Skkn một số biện pháp rèn luyện phát âm l-n cho học sinh lớp 3

  • Số trang: 24 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3 Người viết: Nguyễn Thị Tươi PHẦN I - LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI A - CƠ SỞ LÝ LUẬN : Dân tộc Việt Nam trải qua lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước. Trong suốt hành trình ấy, đã có biết bao thăng trầm, bao biến cố, nhưng con người Việt Nam vẫn kiên gan để khẳng định tiếng nói riêng của dân tộc mình . Đóng góp một phần vô cùng quan trọng trong “Tiếng nói” rất riêng kia, không thể không kể đến việc cha ông đã tìm ra tiếng Việt. Tiếng Việt là biểu hiện cụ thể của tính dân tộc, sự hình thành và phát triển lâu dài trong tiến trình lịch sử của nước nhà. Từ xa xưa, bằng thực tiễn sử dụng ngôn ngữ, cha ông ta đã bày tỏ ý thức bảo vệ và quý trọng tiếng nói dân tộc. Một kho tàng văn học dân gian phong phú chính là nơi tiếng Việt được rèn luyện giữ gìn và phát huy. Một thời kỳ rất dài, con người Việt Nam dùng chữ Hán. Nhưng liệu ai có thể nói rằng cha ông không từng quằn quại đau đớn để tìm ra ngôn ngữ riêng cho dân tộc mình. Thế kỷ thứ 13, chính là mốc son đáng nhớ của sự ra đời chữ Nôm. Các nhà thơ, nhà văn Việt Nam có cơ hội để biểu hiện lòng yêu quý của mình với bản sắc ngôn ngữ dân tộc, với những tác phẩm chữ Nôm đậm chất Việt Nam. Không dừng lại ở thành quả đó, chữ Nôm mới chỉ là giai đoạn khởi đầu của Tiếng Việt…ông cha ta lại tiếp tục học hỏi sáng tạo để rồi cuối cùng một sản phẩm vĩ đại được hình thành: Chữ Quốc ngữ (Tiếng Việt). Cũng từ xa xưa, việc giữ gìn tiếng Việt đã trở thành một quan điểm chính thống, Sử sách đã từng ghi, năm 1374 vua Trần Duệ Tông xuống chiếu cho quân dân “Không được bắt chước tiếng nói nước Chiêm, nước Lào”. Nguyễn Trãi trong cuốn Dư Địa Chí (1435) cũng chủ trương: “Người nước ta không được bắt chước ngôn ngữ và y phục của các nước Ngô, Chiêm, Lào, Xiêm làm loạn ngôn ngữ và y phục nước nhà”. Kế thừa và phát triển tư tưởng có tính truyền thống của cha ông, hơn nữa ngày nay Đảng và Nhà nước, tiêu biểu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sự Trang1 Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3 Người viết: Nguyễn Thị Tươi quan tâm thường xuyên, đúng mực đối với vấn đề ngôn ngữ dân tộc. Hơn bao giờ hết yêu cầu “Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt”. Đối với mọi người dân Việt Nam được đặt ra bởi: Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta là thế hệ hậu sinh phải có trách nhiệm yêu quý, nâng niu và giữ gìn tài sản mà cha ông đã dày công tìm được, phải làm cho nó phổ biến và ngày càng rộng khắp nơi. Trong thời đại ngày nay, Tiếng Việt đang phát triển rất mạnh, chức năng và địa vị của nó ngày càng rộng và được khẳng định rõ rệt. Mỗi con người Việt Nam là một thành viên của cộng đồng, cần có ý thức sâu sắc đối với việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt. Chính vì nhiệm vụ cao cả đó nên việc dạy Tiếng Việt trong nhà trường cho học sinh ở mọi lứa tuổi luôn là điều quan trọng: đặc biệt hơn cả là việc dạy cho học sinh cấp tiểu học. Bởi đây chính là lứa tuổi khởi đầu, với các em “ngôn ngữ” cũng là một môn học đầy khó khăn và thú vị. Việc dạy Tiếng Việt của giáo viên phải nhằm vào cả hai chức năng cơ bản: Công cụ tư duy và công cụ giao tiếp. Phải chú trọng vào cả 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Phải hướng tới sự giao tiếp và sử dụng phương pháp giao tiếp. Phải biến ý thức bảo vệ Tiếng Việt thành những hành động cụ thể của việc phát ngôn chuẩn hoá. B- CƠ SỞ THỰC TIỄN : Con người, dù ở bất cứ nơi nào trên trái đất, đều phải dùng ngôn ngữ để nói chuyện với nhau. Quả vậy, “ Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người”. Song sử dụng ngôn ngữ nào hiệu quả nhất không thể không kể đến: Ngôn ngữ mẹ đẻ. Tiếng nói mẹ đẻ có vai trò tối quan trọng trong đời sống cộng đồng xã hội và đời sống cá nhân mỗi con người. Chính nhờ ngôn ngữ mà con người có khả năng thiết lập quan hệ xã hội diễn đạt trọn vẹn và sáng tỏ các sự kiện cũng như tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng của mình, làm cho người khác Trang2 Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3 Người viết: Nguyễn Thị Tươi thấu hiểu tất cả những gì hàm chứa trong sự diễn đạt ấy. Bằng ngôn ngữ, con người thế hệ trước có thể lưu truyền vốn tri thức và kinh nghiệm quý báu của mình cho con cháu, con người thế hệ sau có thể hiểu được cha ông. Như vậy, là công cụ giao tiếp quan trọng nhất, ngôn ngữ phát huy vai trò đoàn kết, tập hợp con người trong sinh hoạt cộng đồng, trong lao động sản xuất, trong đấu tranh phát triển xã hội, duy trì tính liên tục lịch sử của dân tộc, của xã hội. Là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người; tiếng nói (ngôn ngữ) gắn bó chặt chẽ với tư duy, cùng với tư duy hợp thành một thể thống nhất. Như vậy tiếng nói không chỉ là âm lượng phát ra bên ngoài mà còn là “Tiếng nói bên trong” của mỗi cá nhân. Tiếng Việt - ngôn ngữ mẹ đẻ rất phong phú, phức tạp; việc tiếp xúc và học Tiếng Việt để sử dụng Tiếng Việt không phải là vấn đề đơn giản, đặc biệt với học sinh tiểu học. Người giáo viên có vai trò vô cùng quan trọng để hướng dẫn các em học tiếng mẹ đẻ sao cho khoa học và hữu ích nhất; sao cho ngôn ngữ mẹ đẻ trở thành công cụ đắc lực trong những năm tháng các em học tập ở nhà trường, cũng như suốt cuộc đời. Học Tiếng Việt, học phát âm theo đúng chuẩn hóa là để tiến tới yếu tố thành công đầu tiên của bất kì cuộc giao tiếp nào: Bên trong hay bên ngoài. Học Tiếng Việt chính là ta đã góp phần vào công cuộc bảo vệ và giữ gìn sự trọng sáng của ngôn ngữ dân tộc. Trang3 Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3 Người viết: Nguyễn Thị Tươi PHẦN II– THỰC TRẠNG ĐỀ TÀI I- THUẬN LỢI : - Mỗi chúng ta đều đã hiểu giao tiếp là hoạt động quan trọng để phát triển xã hội loài người. Có nhiều phương tiện giao tiếp trong đó ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất, cơ bản nhất. Giao tiếp là hoạt động tiếp xúc giữa các thành viên trong xã hội với nhau. Dùng ngôn ngữ để bày tỏ tư tưởng tình cảm, trao đổi ý kiến, kiến thức, nhận xét về xã hội, con người và thiên nhiên. Mỗi cuộc giao tiếp tối thiểu phải có 2 người và phải dùng cùng một ngôn ngữ nhất định. - Tiếng Việt được kế thừa một số từ tiếng Hán, lai căng một số tiếng nước ngoài, do vậy mà Tiếng Việt rất phong phú. Dân gian thường nói: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam.” Chính vì nó phức tạp như vậy nên người Việt sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt rất phong phú, đa dạng khi nói và viết. * Thực tế: Tiếng Việt nói chung là thống nhất. Nó tồn tại trong ý thức của mỗi người bản ngữ khi học viết đúng chính tả. Song thực tế Tiếng Việt được người Việt phát âm theo 3 vùng rõ rệt: Bắc, Trung, Nam. + Miền Bắc tiếng nói chuẩn tiêu biểu là người thủ đô Hà Nội. Còn lại một số địa phương phát âm lệch chuẩn ở các phụ âm đầu: s/x; tr/ch; r/d/gi; l/n. + Miền Nam tiếng nói chuẩn hướng đến cách phát âm của tiếng của người Thành phố Hồ Chí Minh. + Miền Trung hướng đến cách phát âm của hệ thống ngữ âm phù hợp với chữ viết. Song một số vùng miền Trung, Nam Bộ còn phát âm chưa rõ và lẫn một số vần: uôi/uôn; in/inh; en/eng...và thanh ?/~. II- KHÓ KHĂN: Trong Tiếng Việt, ở cùng một âm vị nhưng có nhiều cách viết khác nhau và cách phát âm cũng khác nhau. Ví dụ: r/d/gi; s/x; l/n. Trang4 Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3 Người viết: Nguyễn Thị Tươi Hai dạng ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết cần sử dụng triệt để bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Khi sử dụng 4 kỹ năng này thì hai kỹ năng: nghe, viết được giáo viên thực hiện tương đối tốt trong giao tiếp cũng như trong quá trình giảng dạy. Song hai kỹ năng còn lại là kỹ năng đọc và kỹ năng nói còn gặp nhiều khó khăn và bất cập. Do những nét dị biệt về phương ngữ, thổ ngữ có từ lâu đời nên một số người khi viết một âm vị biết cách phân biệt chữ viết và tuân theo đúng quy ước về chính tả với nhiều cách viết khác nhau. Song khi phát âm đọc và nói còn chưa phân biệt rõ các phụ âm của tiếng. Sự phát âm giống nhau l/n, biến vần rất phổ biến ở một số địa phương trong đó có khu vực huyện Mỹ Đức, nói riêng. Ví dụ: Khi nói: Bạn Long thành bạn Nong Lý ơi ! thành Ní ơi ! Cái chổi thành cái chủi Với kiểu phát âm như vậy khiến cho một số giáo viên cảm thấy mình không tự nhiên, mất tự tin, xấu hổ khi giao tiếp với người có giọng chuẩn mực. Trong giao tiếp kỹ năng đọc, nói cần phân biệt rõ l/n thì người nghe (ngôi thứ 2) mới tiếp nhận được thông tin một cách chính xác và hiểu được nội dung của người nói cần truyền đạt thông tin, tránh được tình trạng nhầm lẫn và hiểu sai vấn đề nghĩa của từ. Ví dụ: Khi phát âm vị sai dẫn đến hiểu nghĩa từ bị sai. N trong tiếng nắng chỉ ánh nắng hiểu thành tiếng lắng chỉ lắng nghe. N trong tiếng no chỉ no ấm thành tiếng lo chỉ lo âu. N trong tiếng nắm chỉ nắm tay thành tiếng lắm chỉ nhiều lắm hoặc ngược lại. Học sinh trường tôi nhiều em còn ngọng ở các dạng trên. Qua khảo sát học sinh đầu năm, lớp do tôi chủ nhiệm đạt được kết quả như sau: Chất lượng khảo sát đầu năm học 2009-2010 điểm đọc lớp 3D (30 em) đạt như sau: XẾP LOẠI Loại giỏi ĐIỂM 9 - 10 SỐ LƯỢNG 6 em Trang5 TỶ LỆ (%) 20 Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3 Người viết: Nguyễn Thị Tươi Loại khá Loại trung bình Loại yếu 7-8 5-6 9 em 30 33,3 10 em 3-4 5 em 16,7 Với kết quả trên, tôi thâý điểm đọc của các em còn thấp do các em còn đọc ngọng l/n nhiều. Chính vì vậy nên tôi quan tâm và tìm hiểu biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho bản thân và học sinh. Trang6 Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3 Người viết: Nguyễn Thị Tươi PHẦN III - NỘI DUNG ĐỀ TÀI * BIỆN PHÁP RÈN PHÁT ÂM ĐÚNG L/N: Do tiếng và tập tục địa phương từ nhiều năm phát âm lệch chuẩn, nhầm lẫn l/n và không có ý thức sửa chữa, tự sửa chữa. Cũng có thể do chúng ta một phần cũng chưa nắm chắc quy ước chung của Tiếng Việt và còn nhiều nguyên nhân khác nữa. Do vậy dẫn đến khi phát âm, khi viết còn nhầm lẫn nhiều ở một số người. Nguyên nhân do đâu mà nhiều nơi lại có nhiều người phát âm lệch chuẩn như vậy? Có người cho rằng tiếng nói ngọng do nguồn nước. Có người lại nói do thói quen người lớn dạy truyền miệng bi bô cho trẻ nhỏ không chú ý tới cách phát âm các chữ cái liên quan tới độ rộng, hẹp của miệng,… không rèn cho học sinh đọc đúng chính âm. - Tại địa bàn tôi sinh sống và giảng dạy, tôi tạm chia thành bốn đối tượng: + Một số người có tiếng nói chuẩn do họ không phải người địa phương tôi. + Một số người đi công tác nơi xa trong thời gian dài, họ đã tự sửa cách phát âm không còn bị ngọng nữa. + Một số người ở địa phương họ đã có ý thức sửa ngọng. + Còn lại là những người phát âm ngọng (phần đông là học sinh mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở.) a) Đối với giáo viên: Làm “mẫu” là một trong những biện pháp dạy học có tác dụng tốt ở Tiểu học nói chung. Trong việc rèn luyện đọc đúng l/n cho học sinh, việc đọc mẫu của giáo viên có một vai trò rất quan trọng. Khi đọc mẫu các bài và giảng bài cho học sinh, giáo viên phát âm đúng sẽ ảnh hưởng tốt tới cách đọc của học sinh rất nhiều. Bởi học sinh Tiểu học rất hay bắt chước giọng đọc, lời Trang7 Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3 Người viết: Nguyễn Thị Tươi nói của thầy cô giáo. Hơn nữa giọng đọc, ngôn ngữ, lời nói, của thầy cô là trực quan sinh động, cụ thể trong các giờ học. Việc đọc mẫu, lời nói, ngôn ngữ của giáo viên có tầm quan trọng như vậy nên khi đọc, nói, phát âm l/n tôi nghĩ giáo viên cần phải chú trọng và không phát âm sai l/n. Nhưng để có được giọng đọc chuẩn, phát âm đúng l/n là một quá trình giáo viên phải tự rèn luyện. Tự bản thân rèn luyện chưa đủ, tôi thường đưa vấn đề này ra đề nghị trong tổ sinh hoạt chuyên môn. Tổ chúng tôi gồm có 12 người. Trong đó có tới 3 người ( kể cả tôi ) còn ngọng l/n. Chúng tôi đã tổ chức thảo luận về phân biệt l/n; tr/ch; s/x;…và tìm cách khắc phục việc luyện phát âm l/n của bản thân và sửa lỗi chính tả cho học sinh. Những góp ý, ý kiến của đồng nghiệp đưa ra, chúng tôi đã tiếp thu, rèn luyện. Về phía nhà trường rất quan tâm tới vấn đề này. Dưới sự chỉ đạo của BGH, nhà trường đã đưa ra tiêu chí cần cho học sinh thi đọc với yêu cầu: Đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu cho từng lớp. Từ đó, mỗi giáo viên tự rút kinh nghiệm cho mình và có ý thức tự giác trong việc rèn đọc, sửa ngọng bằng cách: + Luyện đọc hàng ngày ở hai dạng: Đọc thành tiếng và đọc thầm ở các thể loại: Văn, thơ, truyện, tục ngữ và một số những câu thơ tự ghép dễ lẫn. Ví dụ: - Lúa nếp là lúa nếp làng Lúa lên lớp lớp lòng nàng lâng lâng… - Lên lớp là lúc lớn lên Lẽ nào lầm lẫn, luôn luôn lơ là… - Lấp lánh lửa chài - Sao hiện ra Mây bay lóng lánh cánh buồm xa. + Luyện đọc ở mọi lúc, mọi nơi: Luyện cách nói đúng để ứng xử trong các tình huống khác nhau, có nhấn giọng ở ngữ điệu, điệu bộ. Có thể luyện nói trong các cuộc đàm thoại, chào hỏi, gọi điện, phát biểu, giảng giải, phỏng vấn, Trang8 Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3 Người viết: Nguyễn Thị Tươi chủ trì nghi lễ, hát, gieo vần, ngâm thơ…chú ý cách nói thích hợp, lịch sự dùng ngôn ngữ phổ thông. Bây giờ, việc phát âm chuẩn l/n không còn là vấn đề nan giải, chúng tôi đã sửa ngọng được trong một thời gian nhất định b) Đối với học sinh: b1 – Ngay từ khi học sinh bước vào lớp 1, buổi đầu các em được làm quen bằng bảng chữ cái: a, ă, â, b, c, d, đ…Giáo viên cần chú ý dạy học sinh cách phát âm chuẩn mực. Cụ thể khi phát âm chú ý đến độ mở cửa miệng không quá rộng, đọc tròn tiếng: a, ă, â, bờ, cờ…chứ không được mở miệng quá rộng. Ví dụ : b ( bờ - ờ ); l ( lờ - ờ )… Cách đọc này đến khi nghe ghép vần tạo tiếng sẽ làm cho giọng của học sinh kéo dài, méo tiếng và ngọng nghịu, tiếng nói sẽ rất nặng. b2 – Sửa lỗi phát âm cho học sinh bằng biện pháp luyện theo mẫu. Giáo viên đưa ra trước học sinh cách phát âm chuẩn từ cần luyện để học sinh phát âm theo. b3 – Khi luyện l/n giáo viên giúp học sinh phân biệt: Phụ âm 1 Phụ âm n + Đặc điểm và cách đọc: + Đặc điểm và cách đọc: Phụ âm “l” là một phụ âm biên, vì khi Phụ âm “n” là một phụ âm tắc ở phát âm hơi thoát ra hai bên nhiều đầu lưỡi. Khi phát âm hơi bật qua hơn. Muốn phát âm đúng cần phải cả mũi và miệng. Muốn phát âm uốn lưỡi và đặt đầu lưỡi vào bên đúng cần phải đặt đầu lưỡi và lợi trong của lợi thuộc hàm trên. thuộc hàm trên cho sát chân răng Khi phát âm hơi cũng bị đẩy rất rồi mới phát âm. nhanh qua đầu lưỡi và thoát ra khỏi Chú ý khi phát âm không uốn lưỡi. miệng. Ví dụ: Trở nên Ví dụ: Đi lên Nước Việt Nam Tiến lên Ăn no Trang9 Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3 Người viết: Nguyễn Thị Tươi Lo lắng Nu na nu nống… Long lanh… b4 – Chúng ta phải trực quan hoá sự mô tả âm vị và hướng dẫn học sinh quan sát, tự ý kiểm tra xem mình đang phát âm nào? /n/ là một âm mũi, khi phát âm sờ tay vào mũi sẽ thấy mũi rung. Còn khi phát âm /l/ bằng cách bịt chặt mũi và đọc: la, lo, lô, lu…Khi bịt chặt mũi, học sinh không thể phát âm các tiếng: na, nô, nu… Khi cần luyện các âm cuối n/ l, giáo viên đọc tiếng “lan, hát” thì cần hướng dẫn học sinh quan sát vị trí của lưỡi khi đọc. Học sinh hay đọc nhầm thành tiếng lang, bác. Âm “Ng, c” lưỡi vẫn sát vào phần hàm dưới. Còn âm “n/ l” là những âm đầu lưỡi, chân răng. Khi đọc đúng tiếng “lan, hát” lưỡi phải đưa lên chạm vào hàm răng trên. b5 - Cần hướng dẫn học sinh vận dụng triệt để 4 đúng trong các giờ tập đọc: - Phát âm đúng. - Ngắt, nghỉ hơi đúng. - Đọc đúng từ. - Đọc đúng thanh điệu. Bất kỳ bài tập đọc, học thuộc lòng nào giáo viên cũng cần yêu cầu học sinh tìm ra những tiếng khó đọc, những tiếng, từ có chứa phụ âm l/n, những câu dài cần đọc đúng ngữ điệu… Giáo viên ghi phần tiếng, từ, câu khó cần luyện lên bảng (hoặc bảng phụ). Sau đó giáo viên đọc mẫu và yêu cầu học sinh đọc lại dưới các hình thức: cá nhân, nhóm (tổ) và cả lớp. * Các ví dụ khi học bài tập đọc thể loại văn xuôi: - Khi dạy bài tập đọc: “Cô giáo tí hon” trang 17 T.V3 tập 1. Tôi cho học sinh phát âm các từ : nón, ngọng líu, núng nính. Nhiều học sinh phần đọc vỡ còn ngọng l/n, thậm chí rất khó khăn khi đọc “ngọng líu”. Trang10 Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3 Người viết: Nguyễn Thị Tươi - Bài tập đọc: “Người mẹ” trang 29 T.V3 tập 1. Các từ học sinh được luyện phát âm là: lối nào, nảy lộc, lạnh lẽo. Từ có l/n đứng cạnh nhau như: lối nào, nảy lộc học sinh phần lớn đọc theo n hoặc l cả hai tiếng .Ví dụ như lối lào,nối nào. - Bài tập đọc: “Ở lại với chiến khu” trang 13 T.V3 tập 2. Học sinh được luyện đọc đúng, phát âm các từ : lúc lâu, lúc này, van lơn, lạnh tối. - Học sinh khi phát âm Tiếng Việt gặp l/n đã khó, còn ngọng khi đọc, phát âm tiếng phiên âm nước ngoài có l/n còn khó hơn. - Bài đọc thêm: “Người trí thức yêu nước” trang 28 T.V3 tập 2 có từ: Pêni-xi-lin. - Bài tập đọc: “Tiếng đàn” trang 54 T.V3 tập 2 có từ vi-ô-lông. * Các ví dụ khi học bài tập đọc thể loại thơ: - Đọc các bài thơ, khi đọc cần ngắt nhịp thơ sao cho đúng đã là khó. Vậy khi gặp l/n càng phải chú trọng phát âm chuẩn nếu không sẽ không diễn đạt được nội dung của bài thơ. Đọc từ ngọng dẫn đến nghĩa sai, nội dung sai. - Bài tập đọc: “ Bận” trang 59 T.V3 tập 1. Các từ học sinh luyện phát âm: làm lửa, cấy lúa, thổi nấu. Làm lửa: lửa có nghĩa là lửa cháy. Đọc ngọng lửa thành nửa: một nửa, làm một nửa có nghĩa là chưa xong. - Bài tập đọc: “Cái cầu” trang 34 T.V3 tập 2. Học sinh cần đọc chuẩn, phát âm đúng l/n kết hợp ngắt đúng nhịp thơ. Các từ có l/n cần phát âm là: chum nước, lá tre, lối. Câu thơ có từ “chum nước”: Nhện qua chum nước/ bắc cầu tơ nhỏ/. Ngắt nhịp như trên là đúng song cũng có trường hợp học sinh đã đọc ngọng: nước thành lước lại còn ngắt nhịp sai như : Nhện qua chum/ lước bắc cầu tơ nhỏ/. Trang11 Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3 Người viết: Nguyễn Thị Tươi Như vậy việc đọc đúng l/n còn phải chú trong đến các nhịp thơ sẽ đảm bảo được nội dung bài. Hay cũng trong bài thơ trên trong câu thơ : Yêu cái cầu tre lối sang bà ngoại. Nếu đọc “lối” thành “nối” thì nghĩa câu thơ sẽ thay đổi. Bởi “lối” có nghĩa là lối đi, đường đi sang bà ngoại. Còn “nối” có nghĩa là cái này nối cái kia (không chỉ đường đi). Qua thực tế giảng dạy tập đọc, khi dạy học sinh cần phát âm chuẩn l/n là cần thiết và rất quan trọng để đảm bảo được nội dung bài học. Luyện đọc thành tiếng không chỉ dừng lại ở việc luyện chính âm mà cần phải luyện đọc đúng ngữ điệu. Để tạo ra ngữ điệu cho học sinh phải làm chủ các thông số âm thanh của giọng. Tạo ra cường độ bằng cách điều khiển độ nhanh, chậm và chỗ ngắt nghỉ của lời. Tạo ra cao độ bằng cách kéo dài giọng hay không kéo dài. Đọc đúng từ phải trung thành với các từ ngữ của văn bản. Không đọc xuyên tạc, không đọc sai lệch từ ngữ . Có như vậy người nghe mới cảm thụ được nội dung nghệ thuật của tác giả gửi gắm. Học sinh đọc diễn cảm, đọc hay ngoài việc diễn đạt chuẩn nội dung nghệ thuật còn phải phát âm đúng, đặc biệt là n/l. b6 – Dạy học sinh hiểu nghĩa của từ vựng trong các giờ học chính tả. Luyện từ và câu giúp học sinh phân biệt rõ nghĩa và cách viết của một số cặp từ dễ lẫn trong khi nói và viết. Sau đây là một số ví dụ về những cặp từ : * Cặp từ: Lên – nên Lên Nên Động từ hay từ chỉ hoạt động là - Có khi thuộc loại động từ hoặc từ kết quả của hành động chuyển động chỉ hoạt động là kết quả của quá theo chiều hướng đi lên. trình hoạt động. VD : + Nói lên : Truyện Kiều nói lên VD : Anh ta đã nên người. nỗi khổ của người phụ nữ. + Thường là từ quan hệ + Trở lên : Từ trung bình trở Trang12 Vì thế…nên… Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3 Người viết: Nguyễn Thị Tươi lên. Sỡ dĩ…nên… + Đi lên : Bạn An đi lên bảng. * Cặp : Lộ - Nộ + Hoặc là yếu tố tạo thành ngữ : Gây nên, nên chăng, nên viết. Lộ Nô + Từ Hán Việt lộ là con đường + Từ Hán Việt : động từ, nghĩa là VD : Lộ trình, lộ phí, xa lộ. giận. + Lộ còn có nghĩa là bày ra ngoài. VD : Nộ khí, phẫn nộ. VD : Lộ diện.  Cặp : Lội - Nội Lội Nội + Là từ chỉ hoạtđộng. + Từ Hán Việt VD : Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ (1) Chỉ họ về đằng cha VD: Quê nội, họ nội ... non. (2) Có nghĩa trong : bề trong, bên ( Tố Hữu ) trong ...  VD: Nội thành Hà Nội. Cặp: Lắng - Nắng Lắng + Là từ chỉ trạng thái ( hoạt động ) Nắng VD: Em ơi, hãy lắng nghe + Là từ chỉ sự vật  VD: Nắng xuống, trời lên sâu chót Cặp : Lặng - Nặng vót. Lặng ( Huy Cận ) + Từ chỉ trạng thái. VD : Lặng nghe mẹ kể ngày xưa… ( Tố Hữu )  Cặp : Lắp - Nắp Lắp + Từ chỉ trạng thái hoạt động Nặng + Từ chỉ mức độ. VD: Nặng như chì ( thơ ca dân gian ) Nắp + Từ chỉ sự vật Trang13 Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3 Người viết: Nguyễn Thị Tươi VD : nói lắp, lắp máy….  VD: Nắp xoong, nắp chai… Cặp : Lấy - nấy Lấy Nấy + Từ chỉ hành động + Là phụ từ sóng đôi VD : Con trai lấy vợ, con gái lấy VD: Tôi bảo gì nó nghe nấy chồng.  Cặp : Lạt - nạt Nạt Lạt + Từ chỉ hành động + Là từ chỉ sự vật VD: Nịnh trên nạt dưới là bản chất VD : Lạt mềm buộc chặt của bọn địa chủ cường hào. ( Thành ngữ )  Cặp : Lắm - Nắm Nắm (1) Là từ chỉ hoạt động Lắm + Là phụ từ chỉ mức độ VD : Đẹp lắm Nhiều lắm VD: Nắm tay lại… (2) Là từ chỉ đơn vị VD: Sương mai một nắm hao gầy. ( Tản Đà ) 7 - Ở lớp 3, một tuần học sinh được học 1 tiết hoạt động tập thể theo các chủ đề. Trong các tiết học này, học sinh được thể hiện năng khiếu như: hát, ngâm thơ, đọc thơ, kể chuyện, vẽ tranh…theo chủ đề dưới sự hướng dẫn của giáo viên chủ nhiệm. Đây là “sân chơi” tốt của học sinh để giáo viên có thể luyện phát âm l/n. Sau đây là một số ví dụ cụ thể: - Học chủ đề: “Thi đua viết, vẽ, văn nghệ chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11”. Câu hỏi học sinh được bốc thăm trả lời là: Trang14 Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3 Người viết: Nguyễn Thị Tươi + Em hãy tìm 3 từ chỉ sự chăm sóc, ân cần của giáo viên đối với học sinh có tiếng mang âm l hoặc n rồi đọc 3 từ đó ? ( Từ : nâng niu, chăm lo, uốn nắn ). + Kể một câu chuyện về tình thương yêu học trò của thầy cô. + Hát một bài hát về thầy cô giáo. + Đọc một bài thơ về thầy cô. …v…v… Khi học sinh hát, kể chuyện, đọc thơ, ngâm thơ , giáo viên phát hiện được các tiếng, các từ có l/n học sinh phát âm còn ngọng, kịp thời uốn nắn cho học sinh. - Học chủ đề : “Biểu diễn văn nghệ, làm bưu thiếp mừng mẹ mừng cô nhân ngày 8 -3”. + Hát một bài hát tặng mẹ tặng cô. + Hãy nói nội dung của bưu thiếp em vừa làm tặng mẹ tặng cô. + Thi hùng biện ( từ 5 -7 câu ) nói về mẹ. Có thể nói dưới “sân chơi” này, học sinh tham gia hào hứng, tích cực. Giáo viên càng có điều kiện tốt để sửa ngọng l/n và phát hiện ra những học sinh có năng khiếu. Hoạt động tập thể thật bổ ích, các em vừa được học vừa được chơi, bộc lộ mặt mạnh. Đây cũng là một biện pháp để giáo viên giúp học sinh rèn luyện đọc đúng l/n. b8 - Hướng dẫn học sinh nhớ một số quy tắc sau khi viết chính tả : - N không (hoặc ít) kết hợp với âm đệm (chỉ có thể là : noãn) nhưng L lại kết hợp được (loè loẹt, lở loét, loà xoà, loang lổ, loắt choắt, luẩn quẩn, liên luỵ, luyến tiếc...) - N xuất hiện trong các từ láy âm ( no nê, nóng nảy, nao núng,...). L xuất hiện trong các từ láy vần (lệt bệt, lõm bõm, lộp bộp, lờ đờ, lai rai, lim dim, lơ mơ, lanh chanh, lao xao, lạo xạo…) b9 - Trong lớp học cần xây dựng đôi bạn cùng tiến vì “học thày không tày học bạn” : Các em đọc chuẩn l/n giúp đỡ học sinh còn ngọng l/n. Các em Trang15 Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3 Người viết: Nguyễn Thị Tươi sẽ giúp đỡ nhau trong giờ học tập đọc như đọc đồng thanh, đọc trong nhóm (nhóm đôi). Các em luôn luôn ghi nhớ sửa cho bạn khi bạn đọc còn ngọng. Nếu sửa chưa được, giờ ra chơi các em cùng ngồi đọc lại đến khi nào sửa được mới thôi. Dần dần các em đọc ngọng có ý thức hơn khi đọc, nói, viết có l/n. Ví dụ: Lớp tôi có các đôi bạn cùng tiến như: Phương Mai - Văn Hiếu; Ngân Hà - Thế Anh; Thu Phương - Quốc Thắng; … b10 – Giáo viên giao phiếu bài tập gồm các tiếng, từ, các câu thơ, câu văn có l/n cho học sinh đọc còn ngọng về nhà tập phát âm . VD: - Nổi lên, lên lớp, năng nổ - Trách lòng hờ hững với lòng Lửa hương luống để lạnh lùng bấy lâu (Truyện Kiều ) - Anh nuôi làm lụng bên bếp lửa, vừa nấu vừa nếm hết nửa nồi. Giáo viên yêu cầu : Mỗi tối các em tập đọc 5 đến 10 lần dưới sự kiểm tra của phụ huynh. b11 – Giáo viên cần động viên kịp thời đối với các em tiến bộ bằng cách kiểm tra các em (dành một vài phút ở tiết HDH) có khen bằng lời để động viên hoặc thưởng bằng phần thưởng nhỏ như bút chì, tẩy hoặc giấy màu, giấy vẽ. Ví dụ: Tháng 9, em Trung Anh được động viên nhận phần thưởng nhỏ. Em Quốc Huy, Thu Hương có tiến bộ song chỉ ở mức độ khen bằng lời. Tháng 10, 11, 12, các em được nhận thưởng là em Thanh Phong, Quốc Thái và Minh Hiếu. Tháng 3, 4 còn lại hai em là Văn Hiếu và Thu Hà vẫn còn nhầm lẫn khi phát âm l/n . Tuy nhiên, các em đã có cố gắng nhiều so với đầu năm nên thường nhận được lời động viên. c) Đối với phụ huynh: Trang16 Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3 Người viết: Nguyễn Thị Tươi Để học sinh tiến bộ tất cả mọi mặt, nhà trường cần kết hợp chặt chẽ với gia đình. Việc rèn luyện phát âm l/n cũng như vậy. Giáo viên giao bài tập cho học sinh đọc còn ngọng, luyện đọc ở nhà phải có sự giám sát của gia đình. Các em học sinh được sự đôn đốc của phụ huynh sẽ tiến bộ rõ rệt. Phụ huynh và giáo viên kết hợp chặt chẽ trao đổi, góp ý, tháo gỡ những vướng mắc là biện pháp giúp học sinh đọc đúng l/n. Ngoài ra còn giúp học sinh học tập tốt, rèn ý thức tốt. VD: Em Nguyễn Thế Anh lớp tôi còn đọc ngọng l/n. Em thường đọc tất cả các từ, tiếng, chữ có l/n thành “lờ”. Luyện đọc phát âm cho em gặp nhiều khó khăn. Gặp gỡ phụ huynh, tôi được biết cả nhà em đều nói ngọng khi gặp l/n. Do vậy khi tiếp xúc với người trong gia đình em cũng đọc và nói theo như vậy. Hơn nữa, em chưa tự giác luyện đọc ở nhà. Việc kiểm tra em luyện phát âm l/n ở nhà phụ huynh gặp nhiều khó khăn. Như vậy là mẹ và cô đều cố gắng giúp Thế Anh vượt qua. Mẹ em Thế Anh tiên phong luyện đọc đúng l/n. Tôi đã hướng dẫn mẹ em cách phát âm l/n, đọc đúng l/n. Sau một thời gian, trên lớp có cô giáo và các bạn sửa, ở nhà có mẹ giúp đỡ, Thế Anh có tiến bộ rõ rệt khi phát âm l/n. Cuối năm, bài kiểm tra đọc của Thế Anh đã đạt điểm khá. Vậy việc kết hợp giữa gia đình và nhà trường giữ một vai trò quan trọng. Để học sinh tiến bộ, chúng ta cần phối hợp nhịp nhàng, ăn ý cùng nhau góp ý, động viên kịp thời, chắc chắn các em sẽ đạt được những điều phụ huynh và giáo viên mong muốn. Trang17 Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3 Người viết: Nguyễn Thị Tươi PHẦN IV – KẾT QUẢ Sau một thời gian chú ý luyện phát âm và sửa ngọng l/n tôi thấy bản thân tự tin và mạnh dạn hơn trong giao tiếp. Do kết hợp nhiều biện pháp sửa giọng l/n cho học sinh nên các em học sinh đã tiến bộ nhiều. Tôi thường xuyên rèn sửa giọng cho các em hằng ngày trong các giờ tập đọc, chính tả, luyện từ và câu, tập viết, kể chuyện, luyện nói trong giờ học tập làm văn và luyện đọc diễn cảm trong các giờ tự học. Tôi thấy chất lượng đọc đúng, đọc hay, ít bị ngọng được nâng cao dần. Cụ thể : Chất lượng giữa kì I (Năm học 2009-2010) điểm đọc lớp 3D (30 em ) đạt như sau: XẾP LOẠI ĐIỂM SỐ LƯỢNG TỶ LỆ (%) Loại giỏi Loại khá Loại trung bình 9 - 10 7-8 5-6 7 em 10 em 11 em 23,3 33,3 36,7 Loại yếu 3-4 2 em 6,7 SỐ LƯỢNG 10 em 10 em 9 em 1 em TỶ LỆ (%) 33,3 33,3 30 3,4 Chất lượng cuối kỳ I đạt được : XẾP LOẠI Loại giỏi Loại khá Loại trung bình Loại yếu ĐIỂM 9 - 10 7- 8 5-6 3-4 Chất lượng phần đọc môn Tiếng Việt giữa kỳ II đạt : Trang18 Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3 Người viết: Nguyễn Thị Tươi XẾP LOẠI Loại giỏi Loại khá Loại trung bình Loại yếu ĐIỂM 9 - 10 7-8 5-6 3-4 SỐ LƯỢNG 15 em 11 em 4 em 0 em TỶ LỆ (%) 50 36,7 13,3 0 Chất lượng phần đọc môn Tiếng Việt cuối năm đạt : XẾP LOẠI ĐIỂM SỐ LƯỢNG TỶ LỆ (%) Loại giỏi Loại khá Loại trung bình Loại yếu 9 - 10 7-8 5- 6 3-4 37 em 8 em 1 em 0 em 80.4 17.3 2.1 0 Nhìn vào tỷ lệ qua các đợt khảo sát trên tôi thấy số lượng học sinh đọc đúng, đọc hay thể hiện qua các điểm giỏi, khá tăng dần. Giảm tỷ lệ điểm 5 – 6 và điểm 3 – 4 không còn. Nhìn chung các em đọc to, rõ, tròn tiếng, đúng tốc độ quy định ở lớp 3 là KT giữa kì I là 55 tiếng/phút, cuối học kì I là 60 tiếng/ phút. Giữa kì II là 65 tiếng/ phút, cuối kì 2 là 70 tiếng/phút. Một số em có giọng đọc hay truyền cảm, hấp dẫn thu hút người nghe. Đặc biệt các em đọc rất chuẩn từ có l/n. Khi gặp các tiếng khó, các em rất tự tin khi giao tiếp, nói chuyện, kể chuyện ngâm thơ, đọc thơ… Khi tham gia thi kể chuyện về Bác Hồ do trường tổ chức Phạm Ngọc Anh lớp tôi đã đạt giải nhì. Ngoài giọng kể ấm, cảm xúc em thể hiện giọng của Bác Hồ tương đối thành công và phát âm chuẩn l/n. Một số em còn có giọng đọc hay, rất truyền cảm, tự tin khi đọc bài. PHẦN V – BÀI HỌC KINH NGHIỆM Tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất. Chính tả Tiếng Việt căn bản là thống nhất. Tuy nhiên, Tiếng Việt có nhiều phương ngữ, thổ ngữ nên bên cạnh tính thống nhất là Trang19 Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3 Người viết: Nguyễn Thị Tươi chủ đạo của nó còn có những nét dị biệt khá rõ trong cách phát âm của ba miền : Bắc – Trung – Nam. Mặc khác là do một đặc điểm “ rất đặc biệt” người dân sinh sống ở Phùng Xá phát âm “l”, “n” còn bị ngọng nhiều. Theo tôi muốn thực hiện được một cách có hiệu quả việc phát âm chuẩn l/n cần : + Một là : Đòi hỏi chúng ta phải kiên trì, tỉ mỉ, không nôn nóng trong rèn luyện và luyện tập phát âm. + Hai là : Phải chú ý rèn luyện để thực hiện 4 đúng : Phát âm đúng, ngắt, nghỉ hơi đúng, đọc đúng thanh điệu và đọc đúng từ. + Ba là : Phải luôn có ý thức rèn đọc, nói trong giao tiếp các tiếng chứa phụ âm l/n. + Bốn là : Phải nhớ nghĩa của từ, “mẹo” ở mặt chữ viết để viết đúng chính tả Tiếng Việt. Có như vậy thì việc đọc của chúng ta mới thực sự chuẩn mực, đúng và có sức hấp dẫn. Tạo tiền đề vững chắc cho học sinh học tốt môn ngoại ngữ và các môn học khác. PHẦN VI - ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG ĐỀ TÀI Với đề tài trên, mỗi giáo viên chúng ta đều có thể áp dụng rộng rãi ở tất cả các lớp. Đặc biệt là lớp đầu cấp lớp 1 cần được quan tâm tuyệt đối. Ngoài ra, đề tài còn được áp dụng ngoài xã hội đối với tất cả mọi người không kể Trang20
- Xem thêm -