Skkn một số kinh nghiệm dạy học toán có lời văn lớp 3

  • Số trang: 20 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY HỌC TOÁN CÓ VĂN Ở LỚP 3 PHẦN I : LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1- Cơ sở lý luận . Trong tất cả các môn học ở tiểu học cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí vô cùng quan trọng .Toán học với tư cách là một môn khoa học nghiên cứu một số mặt của thế giới hiện thực, nó có một hệ thống kiến thức cơ bản và phương pháp nhận thức cần thiết cho đời sống sinh hoạt và lao động. Đó cũng là những công cụ rất cần thiết để học các môn học khác để tiếp tục nhận thức thế giới xung quanh và để hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn. Mặt khác khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán là rất to lớn, nó có nhiều khả năng để phát triển tư duy logíc, bồi dưỡng và phát triển những thao tác trí tuệ cần thiết trong thế giới hiện thực trừu tượng hoá, khái quát hoá, phân tích ,tổng hợp, so sánh ,dự toán chứng minh và bác bỏ. Nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề có căn cứ khoa học, toàn diện chính xác. Nó có nhiều tác dụng trong việc phát triển trí thông minh, tư duy độc lập, linh hoạt, sáng tạo trong việc hình thành và rèn luyện nề nếp phong cách và tác phong làm việc khoa học rất cần thiết trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người góp phần giáo dục ý trí và những đức tính tốt như cần cù nhẫn nại, ý thức tự vượt khó. Việc giải toán có văn ở tiểu học được ví như là " hòn đá thử vàng " của dạy học Toán. Trong giải Toán học sinh phải tư duy một cách tích cực, linh hoạt huy động thích hợp các kiến thức và khả năng đã có vào các tính huống khác nhau trong nhiều trường hợp phải biết phát hiện những dữ kiện hay điều kiện chưa được nêu ra một cách tường minh trong chừng mực nào đó phải biết suy nghĩ năng động, sáng tạo vì vậy giải toán còn là một trong những biểu hiện " năng động " trong hoạt động trí tuệ của học sinh. 1 Đối với học sinh lớp 3 các em đã nắm vững cách giải một bài toán có văn xong các bài toán có liên quan đến phân số, gấp, giảm một số lần… thì đây là bước đầu tiên các em được làm quen. Do vậy các em gặp không ít khó khăn khi giải các bài toán có văn ở dạng này, vì bài toán có chứa các dữ kiện là số phần, số lần bước đầu là một vấn dề trừu tượng với học sinh lớp 3 vì vậy nhiều em đã hiểu lầm và dẫn đến giải bài toán sai. 2. Cơ sở thực tiễn. Năm học 2014- 2015 tôi được Ban Giám Hiệu phân công tiếp tục dạy lớp 3 từ đó qua các ngày sinh hoạt chuyên môn tôi tìm ra cách dạy đạt hiệu quả cao nhất. Qua thực tế giảng dạy của bản thân tôi và qua trao đổi với đồng nghiệp trong các giờ sinh hoạt chuyên môn, chúng tôi đều thống nhất ý kiến. Học sinh lớp 3 thường gặp khó khăn khi học một số dạng bài toán cơ bản như sau: - Tìm một trong các phần bằng nhau của một số - Gấp một số lên nhiều lần - Giảm một số đi nhiều lần - So sánh số lớn gấp mấy lần số bé - So sánh số bé bằng một phần mấy số lớn Nguyên nhân chủ yếu là do tư duy của học sinh tiểu học nói chung và tư duy của học sinh lớp 3 nói riêng còn hạn chế nên việc đọc kĩ đầu bài với các em còn chưa có, nắm cái đã cho, cái cần tìm còn lơ mơ. Khi đọc đầu bài toán các em cảm thấy nó cứ giống với những bài nào đó đã làm rồi nhưng thực tế bản chất của nó khác nhau vì các em thường bị nhầm lẫm, ngộ nhận bởi các từ " Cảm ứng " hoặc bị lôi cuốn vào các yếu tố không tường minh. Từ thực trạng trên kết hợp với việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn giảng dạy của bản thân tôi. Tôi thiết nghĩ chất lượng giải toán có văn được nâng cao nếu có những biện pháp, phương pháp giảng dạy phù hợp, khắc phục những tồn tại và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh . 2 Trong khuôn khổ sáng kiến kinh nghiệm này tôi không tham vọng trình bày tất cả các vấn đề có liên quan đế bài toán có lời văn mà chỉ đề cập đến việc dạy toán có văn ở lớp 3, đặc biệt là một số dạng bài cơ bản mà qua giảng dạy tôi nhận thấy học sinh còn lúng túng khi tiếp thu và đưa ra cách dạy mà tôi cho là hiệu quả nhất. PHẦN II : NỘI DUNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Khảo sát phân loại đối tượng học sinh. Muốn dạy thành công môn toán nói chung và toán có lời văn nói riêng đòi hỏi người giáo viên phải nắm vững trình độ nhận thức của lớp mình để từ đó có biện pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh. Chính vì vậy ngay từ đầu năm học ( tuần 1) khi nhận lớp tôi đã tiến hành khảo sát phân loại học sinh theo hai đề: Đề 1: Thực hiện phép tính, tính giá trị biểu thức, tìm x. Đề 2: 3 bài toán có văn. Kết quả cụ thể như sau : ( Tổng số học sinh trong lớp là 22) Đề Đề 1 Đề 2 Điểm giỏi SL % 7 31,8 3 13,6 Điểm khá SL % 8 36,3 6 27,3 Điểm TB SL % 6 27,4 9 40,9 Điểm dưới TB SL % 1 4,5 4 18,2 Qua khảo sát và thực tế giảng dạy chương trình sách giáo khoa lớp 3 tôi nhận thấy: - Phần kĩ năng cơ bản và tính toán học sinh khá thành thạo có 21/22 em đạt điểm từ trung bình trở lên. Trong đó có 15/22 em đạt điểm khá giỏi. - Phần thực hiện kĩ năng giải toán kém hơn có 18/22 em đạt điểm trung bình trở lên trong đó điểm khá giỏi chỉ có 9/22 em. 2. Nguyên nhân dẫn đến kĩ năng giải toán có văn của học sinh còn hạn chế Qua khảo sát và thực tế giảng dạy tôi nhận thấy nguyên nhân dẫn đến kỹ năng giải toán của học sinh còn hạn chế là do các em thường gặp một số khó khăn trong giải toán có văn cụ thể là : 3 - Học sinh thường gặp khó khăn khi phân biệt các yếu tố cơ bản của bài toán, khó nhận thức được bản chất của cái đã cho, dễ nhầm lẫn cái cần tìm với cái đã cho nhất là không nhận thức được vai trò của câu hỏi trong bài toán. Khó nhận rõ quan hệ lôgíc giữa dữ kiện và ẩn số. - Nội dung bài toán lớp 3 thường nêu ra những tình huống quen thuộc gần gũi với học sinh trong đó các dữ kiện thường là các đại lượng. Khi học sinh tìm hiểu bài toán các em thường bị phân tán vào các nội dung cụ thể của đại lượng hơn là các yếu tố cần thiết cho việc diễn tả điều kiện của bài toán theo yêu cầu của câu hỏi. - Trong các bài toán có văn ở lớp 3 các dữ kiện thường là không thừa hoặc không thiếu. Vì vậy học sinh thường quan niệm bài toán bao giờ cũng có đáp số, vấn đề là tìm cách nào đó để có đáp số. Nhưng khi đề toán ra ngoài cách đó thì học sinh rất lúng túng kể cả học sinh giỏi. - Nhiều bài toán ở lớp 3 chứa các từ gọi là từ " Chìa khoá " hay từ " cảm ứng nội dung của nó thường gợi ra những phép tính cụ thể. Chẳng hạn : thêm " gợi phép tính cộng, "bớt " gợi phép tính trừ … Vì vậy học sinh không đọc kĩ đầu bài, không nắm vững cách làm bài, các em thường bị ám ảnh bởi tác dụng của từ " cảm ứng " nên dẫn đến chọn sai phép tính. - Học sinh lớp 3 thường xử lý các điều kiện và các dữ kiện theo trình tự đưa ra trong đầu bài toán hoặc theo tiến trình diễn biến của sự việc. Nếu đảo ngược các sự việc hay trình bày các dữ kiện khác với thứ tự thì nhiều học sinh còn gặp khó khăn. - Học sinh hay bị ngộ nhận giữa số lần và số đơn vị. Do học sinh không đọc kỹ đầu bài nên không xác định được yếu tố cơ bản của bài toán. Do đó việc thực hiện giải toán còn gặp nhiều khó khăn. Qua kết quả khảo sát và tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến kỹ năng giải toán có văn của học sinh lớp 3 còn hạn chế. Tôi xin đưa ra những giải pháp chung để nâng cao chất lượng giải toán có văn của học sinh và cách dạy một số bài cơ bản trong chương trình sách giáo khoa toán 3. II- NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU. 4 1. Những giải pháp chung. a) Nắm vững nội dung chương trình. Việc nắm vững nội dung, chương trình là yêu cầu cần thiết và bắt buộc đối với giáo viên. Bởi vì mỗi đơn vị kiến thức toán ở tiểu học nói chung và toán ở lớp 3 nói riêng như những mắt xích nằm trong hệ thống logic kiến thức và kỹ năng của chương trình. Nếu không nắm vững nội dung chương trình người giáo viên không thể cung cấp cho học sinh một cánh có hệ thống các kỹ năng, kỹ sảo mà học sinh phải lĩnh hội. b) Thực hiện nghiêm túc các quy trình giải toán có văn. Qua nghiên cứu thực tế tôi nhận thấy nguyên nhân dẫn đến chất lượng giải toán có văn còn chưa đạt hiệu quả một phần là do giáo viên chưa tuân thủ quy trình giải toán có văn đặc biệt là ở bước 1 (tìm hiểu kỹ đầu bài) và bước 2 ( lập kế hoạch giải). Bước 1 có vị trí vô cùng quan trọng, có thể ví như "chiếc chìa khoá" để mở ra cách giải, bởi lẽ có làm tốt bước này thì các bước sau mới đi đúng hướng và đạt kết quả cao. Vì vậy khi dạy giải toán tôi luôn thực hiện đầy đủ quy trình giải toán có văn và coi trọng hơn bước 1 của quy trình. c) Tạo niềm say mê, hứng thú cho học sinh khi học toán có văn. Như chúng ta đã biết trực quan đối với học sinh tiểu học là rất cần thiết không những hỗ trợ việc nắm kiến thức mà nó còn tạo niềm say mê hứng thú cho học sinh. Vì vậy khi giải toán có văn tôi luôn cố gắng cho học sinh sử dụng đồ dùng học tập để nắm bài một cách bản chất hơn. Ngoài ra tôi còn có tổ chức các hình thức học tập sinh động như: Trò chơi, sưu tầm những bài toán vui những bài toán gần gũi với cuộc sống, đọc cho các em nghe, giải thích cho các em cách giải…Tôi luôn khuyến khích các em tự sưu tầm đề toán hoặc tự đặt đề toán cho cả lớp giải hoặc tham khảo. 5 d) Giáo viên cần nắm được định hướng đổi mới phương pháp nói chung và phương pháp dạy học toán nói riêng. Qua nghiên cứu tài liệu chuyên môn và thực tế giảng dạy tôi nhận thấy: về mặt bản chất đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới cách tiến hành các phương pháp, đổi mới các phương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các phương pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số phương pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh. Như vậy mục đích cuối cùng của đổi mới phương pháp nói chung và phương pháp dạy học toán nói riêng là làm thế nào để học sinh phải thực sự tích cực, chủ động, tự giác, luôn trăn trở tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức và lĩnh hội cả cách thức để có được tri thức ấy nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách mình. - Đổi mới phương pháp dạy học toán được thể hiện đậm nét ở chỗ: + Đổi mới phương pháp dạy học toán được định hướng ngay trong quá trình xác định mục tiêu từng môn học, đặc biệt trong khâu thể hiện nội dung của từng bài học, trong quá trình soạn bài. + Tập trung vào dạy cách học, đặc biệt là giúp học sinh biết cách và có nhu cầu tự học. Khuyến khích dạy học cá nhân và dạy học hợp tác để phát triển năng lực theo khả năng của từng học sinh và để tận dụng môi trường giáo dục tạo ra mối quan hệ tương tác giữa giáo viên, học sinh và môi trường giáo dục. + Coi trọng khuyến khích dạy học trên cơ sở hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; giúp học sinh tự phát hiện và tự giải quyết các vấn đề của bài học, do đó học sinh có thể tự chiếm lĩnh các kiến thức và biết vận dụng chúng với sự hỗ trợ hợp lý của giáo viên và môi trường giáo dục .Giáo viên là chủ thể tổ chức, điều khiển và học sinh là chủ thể hoạt động học tích cực chủ động và sáng tạo. 6 + Đổi mới phương pháp dạy học toán theo hướng kết hợp hoạt động cá nhân với hoạt động nhóm và phát huy khả năng của cá nhân. Tập thể học sinh được sử dụng như một môi trường và phương tiện để tổ chức quá trình học tập tích cực nhất cho từng cá nhân. Lợi thế của dạy tập thể là : Tạo ra sự đua tranh, tạo ra nhiều cách nghĩ, phương án hành động, học sinh có thể hỗ trợ lẫn nhau, đóng góp ý kiến riêng vào ý kiến chung, chuyển từ thói quen chỉ nghe, ghi nhớ sang hình thức thực sự hoạt động, cùng nhau tìm kiếm, hình thành kiến thức bằng trí tuệ chung. Qua đó học sinh sẽ có kỹ năng hoạt động tập thể và khẳng định được mình thông qua tập thể. + Đổi mới phương pháp dạy học toán theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành. Mục đích cuối cùng của quá trình dạy học là tạo ra năng lực thực tiễn cho người học. Đổi mới theo hướng này có nghĩa là: Học sinh được thao tác hành động, được học qua tình huống thực tiễn cuộc sống, giải thích được thực tiễn bằng lý thuyết đã học, được thực hành trao đổi, phối hợp, hợp tác trong nhóm, được rèn luyện kỹ năng diễn đạt, nói và viết, được đi vào cuộc sống thực để có kinh nghiệm thực tế… + Đổi mới phương pháp dạy học toán theo hướng đổi mới cả phương pháp kiểm tra và đánh giá. Đánh giá là khâu cuối cùng của quá trình dạy học và nó có thể góp phần điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học. Ngược lại đổi mới phương pháp dạy học sẽ phải đổi mới cách thức kiểm tra và đánh giá. Không đổi mới phương pháp kiểm tra và đánh giá thì đổi mới phương pháp dạy học chỉ là hình thức. Trong đánh giá, giáo viên lưu ý giúp học sinh biết tự đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của bản thân. 2. Những giải pháp cụ thể khi dạy các dạng toán có văn ở lớp 3. Từ những giải pháp chung như trên đặc biệt là định hướng đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học toán nói riêng tôi xin trình bày quan điểm của mình khi dạy một số dạng toán có văn ở lớp 3 . 7 Như tôi đã trình bày ở phần I , học sinh lớp 3 thường gặp khó khăn khi gặp các dạng bài: - Tìm một trong các phần bằng nhau của 1 số. - Gấp một số lên nhiều lần. - Giảm một số đi một số lần. - So sánh số lớn gấp mấy lần số bé. - So sánh số bé bằng một phần mấy số lớn. Đây chính là các dạng bài cơ bản, trọng tâm của phần giải toán lớp 3, các dạng bài này nếu đọc đầu bài xong thì giáo viên cảm thấy rất dễ nhưng thực tế lại không như vậy. Nếu học sinh nắm vững cách giải các dạng toán trên thì kết quả giải toán của các em trong chương trình lớp 3 sẽ đạt cao. Sau đây tôi xin đưa ra cách dạy các dạng bài này theo tôi là đạt hiệu quả cao. a) Dạng bài" Tìm một trong các phần bằng nhau của 1 số". Bài toán: Chị có 12 cái kẹo, chị cho em 1/3 số kẹo đó. Hỏi chị cho em mấy cái kẹo. Ở dạng bài này mới đọc ta cảm thấy rất dễ nhưng trong thực tế giảng dạy học sinh rất dễ bị nhầm lẫn bởi các từ cảm ứng"cho","bán"… Thường gợi cho các em phép tính trừ. Nhiều học sinh đã giải nhầm bài toán này như sau. Số kẹo chị cho em là: 12 - 3 = 9( cái). Đáp số: 9 cái. Học sinh lớp 3 các em mới chỉ được giới thiệu, làm quen với phân số ở lớp 2, lên lớp 3, đây là dạng có văn đầu tiên liên quan đến phân số. Nên theo tôi khi dạy bài này trước hết giáo viên cần cho học sinh ôn lại các kiến thức về phân số đã học ở lớp 2 và để học sinh hiểu sâu sắc bản chất của bài toán thì việc sử dụng đồ dùng trực quan là rất cần thiết. Khi dạy bài này tôi đã sử dụng đồ dùng trực quan là 12 các kẹo bằng giấy, yêu cầu mỗi học sinh cũng chẩn bị như vậy. 8 * Phương pháp dạy cụ thể. - Hai học sinh đọc đầu bài toán. ? Bài toán cho biết gì? ( chị có 12 cái kẹo, cho em 1/3 số kẹo) ? Bài toán hỏi gì? ( Chị cho em mấy cái kẹo). ? Chị cho em mấy phần số kẹo? ( Chị cho em 1/3 số kẹo). ? Em hiểu 1/3 số kẹo nghĩa là như thế nào ? ( đem số kẹo chia làm 3 phần, lấy đi 1 phần) ( học sinh đã học từ lớp 2). ? Số kẹo chị có là bao nhiêu cái? ( 12 cái). ? Vậy 12 cái kẹo được chia làm mấy phần bằng nhau( 3 phần). ? Chị cho em mấy phần ( 1 phần). Giáo viên vừa nói vừa tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng. 12 cái ? cái Giáo viên cho học sinh thực hành chia 12 cái kẹo thành 3 phần bằng nhau. Sau đó yêu cầu học sinh đếm 1 phần là bao nhiêu cái kẹo ( 4 cái). Giáo viên yêu cầu 1 học sinh nói lại cách chia và gọi 1 em nên bảng thực hiện lại việc chia cho cả lớp cùng quan sát. ? Vậy chị cho em mấy cái kẹo? (4 cái) - Giáo viên chỉ vào sơ đồ và hỏi: ? Muốn tìm số kẹo của chị cho em ta làm như thế nào ? ( Lấy số kẹo chia cho 3) Học sinh nêu lời giải và phép tính. Số kẹo của chị cho em là: 12 : 3 = 4 ( cái ) Đáp số: 4 cái ? Vậy muốn tìm 1/3 của 12 ta làm như thế nào? ( Lấy 12 chia cho 3) 9 - Giáo viên cho học sinh làm vài ví dụ rồi rút ra cách làm. Với cách dạy như trên, đặc biệt là việc học sinh được thực hành trên vật thật sẽ giúp các em hiểu bản chất hơn các phần bằng nhau của 1 số từ đó các em sẽ không bị nhầm bởi các từ cảm ứng "cho", "bán" thường gợi phép trừ. b) Dạng bài " Gấp một số lên nhiều lần" Bài toán: Đoạn thẳng AB dài 2cm. Đoạn thẳng CD dài gấp 3 lần đoạn thẳng AB. Hỏi đoạn thẳng CD dài mấy xăng - ti - mét ? Khi đọc bài toán này ai cũng nghĩ là đơn giản nhưng trong thực tế giảng dạy tôi thấy học sinh dễ nhầm lẫn giữa "số lần" với "số đơn vị". Gấp lên một số lần học sinh sẽ nhầm là thêm một số đơn vị. Nhiều học sinh sẽ giải nhầm bài toán này như sau: Giải Đoạn thẳng CD dài là: 2 + 3 = 5 (cm) Đáp số: 5 cm Để khắc phục vấn đề này theo tôi giáo viên cần giúp học sinh hiểu được " gấp" lên một số lần bản chất của nó khác hẳn với từ "hơn" một số đơn vị vì vậy khi dạy ngoài việc sử dụng sơ đồ đoạn thẳng như sách giáo khoa cần cho học sinh làm việc với vật thật. Cách dạy cụ thể như sau: - Phần chuẩn bị: Giáo viên và học sinh cùng chuẩn bị 1 băng giấy. - Cách tiến hành: + 2 học sinh đọc đầu bài toán. ? Bài toán cho biết gì ? ( đoạn thẳng AB dài 2cm; độ dài đoạn thẳng CD dài gấp 3 lần độ dài đoạn thẳng AB) ? Bài toán hỏi gì? (Hỏi đoạn thẳng CD dài mấy xăng - ti - mét ?) ? Nếu ta coi đoạn thẳng AB là một phần thì đoạn thẳng CD gồm mấy phần như thế ? ( 3 phần) 10 - Tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng: 2cm A B D C ? cm - Giáo viên cho học sinh làm việc trên vật thật: Giáo viên yêu cầu học sinh đo và cắt từ băng giấy đã chuẩn bị ra một đoạn băng giấy có độ dài 2 cm. Sau đó yêu cầu học sinh đặt băng giấy 2cm vừa cắt chồng lên băng giấy còn lại ( Một đầu trùng lên nhau từ trái sang phải ) và đặt liên tiếp 3 lần như thế, mỗi lần đều đánh dấu lại, sau 3 lần đặt phần còn lại cắt đi. Yêu cầu học sinh đo xem băng giấy thứ 2 dài bao nhiêu xăng - ti - mét. ( 6 cm) Cho 1 học sinh nêu lại cách làm và thực hành lại để cả lớp cùng quan sát. ( Giáo viên có thể thay thế bằng mô hình 2cm để học sinh tiện quan sát, hoặc thay đổi đầu bài toán bằng cách tăng chiều dài mỗi băng giấy lên) - Giáo viên hướng dẫn học sinh làm việc trên sơ đồ đoạn thẳng. ? Muốn biết đoạn thẳng CD dài bao nhiên xăng - ti - mét ta làm như thế nào? ( Học sinh có thể trả lời: lấy 2+ 2+ 2 = 6 cm hoặc 2 x 3 = 6 (cm) ) Giáo viên định hướng để học sinh làm theo cách lấy 2 x 3 = 6 (cm) Giải Đoạn thẳng CD dài là: 2 x 3 = 6 (cm) Đáp số : 6 cm ? Vậy muốn gấp 2 lên 3 lần ta làm như thế nào ? ( lấy 2 x 3 ) - Giáo viên cho thêm vài ví dụ để rút ra cách giải. 11 Với cách dạy như trên giáo viên đã giúp học sinh hiểu kỹ về bản chất của " gấp" và "hơn" qua việc các em được làm việc với vật thật, tìm ra kết quả bài toán trên vật thật, các en có cảm giác mình vừa phát hiện ra một vấn đề mới, từ đó hạn chế được việc nhầm lẫn giữa "số lần" và "số đơn vị". Để giúp học sinh phân biệt rõ hơn "số lần" và "số đơn vị" cuối tiết dạy giáo viên cho 2 bài toán ở 2 dạng số lần và số đơn vị để học sinh làm và so sánh bản chất của 2 bài khác hẳn nhau. c) Dạng bài " Giảm một số đi nhiều lần" Bài toán: Hàng trên có 6 con gà, số gà ở hàng trên giảm đi 3 lần thì được số gà ở hàng dưới. Hỏi hàng dưới có bao nhiêu con gà? Dạng toán này học sinh dễ nhầm lẫn giữa "số lần" với "số đơn vị". Giảm đi một số lần học sinh sẽ nhầm là bớt đi một số đơn vị. Nhiều học sinh sẽ giải nhầm bài toán này như sau: Giải Số con gà ở hàng dưới là: 6 - 3 = 3 (con) Đáp số: 3 con Theo tôi khi dạy bài này giáo viên cũng làm tương tự như khi dạy bài " gấp một số lên nhiều lần". Để thuận lợi trong việc sử dụng đồ dùng của giáo viên và học sinh đặc biệt là tận dụng bộ đồ dùng sẵn có giáo viên có thể thay thế con gà bằng hình vuông, hình tròn, tam giác hay một đồ vật khác. Khi học sinh chia giáo viên chú ý dẫn dắt học sinh đưa về cách chia 6 thành 3 nhóm đồ vật mỗi nhóm 2 đồ vật. Khi vẽ sơ đồ trên bảng nên chia số gà hàng trên ( hoặc số đồ vật) thành 3 nhóm để học sinh dễ nhận biết số gà ( hoặc số đồ vật) hàng trên gấp 3 lần số gà ( số đồ vật ) hàng dưới hay số gà (số đồ vật) hàng dưới bằng 1/3 số gà ( số đồ vật ) hàng trên. Hàng trên 12 Giải Số gà ở hàng dưới là: Hàng dưới 6 : 3 = 2( con) Đáp số : 2 con Sau khi dạy 2 dạng bài " Gấp một số lên nhiều lần" và "giảm một số đi nhiều lần" Giáo viên chia đôi bảng lớp mỗi bên ghi một đề toán ở 2 dạng trên để h ọc sinh nhận dạng, giải và so sánh và rút ra kết luận 2 dạng toán này ngược nhau. Bài toán 1: Mai hái được 5 bông hoa, Bài toán 2: Lan hái được 20 bông hoa, số hoa Lan hái được gấp 4 lần số hoa số hoa của Lan hái được giảm đi 4 lần Mai hái được. Hỏi Lan hái được bao thì được số hoa của Mai. Hỏi Mai hái nhiêu bông hoa ? được bao nhiêu bông hoa ? Giải Giải Số hoa Lan hái được là: Số hoa Mai hái được là: 5 x 4 = 20 ( bông) 20 : 4 = 5 ( bông) Đáp số : 20 bông hoa Đáp số : 5 bông hoa Qua việc so sánh để rút ra kết luận 2 dạng toán này ngược nhau giúp học sinh một lần nữa khắc sâu hơn bản chất của " gấp lên một số lần" và "giảm đi một số lần", từ đó học sinh tránh được những nhầm lẫn khi giải 2 dạng toán này. d) Dạng bài "So sánh số lớn gấp mấy lần số bé" Bài toán: Đoạn thẳng AB dài 6cm, đoạn thẳng CD dài 2cm. Hỏi độ dài đoạn thẳng AB gấp mấy lần đoạn thẳng CD? Khi dạy dạng toán này học sinh dễ bị nhầm lẫn bởi các từ " gấp" gợi cho học sinh làm phép tính nhân. Nhiều học sinh giải nhầm bài toán này như sau. Giải 13 Số lần độ dài đoạn thẳng AB gấp độ dài đoạn thẳng CD là: 6 x 2 = 12(lần) Đáp số: 12( lần) Khi dạy bài toán này đa số giáo viên chỉ hướng dẫn là lấy số lớn chia cho số bé ta được số lần, chứ chưa làm cho học sinh hiểu rõ vì sao phải lấy số lớn chia cho số bé ta được số lần. Theo tôi để làm cho học sinh hiểu rõ. Giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh biết coi số bé là 1 phần thì số lớn chia thành mấy phần mà mỗi phần đều là số bé. Từ đó học sinh suy ngay ra là số lớn gấp mấy lần số bé bài toán trở về dạng đơn giản hơn. - Cách dạy cụ thể. Phần kiểm tra bài cũ tôi cho học sinh ôn lại dạng bài ( gấp một số lên nhiều lần). Hai học sinh đọc bài toán. ? Bài toán cho biết gì? ( đoạn thẳng AB dài 6 cm, đoạn thẳng CD dài 2 cm). ? Bài toán hỏi gì? (Hỏi đoạn thẳng AB dài gấp mấy lần đoạn thẳng CD). Giáo viên vừa hỏi vừa tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng.( Để đảm bảo cho cả lớp cùng quan sát được ta không thể minh hoạ trên bảng đoạn thẳng AB = 6 cm; CD = 2cm như sách giáo khoa mà ta cần vẽ làm sao cho cả lớp cùng quan sát được. Nhưng khi vẽ ta chú ý đảm bảo dúng tỷ lệ đoạn thẳng AB gấp mấy lần đoạn thẳng CD nhưng chưa chia đoạn thẳng AB làm 3 phần bằng nhau. 6cm A A +) Làm việc trên vật thật ( trực quan). D C Giáo viên yêu cầu học sinh lấy 2 băng giấy, dùng thước đo cắt lấy băng giấy thứ 2cm thứ hai dài 2cm, sau đó yêu cầu học sinh đặt băng giấy nhất dài 6 cm, băng giấy cm thứ hai lên băng giấy thứ nhất sao cho một đầu trùng nhau từ trái sang phải. Đặt 14 liên tiếp như vậy cho đến hết băng giấy thứ nhất. Mỗi lần đặt xong yêu cầu học sinh dùng bút đánh dấu. Sau đó giáo viên hỏi: ? Đặt được mấy lần như thế ? ( 3 lần). ? Độ dài băng giấy thứ nhất gấp mấy lần độ dài băng giấy thứ hai ( gấp 3 lần) - Làm việc trên sơ đồ đoạn thẳng. Giáo viên dùng một que thẳng có chiều dài bằng đoạn thẳng CD đặt trùng khít lên đoạn thẳng thứ hai và cho học sinh nhận xét về chiều dài của đoạn thẳng và chiều dài que đặt liên tiếp chồng lên đoạn thẳng thứ nhất từ trái sang phải cho đến hết độ dài đoạn thẳng thứ nhất. Sau mỗi lần đặt giáo viên vạch dấu. 6cm A A C D 2cm cm ? Đoạn thẳng thứ nhất gấp mấy lần đoạn thẳng thứ hai ( 3 lần) ? Muốn biết đoạn thẳng AB gấp mấy lần đoạn thẳng CD ta làm thế nào? Giáo viên yêu cầu học sinh nêu lời giải và phép tính. Giáo viên ghi lên bảng. Giải Số lần đoạn thẳng AB gấp đoạn thẳng CD là: 6 : 2 = 3 (lần) Đáp số: 3 lần. Qua việc học sinh thực hành trên vật thật để tìm ra kết quả học sinh sẽ hiểu bản chất hơn bài toán "So sánh số lớn gấp mấy lần số bé" từ đó tránh nhầm lần với dạng toán " gấp một số lên nhiều lần". Sau bài dạy tôi cũng cho học sinh làm 2 bài toán thuộc 2 dạng toán " Gấp một số lên nhiều lần" và"So sánh số lớn gấp mấy 15 lần số bé" để học sinh làm và so sánh phân biệt những điểm khác nhau cơ b ản của 2 dạng toán này. Bài toán 1: Nhà Lan nuôi 3 con gà, số Bài toán 2: Nhà mai nuôi 15 con gà, gà nhà Mai gấp 5 lần số gà nhà Lan. nhà Lan nuôi 3 con gà. Hỏi số gà nhà Hỏi nhà Lan nuôi mấy con gà ? Giải Mai gấp mấy lần số gà nhà Lan? Giải Số gà nhà Lan có là Số lần gà nhà Mai gấp gà nhà Lan là 3 x 5 = 15 (con) 15 : 3 = 5 ( lần) Đáp số : 15 con gà Đáp số: 5 lần Qua việc làm và so sánh giúp học sinh một lần nữa khắc sâu hơn bản chất của hai dạng toán này. Giúp học sinh tránh được nhầm lẫn khi giải đặc biệt là cả 2 dạng toán này đều có từ gấp ( số gà nhà Mai gấp 5 lần số gà nhà Lan; Hỏi số gà nhà Mai gấp mấy lần số gà nhà Lan? ) e) Dạng toán: ''So sánh số bé bằng một phần mấy số lớn". Bài toán: Đoạn thẳng AB dài 2 cm; đoạn thẳng CD dài 6 cm. Hỏi độ dài đoạn thẳng AB bằng một phần mấy độ dài đoạn thẳng CD ? Để hướng dẫn học sinh làm bài toán này tôi cũng hướng dẫn tương tự dạng toán trên. Sau khi cho học sinh làm việc trên vật thật song cần khai thác ở học sinh. ? Độ dài băng giấy thứ 2 ( dài 6 cm) gấp mấy lần độ dài băng giấy thứ nhất( 2 cm)? Độ dài băng giấy thứ nhất( 2cm) bằng một phần mấy độ dài băng giấy thứ 2 (6cm) ? Sau khi thực hành trên vật thật song, giáo viên thực hành đo và chia đoạn thẳng CD làm 3 phần bằng nhau sau đó cho học sinh nhận xét. - Độ dài đoạn thẳng CD gấp 3 lần độ dài đoạn thẳng AB. - Độ dài đoạn thẳng AB bằng 1/3 độ dài đoạn thẳng CD Sau khi dạy xong 2 dạng toán "Số lớn gấp mấy lần số bé" và "số bé b ằng m ột phần mấy số lớn''. Tôi chia bảng làm 2 phần ghi 2 đề toán lên bảng: Một đề 16 dạng "số lớn gấp mấy lần số bé'' một dạng đề ''Số bé bằng một phần mâý số lớn". Để học sinh làm và so sánh phân biệt những điểm khác nhau cơ bản gi ữa 2 dạng toán này. Bài toán 1: Hồng hái được 18 bông Bài toán 2: Cúc hái được 6 bông hoa, hoa, Cúc hái được 6 bông hoa. Hỏi số Hồng hái được 18 bông hoa. Hỏi số hoa hoa Hồng hái được gấp mấy lần số hoa Cúc hái được bằng một phần mấy số Cúc hái được. hoa Hồng hái được. Giải Giải Số lần hoa của Hồng gấp hoa của Lan là Số lần Hoa của Hồng gấp hoa của Lan là 18 : 6 = 3 ( lần) 18 : 6 = 3 ( lần) Đáp số : 3 lần Vậy số hoa của Lan bằng 1/3 số hoa của Hồng. Đáp số : 1/3 Qua việc so sánh để học sinh thấy được các dữ kiện đã cho ở cả 2 bài giống nhau nhưng câu hỏi khác nhau, ở bài toán 1 ta so sánh số lớn với số bé để tìm "số lớn gấp mấy lần số bé" , còn ở bài toán 2 là so sánh số bé với số lớn để tìm "số bé bằng một phần mấy số lớn" Sau khi dạy xong cả 5 dạng toán tôi tiến hành kiểm tra viết một số bài vào tiết toán khi dạy buổi 2 để đánh giá kết quả học tập 5 dạng toán này đặc biệt là qua đó phát hiện ra những dạng toán mà học sinh còn yếu để có biện pháp khắc phục kịp thời. *) Qua phần trình bày cách dạy các bài toán trên chúng ta có thể nhận thấy các dạng toán này có liên quan mật thiết với nhau, vì vậy nếu giáo viên không dạy tốt ở dạng toán đầu thì dạng toán sau học sinh sẽ rất lúng túng, một điều chúng ta cần hết sức lưu ý nữa là phải có những tiết luyện tập tổng hợp cả 5 dạng toán trên( có thể bố trí vào buổi 2) thì học sinh mới nắm vững cách giải. 3) Kết quả: 17 Trên đây là một số biện pháp tôi đã thực hiện để dạy tốt toán có văn đặc biệt là những giải pháp cụ thể để dạy tốt 5 dạng toán nói trên. Qua việc áp dụng các biện pháp trên vào thực tế giảng dạy tôi nhận thấy học sinh học tập hứng thú hơn, kết quả học cũng cao hơn. Kết quả cụ thể sau khi dạy xong cả 5 dạng toán này như sau: Tôi cũng tiến hành khảo sát học sinh theo 2 đề. +) Đề 1: Thực hiện phép tính, tính giá trị của biểu thức, tìm x +) Đề 2: Các bài toán có văn. Kết quả cụ thể như sau : ( Tổng số học sinh trong lớp là 22) Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm dưới TB SL % SL % SL % SL % Đề 1 8 36,3 8 36,3 6 27,3 0 0 Đề 2 9 40,9 10 45,5 3 13,6 0 0 Qua kết quả khảo sát lần này và đối chứng với kết quả khảo sát đầu năm tôi Đề nhận thấy ở lớp của tôi: - Phần kỹ năng cơ bản về tính toán học sinh làm khá thành thạo và có phần tiến bộ hơn đầu năm đặc biệt là không có học sinh nào điểm dưới trung bình ( đầu năm có 1 em điểm dưới trung bình). - Phần thực hiện kỹ năng giải toán. + Đầu năm có có 18/22 em đạt điểm trung bình trở lên trong đó điểm khá giỏi chỉ có 9/22 em. + Hiện nay có 22/22 em đạt điểm từ trung bình trở lên. Trong đó có 19/22 em đạt điểm khá giỏi. Rõ ràng kỹ năng giải toán của học sinh lớp tôi hiện nay so với đầu năm có tiến bộ rõ rệt. PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM. 1) Bài học kinh nghiệm: Để giảng dạy tốt các dạng toán có văn ở lớp 3 theo tôi giáo viên cần thực hiện tốt một số yêu cầu sau: 18 - Giáo viên cần nắm vững trình độ học sinh trong lớp . Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến chất lượng giải toán có văn còn hạn chế, những sai lầm học sinh thường mắc phải khi thực hiện giải toán có văn. - Giáo viên cần nắm vững nội dung chương trình môn toán lớp 3 nói chung và phần giải toán có văn nói riêng trong tổng thể chương trình của bậc học và của giai đoạn I ( Lớp 1,2,3); đặc biệt là chương trình toán có văn lớp 3 ( có bao nhiêu dạng, những dạng nào học sinh thường gặp khó khăn). - Điều quan trọng nhất là giáo viên phải nắm được tinh thần đổi mới phương pháp dạy học nói chung, định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn toán nói riêng để từ đó áp dụng vào giảng dạy. Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học. Coi trọng các phương pháp dạy học mới, với các hình thức dạy học đa dạng, phong phú, để học sinh làm việc tích cực, chủ động, tự giác, sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức. - Giáo viên cần thực hiện đủ các bước khi dạy giải toán có văn đặc biệt là bước"tìm hiểu kỹ đầu bài" và " lập kế hoạch giải". Tuy nhiên tuỳ theo đối tượng của từng lớp mà ta có thể coi trọng bước này và giảm nhẹ bước kia sao cho hợp lý để đảm bảo mọi học sinh trong lớp đều hiểu được bài, và thực hành làm bài đạt yêu cầu trở lên. - Giáo viên phải luôn tìm tòi và áp dụng các phương pháp dạy học phù hợp với trình độ học sinh lớp mình, chú ý sử dụng đồ dùng trong giảng dạy sao cho phù hợp và hiệu quả nhất. - Thường xuyên kiểm tra đánh giá kết quả của học sinh qua việc chấm bài, chữa bài. Cần đánh giá học sinh theo hướng động viên có chú ý tới sự tiến bộ của học sinh, phối hợp nhiều hình thức kiểm tra, đánh giá. - Khi dạy các dạng toán này một việc làm quan trọng là cần phải so sánh các dạng toán này với nhau để học sinh phân biệt rõ, vì các em hay nhầm lẫn giữa các dạng toán này với nhau. 19 2. Kết luận. Sáng kiến kinh nghiệm dù có hay đến đâu cũng trở thành vô ích nếu như trong giáo viên thiếu đi lòng yêu nghề, mến trẻ, ý thức tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. 3.Đề xuất, kiến nghị: - Mỗi năm học Phòng giáo dục và Sở giáo dục nên chọn các sáng kiến tốt để đánh máy, in thành các tập san theo môn học để cung cấp cho các trường làm tài liệu sinh hoạt chuyên môn. - Mở thêm các lớp bồi dưỡng về chuyên môn và xây dựng nhiều tiết mẫu để cho giáo viên được trao đổi, học tập, rút kinh nghiệm. Trên đây là một số kinh nghiệm tôi đã áp dụng trong khi dạy toán có văn ở lớp 3 mà tôi cho là thành công. Những giải pháp mà tôi đưa ra có thể còn thiếu, cách giải quyết còn hạn chế, tính thuyết phục chưa cao, rất mong sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp để kinh nghiệm này được hoàn thiện hơn, để được đồng nghiệp tham khảo và áp dụng vào giảng dạy góp phần nâng cao chất lượng giải toán có văn ở lớp 3. Ngày 04 tháng 11 năm 2014 20
- Xem thêm -