dụng bản đồ: “Phát xít Đức xâm lược các nước ở châu Âu (1939-1941) và đặt ra một số câu hỏi: + Tại sao Hitle chọn Ba Lan làm điểm tấn công đầu tiên? + Tại sao các nước Tây Âu bị Đức đánh bại nhanh chóng? Phần này giáo viên có thể cung cấp thêm kiến thức về sự đầu hàng của nước Pháp: “ Chiến tranh bùng nổ. Phát xít Đức nhanh chóng chiếm đóng nhiều nước ở Tây Âu. Nước Pháp phải quỳ gối đầu hàng, mặc dù có phòng tuyến Maginô. Phòng tuyến Maginô chạy dọc biên giới Pháp - Đức. Tại phòng tuyến này có một triệu quân, tướng tá Pháp khoe khoang rằng địch có cánh cũng không bay qua được. Nhưng chỉ trong vài tuần, quân Đức đã bao vây phòng tuyến này, bắt sống cả một triệu quân lính và mấy trăm ông tướng làm tù binh. Thế rồi chúng ồ ạt kéo quân chiếm lấy thủ đô Pari và một nửa nước Pháp. Tháng 6/1940, Pháp ở “ nước mẹ” đầu hàng Đức”. Mục: Đức tấn công Liên Xô. Chiến tranh lan rộng khắp thế giới (từ tháng 6/1941 đến cuối năm 1942). Khi giảng mục này, giáo viên có thể nêu ra câu hỏi: Hãy giải thích vì sao khi Liên Xô tham chiến đã làm thay đổi hẳn tính chất của chiến tranh thế giới? Sau khi đặt xong câu hỏi, giáo viên tiếp tục dẫn dắt học sinh tiếp thu bài mới trên cơ sở trình bày miệng, phân tích, phát vấn, chứng minh… Sau khi tường thuật cuộc chiến đấu bảo vệ Matxcơva, giáo viên có thể đặt câu hỏi: Ý nghĩa của chiến thắng bảo vệ Matxcơva? Phần này sử dụng bức ảnh chụp: “Thường dân Liên Xô bị phát xít Đức tàn sát” để học sinh thấy sự tàn ác của phát xít Đức, thấy được chiến tranh nổ ra gây bao đau thương cho nhân loại. - Bước 3: Tổ chức cho học sinh tự làm việc, tự giải quyết vấn đề. Sau khi nêu câu hỏi nhận thức như đã trình bày ở bước 2, giáo viên hướng dẫn học sinh nghiên cứu sách giáo khoa để trả lời câu hỏi và làm bài tập: Lập niên biểu chiến tranh thế giới thứ hai trong hai giai đoạn đầu? Nhận xét về cục diện chiến tranh trong hai giai đoạn này? Vì sao có kết qủa đó? 12 - Bước 4: Kết luận vấn đề. Đây là bước cuối cùng, là bước giáo viên bằng năng lực sư phạm của mình để kết luận tri thức khoa học. Đồng thời hướng dẫn học sinh điều chỉnh lại tri thức chủ quan trong quá trình thảo luận để lĩnh hội tri thức đúng đắn và khoa học nhất. Mục: Quan hệ quốc tế dẫn đến chiến tranh . Để đối phó lại cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 và đàn áp phong trào cách mạng, giai cấp tư sản ở các nước đã chọn hai lối thoát: Thứ nhất, các nước Đức, Italia, Nhật Bản không có hoặc có ít thuộc địa, thiếu vốn, nguyên liệu và thị trường nên đi theo con đường chủ nghĩa phát xít để đối nội thì đàn áp phong trào cách mạng, đối ngoại thì chuẩn bị tiến hành chiến tranh phân chia lại thế giới. Thứ hai, các nước Mĩ, Anh, Pháp vì có thuộc địa, vốn và thị trường nên chủ trương duy trì nguyên trạng hệ thống Vecxai - Oasinhtơn, đưa tra những chính sách cải cách kinh tế để thoát khỏi khủng hoảng. Như vậy, chính sự ra đời của hai khối đế quốc đối lập: các nước phát xít “ bất mãn” đòi chia lại thị trường thế giới và các nước đế quốc dân chủ “thoả mãn” với hệ thống thuộc địa thế giới là nguyên nhân gây ra cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Hai khối đế quốc này chống lại Liên Xô - nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Đặc biệt, khối đế quốc dân chủ muốn sử dụng chủ nghĩa phát xít làm lực lượng xung kích chống Liên Xô. Điều đó lí giải tại sao họ theo đuổi chính sách dung dưỡng và thoả hiệp với phát xít nhằm đẩy các nước này quay sang tấn công Liên Xô. Mĩ, Anh, Pháp càng nhân nhượng thì bọn phát xít càng lấn tới và ngày 1/9/1939 chiến tranh đã bùng nổ. Mục: Chiến tranh bùng nổ, Đức đánh chiếm châu Âuu (từ 1/9/1939 đến 22/6/1941). Giới cầm quyền các nước phương Tây do mù quáng theo đuổi chính sách chống Liên Xô và chống cộng sản trong nước, không lo phòng thủ đất nước nên không chống đỡ nổi những đợt tấn công như vũ bão của quân đội phát xít Đức và đã hèn nhát bỏ chạy hoặc đầu hàng nhục nhã (điển hình là Pháp, một trong những cường quốc mạnh nhất thế giới trước chiến tranh đã sụp đổ trong vòng ba tuần lễ). Chính vì vậy mà các nước Tây Âu bị đánh bại nhanh chóng. Mục: Đức tấn công Liên Xô. Chiến tranh lan rộng khắp thế giới (từ tháng 6/1941 đến cuối năm 1942). Phát xít Đức đã dốc toàn bộ bộ máy chiến tranh khổng lồ của chúng cộng với tiềm lực to lớn của cả châu Âu mà chúng đã chinh phục được để ném vào cuộc chiến tranh với Liên Xô. Nhờ đó quân Đức đã thu được một số thắng lợi bước đầu. Nhưng chúng đã phải trả giá rất đắt. Lần đầu tiên, quân Đức vấp phải một đối thủ kiên cường. Trận Matxcơva ngày 6/12/1941 đánh dấu sự thất bại của kế hoạch “chiến tranh chớp nhoáng” của Hitle. Việc Liên Xô tham chiến đã làm thay đổi hẳn tính chất của chiến tranh thế giới bởi vì cuộc chiến tranh giữa 13 hai khối tư bản đế quốc trở thành cuộc chiến tranh chống phát xít của các lực lượng dân chủ. Từ cuộc chiến tranh phi nghĩa nó trở thành cuộc chiến tranh chính nghĩa. Bài tập nhận thức (về nhà): Lập bảng tóm tắt khái quát diễn biến chiến tranh thế giới thứ hai ở chiến trường châu Âu (từ 1/9/1939 đến tháng 6/1941). Thời gian Chiến sự Kết qủa - Từ 1/9/1939 đến 29/9/1939. - Từ 9/1939 đến 4/1940. - Từ 4/1940 đến 6/1940. - Tháng 7/1940. - Cuối năm 1940 đến 6/1941. Các bước trên thực hiện một cách chặt chẽ, không thể tách rời. C. KẾT LUẬN 1. Kết quả nghiên cứu Để đánh giá tính hiệu quả, tính khả thi của đề tài, tác giả đã tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Nguyễn Thị Lợi Sầm Sơn - Thanh Hoá. * Mô tả thực nghiệm: - Mục đích thực nghiệm: Thực nghiệm nhằm kiểm chứng các biện pháp sư phạm nâng cao hiệu quả việc phát huy tính tích cực của học sinh khi dạy bài: “ Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)” ở trường THPT. - Đối tượng thực nghiệm: Học sinh lớp 11C1, trường THPT Nguyễn Thị Lợi –Thanh Hoá năm học 2010-2011. Số lượng học sinh ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng bằng nhau, trình độ nhận thức như nhau và cùng một giáo viên thực hiện. - Nội dung và phương pháp tiến hành thực nghiệm: Trong quá trình thực nghiệm, đề tài đã triệt để khai thác nội dung sách giáo khoa và tổng hợp tất cả các biện pháp dạy học thích hợp như đã nêu ở trên để tiến hành. Đề tài đã tiến hành một bản trưng cầu ý kiến với nội dung tập trung vào bài: “ Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945)” để xem hoạt động tiếp thu kiến thức như thế nào, học sinh có nắm vững được kiến thức cơ bản của bài học không. Tác giả đề tài cũng đã tiến hành giảng dạy theo phương pháp tích cực ở lớp 11C2 (lớp thực nghiệm) và lấy lớp 11C1 (trường THPT Nguyễn Thị Lợi) làm lớp đối chứng. * Kết quả thực nghiệm sư phạm: 14 Sau khi tiến hành thực nghiệm, thu được kết quả như sau: Lớp Số học sinh kiểm tra Số lượng học sinh đạt điểm tại giá trị X và Y 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Thực nghiệm (X) 50 0 0 1 1 2 3 19 10 4 4 Đối chứng (Y) 50 2 0 3 3 5 6 12 4 1 8 * Để kiểm định tính khả thi của đề tài, tôi tiến hành xử lí số liệu thu được ở trên theo ba bước: - Bước 1: Tính giá trị t = ( X - Y n ) S2x + S2y Từ kết qủa thu được ở bảng trên ta tính được: Điểm trung bình lớp thực nghiệm: X = 7,5 Điểm trung bình lớp đối chứng: Y = 6,3 Số học sinh kiểm tra: 100 Phương sai lớp thực nghiệm: S2x = 0,98 Phương sai lớp đối chứng: Từ đó suy ra: t = ( 7,5 – 6,3) S2y = 2,5 88 0,98  2,5 => t = 5,5 - Bước 2: Tìm t Cho sai số là 0,05 và k = 2n - 2 = 2 . 100 - 2 = 174 Tra bảng Student ta có t = 1,96 - Bước 3: So sánh So sánh t và t ta thấy t > t . Vậy đề tài có tính khả thi. 2. Kiến nghị, đề xuất * Trong sự phát triển của khoa học ngày nay, giáo dục đang phải chịu hai sức ép lớn của việc truyền thụ và tiếp thu kiến thức. Đó cũng là vấn đề số lượng và chất lượng. Không thể cung cấp và học thuộc khối lượng kiến thức ngày một chồng chất, càng không thể chấp nhận những kiến thức quá cũ, lạc hậu, chưa phản ánh được những thành tựu khoa học hiện đại. Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh là một vấn đề bức thiết. 15 Tuy nhiên, một điều cần chú ý là sự đổi mới này phải được tiến hành một cách thiết thực, toàn diện. * Trong giờ lên lớp, cần nhanh chóng xoá bỏ lối dạy độc thoại của giáo viên, tăng cường làm và sử dụng các đồ dùng dạy học, tiến hành các loại bài tập thực hành trong quá trình cung cấp kiến thức mới. * Đổi mới phương pháp cần đồng thời với việc cải tiến về mặt nội dung, hình thức lên lớp, phương tiện dạy học. Nội dung dạy học còn nặng nề, quá nhiều sự kiện, hiện tượng trong một bài học lịch sử sẽ dẫn đến tình trạng dạy học nhồi nhét. Cơ sở vật chất đảm bảo cho học sinh phát huy năng lực học tập lịch sử thiếu thốn thì giáo viên cũng không thể dạy theo hướng tích cực hoá người học. Tài liệu tham khảo - Sách giáo khoa lớp 11 chuẩn và nâng cao. - Phương pháp luận Sử học. Phan Ngọc Liên ( CB) XB Giáo dục1995. - Thiết kế bài giảng lịch sử 11 cơ bản, nâng cao. - Lịch sử thế giới hiệ đại ( 1945 – 1991) Trần Văn Thái (CB) NXB Giáo dục 1997. Xác nhận của Hiệu trưởng Sầm Sơn, ngày 20 tháng 5 năm 2013 Tôi xin cam đoan sáng kiến kinh nghiệm này là do tôi viết nếu sai thật tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm Giáo viên Vũ Thành Long 16
- Xem thêm -