Skkn một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11a2 trường thpt quan sơn 2

  • Số trang: 21 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

Một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11A2 ở trường THPT Quan sơn 2 PHẦN I: MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài: Trong trường THPT việc viết các bài văn có vai trò rất quan trọng. Các bài viết văn không chỉ đánh giá học sinh về mặt điểm số mà còn rèn luyện tính kiên nhẫn, cách nói năng, bồi dưỡng tâm hồn cho học sinh. Một thực tế hiện nay ở các trường học, nhiều học sinh lơ là trong việc rèn luyện kĩ năng làm văn dẫn đến chất lượng bài làm văn của học sinh ngày càng bị giảm sút. Tình trạng phổ biến là học sinh yếu kĩ năng làm văn đặc biệt là ở các trường nằm ở vùng sâu, vùng xa như trường THPT Quan Sơn 2. Hầu hết học sinh mắc lỗi trong việc viết văn từ một đoạn văn ngắn cho đến một bài văn hoàn chỉnh. Giáo viên giảng dạy Ngữ văn trong trường THPT đã có cố gắng trong việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh nhưng kết quả vẫn chưa được như mong đợi. Vậy để làm gì có thể củng cố, rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh? Người viết xin đưa ra một số kinh nghiệm mình đã tích lũy được qua quá trình dạy học môn Ngữ văn ở lớp 11A2 nói riêng và một số lớp khác đã dạy ở trường THPT Quan Sơn 2 nói chung qua đề tài “Một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11A2 ở trường THPT Quan Sơn 2” 2. Mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của đề tài: Chỉ ra các lỗi về kĩ năng chủ yếu mà học sinh thường mắc phải trong quá trình làm bài và đưa ra một số biện pháp khắc phục những lỗi đó. 3. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 11A2 trường THPT Quan Sơn 2 4. Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện đề tài này người viết sử dụng một số phương pháp au vào nghiên cứu: quan sát, phát vấn, điều tra và thể nghiệm bằng bài giảng. 5. Giới hạn đề tài: Những bài kiểm tra làm văn của học sinh lớp 11A2 trường THPT Quan Sơn 2. Giáo viên: Lương Văn Duyên 1 Trường THPT Quan Sơn 2 – Thanh Hóa Một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11A2 ở trường THPT Quan sơn 2 PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI: 1. Vai trò của các bài viết văn trong trường THPT. Văn chương vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, là lĩnh vực để con người hóa thân và thăng hoa. Văn học là sự khúc xạ hiện thực đời sống của con người, nó có ba giá trị cơ bản: Nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ, các gía trị của văn học chỉ được thực hiện qua quá trình tiếp nhận với các cấp độ khác nhau. Vì vậy cảm thụ và tiếp nhận văn học đòi hỏi phải có sự tinh tế. Việc đọc hiểu văn bản là những thao tác đầu tiên của hình thức tập dượt nghiên cứu văn học. Nghiên cứu văn học là để hiểu văn học, đối tượng cụ thể là tác phẩm văn học. “Cơ sở và xuất phát điểm của khoa học văn học là sự đối thoại với các văn bản văn học thông qua hoạt động đọc và hiểu chúng”. Đây cũng là vấn đề được tác giả Trần Đình Sử quan tâm, theo đuổi khá lâu. Cùng với các bộ môn khác góp phần hình thành nhân cách học sinh, môn văn trong trường phổ thông có tầm quan trọng đặc biệt, tác động trực tiếp đến phẩm chất, tư tưởng tình cảm học sinh. Một bài thơ hay, một trích đoạn đặc sắc khắc họa sinh động hình tượng nhân vật, sẽ tác động đến tâm hồn và thái độ sống của học sinh. Dạy văn là một hoạt động thuộc phạm trù nghệ thuật, khám phá và chuyển tải cái hay, cái đẹp từ tác phẩm đến học sinh. Mỗi tác phẩm, tùy thể loại, được tuyển chọn trong chương trình sách giáo khoa đều toát lên vẻ đẹp riêng.Tác phẩm văn học mang đặc trưng riêng của cấu trúc tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Đó là một chỉnh thể bao gồm các thành tố: Nhà văn – tác phẩm – bạn đọc tương tác với nhau. Nội dung thẩm mĩ của tác phẩm văn học gắn liền với tầm đón nhận của người đọc. Tiếp nhận văn học tức là đọc hiểu để biến văn bản thành một thế giới hình tượng sinh động và nắm bắt được ý nghĩa của nó. Cùng với quá trình đọc hiểu văn bản, học sinh còn phải viết các bài làm văn theo quy định của phân phối chương trình. Việc viết bài của học sinh không chỉ kiểm tra xem các em lĩnh hội kiến thức, khả năng cảm nhận văn chương mà còn rèn khả năng ngôn ngữ, cách diễn đạt, cách giao tiếp ứng xử. Qua đó giúp giáo viên đánh giá toàn Giáo viên: Lương Văn Duyên 2 Trường THPT Quan Sơn 2 – Thanh Hóa Một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11A2 ở trường THPT Quan sơn 2 diện hơn năng lực của từng học sinh và đưa ra cách giảng dạy phù hợp. Như vậy, trong trường phổ thông các bài làm văn giữ vị trí hết sức quan trọng. 2. Những yêu cầu của một bài văn đúng và hay: 2.1 Trước khi làm bài học sinh phải xác định được phần tìm hiểu đề: Xác định trọng tâm nội dung của đề (luận đề) Xác định được các luận điểm, luận cứ Xác định các thao tác lập luận cơ bản của đề cần triển khai trong bài viết Xác định phạm vi tư liệu 2.2 Lập dàn ý: Việc lập dàn ý giúp người viết bao quát được vấn đề, đảm bảo được tính hệ thống của lập luận, tính cân đối của bài viết, xác định được mức độ trình bày mỗi ý, từ đó phân bố thời gian hợp lí. Lập dàn ý tốt, viết sẽ dễ dàng hơn, nhanh hơn, hay hơn nhờ biết lựa chọn đúng cách diễn đạt, cách trình bày bài viết. Dàn ý gồm cấu trúc 3 phần: a. Mở bài: Có vai trò quan trọng đối với một bài văn. Mở bài đúng và hay sẽ khai thông được mạch văn. Để có được mở bài hay, cần nêu trọng tâm và phạm vi vấn đề sẽ bàn bạc một cách ngắn gọn, viết tự nhiên, khúc chiết và mới mẻ. b. Thân bài: Có nhiệm vụ làm sáng tỏ vấn đề mà mở bài đã nêu. Thân bài gồm nhiều đoạn. Giữa các đoạn có câu hoặc từ chuyển tiếp. c. Kết bài: Là phần kết thúc bài viết. Tổng kết, thâu tóm lại vấn đề đã đặt ra ở mở bài và giải quyết ở thân bài. Một kết bài hay không chỉ làm nhiệm vụ “gói lại” mà còn phải khơi gợi suy nghĩ trong người đọc. 2.3 Trình bày dẫn chứng trong bài văn nghị luận: a. Yêu cầu: khi sử dụng dẫn chứng phải nắm chắc nguyên tắc: lập luận bao giờ cũng quyết định dẫn chứng, dẫn chứng phải vừa đủ, không thừa, không thiếu, không quá dài. b. Phương pháp lựa chọn dẫn chứng: dẫn chứng phải phù hợp với lời văn, song song với hệ thống ý. Giáo viên: Lương Văn Duyên 3 Trường THPT Quan Sơn 2 – Thanh Hóa Một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11A2 ở trường THPT Quan sơn 2 c. Cách sử dụng dẫn chứng: Cách 1: Đưa dẫn chứng thành câu văn riêng biệt và trích xuống dòng, thường được dùng cho những câu thơ, câu văn hay. Cách 2: Dùng một số chữ đặt ở trong câu văn Cách 3:Tóm tắt dẫn chứng thành lời văn của mình. 2.4 Chuyển ý trong văn nghị luận: a. Nhiệm vụ: Đảm bảo bài văn có tính liên tục, chuyển ý phát triển tự nhiên. Xác định mối quan hệ chặt chẽ giữa các ý tạo nên bài văn. b. Cách chuyển ý: Cách 1: Chuyển ý bằng cách dùng các kết từ Cách 2: Chuyển ý bằng câu. Nên chuyển ý linh hoạt để tạo sự hấp dẫn cho bài viết. 2.5 Hành văn trong văn nghị luận: a. Khái niệm: Hành văn là cách diễn đạt ý ( ý lớn, ý nhỏ), những cảm xúc, suy nghĩ thành lời văn của người viết. b. Cách hành văn: Chuẩn xác: Yêu cầu này được hiểu là phản ánh đúng tính chất, ý nghĩa của đối tượng nghị luận. Truyền cảm: Để có tính truyền cảm câu văn phải có tính chất triết lí tạo nên tính suy ngẫm và tính tư tưởng sâu sắc trong bài. Người viết phải tạo ra những câu văn giàu hình ảnh; giàu cảm xúc; có giọng điệu, nhịp điệu… Giáo viên: Lương Văn Duyên 4 Trường THPT Quan Sơn 2 – Thanh Hóa Một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11A2 ở trường THPT Quan sơn 2 CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN I. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ 1. Thực trạng viết văn của học sinh hiện nay: Hiện nay, tình trạng học sinh các cấp viết sai lỗi chính tả, dùng sai từ, ngữ pháp đang lên đến mức báo động. Thực trạng này không chỉ xảy ra ở học sinh các cấp dưới mà thậm chí ngay cả sinh viên bậc đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp cũng mắc phải. Vậy do đâu mà có tình trạng trên? Trước hết là do chính bản thân học sinh các cấp lười học, lười đọc sách báo, thiếu ý thức rèn luyện ngôn ngữ tiếng Việt nên kiến thức và khả năng vận dụng ngôn từ của các em còn yếu kém, mắc nhiều lỗi về chữ nghĩa. Có không ít học sinh khi kiểm tra đã quá ỷ lại vào sách hướng dẫn, sách học tốt mà chép y nguyên đáp án, lời giải vào bài kiểm tra nên không phát huy được tính tích cực của mình, khi tự viết một bài tập làm văn thì mắc rất nhiều lỗi về chính tả, ngữ pháp. Một nguyên nhân nữa dẫn đến tình trạng này là do sự chủ quan, lơ là trong việc rèn luyện kỹ năng viết chính tả của một số thầy, cô giáo khi không dành thời gian để sửa lỗi chính tả, ngữ pháp cho học sinh, lúc chấm bài chỉ phê rất chung chung như: Bài viết sơ sài, câu văn lủng củng,… nên khi học sinh xem bài thì không hề biết mình mắc những lỗi gì cụ thể. 2. Các lỗi thường gặp trong viết văn của học sinh lớp 11A2 THPT Quan Sơn 2 2.1. Lỗi chính tả: Cũng giống như rất nhiều học sinh trên cả nước, học sinh lớp 11A2 THPT Quan Sơn 2 cũng viết sai chính tả rất nhiều. Cụ thể các em mắc những lối sau: a. Lỗi viết hoa. Lỗi viết hoa là một trong những loại lỗi chính tả xuất hiện rất nhiều trong bài viết của học sinh. Lỗi viết hoa bao gồm hai kiểu lỗi nhỏ : viết hoa sai quy định chính tả và viết hoa tùy tiện. Giáo viên: Lương Văn Duyên 5 Trường THPT Quan Sơn 2 – Thanh Hóa Một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11A2 ở trường THPT Quan sơn 2 Viết hoa sai quy định chính tả : Viết hoa sai quy định chính tả là viết hoa hay không viết hoa theo đúng quy định chính tả về viết hoa. Chẳng hạn như học sinh không viết hoa chữ cái mở đầu bài viết, đoạn văn, không viết hoa sau dấu chấm (.),dấu chấm hỏi (?), dấu chấm than (!), dấu chấm lửng hết câu (...), hay vi phạm các quy định về cách viết hoa các loại tên riêng. Ví dụ: Vũ trọng Phụng, Phan bội Châu, Nam cao, Vũ đại, Tố như, chị út Tịch, chí Phèo, tác phẩm người mẹ cầm súng, cách mạng tháng 8, cách mạng tháng 10... Lẽ ra theo quy định chính tả học sinh phải viết: Vũ Trọng Phụng, Phan Bội Châu, Tố Như, Chị Út Tịch; tác phẩm Chí Phèo, Người mẹ cầm súng, Cách mạng tháng Tám, Cách mạng tháng Mười… Viết hoa tùy tiện: Viết hoa tùy tiện là viết hoa những đơn vị từ vựng bình thường, không nằm trong quy định về chính tả viết hoa. Ví dụ: Nguyễn Đình Chiểu là Nhà thơ nổi tiếng của Văn học Việt Nam, Chế độ Phong kiến tàn ác… Lỗi viết hoa là lỗi thông thường, dễ tránh, dễ khắc phục nhưng học sinh THPT vẫn mắc phải và điều đó được thể hiện rõ ở lớp 11A2 trường THPT Quan Sơn 2. b. Lỗi viết tắt: Lỗi viết tắt xuất hiện trong bài viết của học sinh ít hơn so với lỗi viết hoa. Tuy nhiên trong việc rèn luyện chính tả cho học sinh, lỗi viết tắt cũng cần được lưu ý đến. Thông thường, lỗi viết tắt bao gồm hai kiểu lỗi nhỏ: Viết tăt sai quy định chính tả và viết tắt tùy tiện. Viết tắt sai quy định chính tả: Viết tắt sai quy định chính tả là viết tắt không theo đúng quy định chính tả về viết tắt. Chẳng hạn như các em dùng mẫu chữ thường, dùng dấu chấm hay dấu gạch chéo giữa các chữ cái viết tắt… Ví dụ: P/V, đ/c, T.P, H.Đ.N.D… Giáo viên: Lương Văn Duyên 6 Trường THPT Quan Sơn 2 – Thanh Hóa Một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11A2 ở trường THPT Quan sơn 2 Lẽ ra theo quy định chính tả phải viết: PV, ĐC, TP, HĐND (phóng viên, đồng chí, thành phố, hội đồng nhân dân). Ví dụ: Trường P.T.T.H.Q.S (Trường trung học phổ thông Quan Sơn). Viết tắt tùy tiện: Viết tắt tùy tiện là dùng các kí hiệu viết tắt mang tính chất cá nhân vào bài viết. Đây là các kí hiệu bằng chữ viết Việt Nam hay chữ viết nước ngoài, được chế biến lại, lẽ ra chỉ được dùng khi ghi chép, nhưng học sinh lại đưa vào bài kiểm tra, bài thi, do đó trở thành lỗi chính tả. Ví dụ : (ta (người ta), (vật (nhân vật), ((nhấn), ((nhận), ((sau), ((trước), ((trên), ((dưới), ((trong), (những), ...(nhưng), fê fán (phê phán), ffáp (phương pháp), tình thg (tình thương), fg tiện (phương tiện), ndung (nội dung), hthức (hình thức), chnghĩa (chủ nghĩa)… Hiện tượng viết tắt tùy tiện rất dễ khắc phục nếu như học sinh có ý thức tránh loại lỗi chính tả này khi làm bài thi, kiểm tra. c. Lỗi dùng số và biểu thị số: Kiểu lỗi chính tả này có hai biểu hiện chính: Lẫn lộn giữa hai loại số và lẫn lộn giữa số và chữ biểu thị số. Lẫn lộn hai loại số: Trong bài viết có những trường hợp học sinh phải biểu đạt bằng số, chẳng hạn như khi đề cập đến ngày, tháng, năm, thế kỉ… Theo quy định chính tả, tùy trường hợp mà dùng số Ả Rập hay còn gọi là số thường (1,2,3…), hay số La Mã (I, II, III…). Do không nắm được quy định chính tả, nên học sinh thường sử dụng lẫn lộn hai loại số. Ví dụ: Thế kỉ 20, Đại hội Đảng lần 6. Lẽ ra theo quy định chính tả, ở những hợp này phải viết bằng số La Mã mới đúng (Thế kỉ XX, Đại hội Đảng lần thứ VI). Lẫn lộn số và chữ biểu thị số: Do không nắm rõ quy định chính tả và do viết theo thói quen, học sinh dễ lẫn lộn giữa số và chữ biểu thị số trong rất nhiều trường hợp. Giáo viên: Lương Văn Duyên 7 Trường THPT Quan Sơn 2 – Thanh Hóa Một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11A2 ở trường THPT Quan sơn 2 Ví dụ: Ngày ba, tháng hai, năm một ngàn chín trăm ba mươi; 1 đám tang; 3 đứa con thơ dại; 1 cuộc sống, đẹp I… Theo quy định chính tả phải viết: Ngày 3 tháng 2 năm 1930; một đám tang; ba đứa con thơ dại, một cuộc sống, đẹp nhất… So với hiện tượng lẫn lộn hai loại số, hiện tượng lẫn lộn số và chữ biểu thị số xuất hiện trong bài viết của học sinh nhiều hơn. Tuy nhiên, cả hai lỗi sai này cũng dễ tránh, nếu như học sinh nắm được quy định chính tả về việc dùng số và chữ biểu thị số. Lỗi chính tả âm vị: Lỗi chính tả âm vị là hiện tượng vi phạm diện mạo ngữ âm của từ biểu hiện trên chữ viết. Nó đơn giản hơn, đó là hiện tượng chữ viết khi sai từ. Dựa vào cấu trúc của âm tiết tiếng Việt, có thể chia lỗi chính tả âm vị tiếng Việt thành hai loại nhỏ: Lỗi chính tả âm vị siêu đoạn tính và lỗi chính tả âm vị đoạn tính. Lỗi chính tả âm vị siêu đoạn tính: Âm vị siêu đoạn tính là loại âm vị không được định vị trên tuyến thời gian khi phát âm, mà được thể hiện lồng vào các âm vị đoạn tính. Trong âm tiết tiếng Việt, thanh điệu là âm vị siêu đoạn tính. Lỗi chính tả âm vị siêu đoạn tính là hiện tượng chữ viết ghi sai thanh điệu của âm tiết. Tiếng Việt có tất cả sáu thanh điệu: sắc, hỏi, ngã, nặng, huyền và thanh không dấu. Hiện tượng ghi sai thanh điệu chỉ xảy ra ở hai thanh hỏi, ngã. Trong bài viết của học sinh lớp 11A2 mà người viết đã khảo sát, kiểu lỗi này xuất hiện khá nhiều. Thậm chí chép đề cũng sai dấu hỏi, ngã như: Gố, đá làm… đúng ra là: Gỗ, đã làm… Nguyễn Trãi các em viết là Nguyễn Trái. Lỗi chính tả âm vị đoạn tính: Âm vị đoạn tính là các âm vị được phân bố nối tiếp nhau trên tuyến thời gian khi phát âm. Trong âm tiết tiếng Việt, âm vị đoạn tính gồm có phụ âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối / bán âm cuối. Lỗi chính tả âm vị đoạn tính là hiện tượng chữ viết ghi sai các âm vị vừa nêu. Cụ thể là: Giáo viên: Lương Văn Duyên 8 Trường THPT Quan Sơn 2 – Thanh Hóa Một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11A2 ở trường THPT Quan sơn 2 Ghi sai phụ âm đầu: Hiện tượng ghi sai phụ âm đầu trong bài viết của hoc sinh thường thể hiện ở sự lẫn lộn các chữ cái hay các tổ hợp chữ cái ghi phụ âm đầu sau đây: - ch / tr: chung thành (đúng ra là trung thành), chống chả(chống trả)… - s / x: sương máu (xương máu), xum họp (sum họp), sâu sa (sâu xa)… - gi / d: thúc dục (thúc giục), dan dối (gian dối), dành lại (giành lại)… - g (gh) / r: ranh tị (ghen tị), hàn rắn (hàn gắn), đói ghét (đói rét)… Ghi sai âm đệm: Trong âm tiết tiếng Việt, âm đệm /-u-/ phân bố sau phụ âm đầu, được ghi bằng hai chữ cái u và o, tùy trường hợp. Trong bài kiểm tra của học sinh hiện tượng ghi sai âm đệm thường có biểu hiện thiếu chữ cái ghi âm đệm. Ví dụ: Lẩn quẩn (luẩn quẩn) lằng ngoằng (loằng ngoằng), ngó ngáy (ngó ngoáy)… Ghi sai âm chính: Trong bài viết của học sinh, hiện tượng ghi sai âm chính thường có hai biểu hiện chính: Thứ nhất lẫn lộn giữa các chữ cái ghi nguyên âm đơn, cụ thể là: - ă / â: câm phẫn (đúng phải là là căm phẫn), tái lặp (tái lập), tối tâm (tối tăm)… - o / ô / ơ: bốc lột (đúng phải là bóc lột), tận góc (tận gốc), hồi hợp (hồi hộp)… Thứ hai lẫn lộn giữa các chữ cái ghi nguyên âm đơn với các chữ cái ghi nguyên âm đôi, nhất giữa: - ê / i / iê: điều đặn (đúng phải là đều đặn), điu đứng (điêu đứng), điểu cáng (đểu cáng) - ư / ươ: chưởi mắng (chửi mắng), rác rửi (rác rưởi), sửi ấm (sưởi ấm)… Ghi sai âm cuối / bán âm cuối: Hiện tượng ghi sai âm cuối trong bài viết của học sinh thường có hai biểu hiện chính: Thứ nhất là lẫn lộn giữa các chữ cái ghi phụ âm cuối, cụ thể là lẫn lộn giữa: - c/ t: biền biệc (biền biệt), heo húc (heo hút), lũ lược (lũ lượt)… - n / ng: hiên ngan (hiên ngang), hoang hỉ (hoan hỉ), lãng mạng (lãng mạn)… Giáo viên: Lương Văn Duyên 9 Trường THPT Quan Sơn 2 – Thanh Hóa Một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11A2 ở trường THPT Quan sơn 2 Thứ hai là lẫn lộn giữa các chữ cái ghi bán âm cuối, cụ thể là giữa: - o / u: báo vật (báu vật), mếu máu (mếu máo)… - i / y: đài đọa (đày đọa), lai động (lao động), mai mắn (may mắn)… giữa bốn kiểu lỗi chính tả âm vị đoạn tính trong bài viết của học sinh lớp 11A2, hiện tượng ghi sai âm cuối xuất hiện nhiều hơn. Kế đến là ghi sai âm chính và ghi sai âm phụ đầu. Lỗi ghi sai âm đệm xuất hiện ít nhất. 2.2. Lỗi diễn đạt: a. Lỗi dùng từ: Lỗi dùng từ sai phong cách: Thông thường hoàn cảnh giao tiếp được chia làm hai loại chính: hoàn cảnh giao tiếp theo nghi thức và hoàn cảnh giao tiếp không theo nghi thức. Hoàn cảnh giao tíêp theo nghi thức đòi hỏi ngôn ngữ được gọt giũa. Nhưng nhiều khi học sinh trong bài viết của mình thường sử dụng khẩu ngữ: Hàn Mặc Tử bị hủi về thể xác nhưng tâm hồn nhất quyết không bị hủi cho. Đúng ra học sinh phải viết là: Hàn Mặc Tử bị đau đớn về thể xác nhưng tâm hồn ông vẫn tràn ngập cảm hứng sáng tạo. Lỗi về nghĩa của từ: Mỗi từ ngữ được dùng phải đúng nghĩa. Nhiều học sinh dùng từ sai nghĩa: Trong bài văn tả về mẹ, một học sinh viết: Mẹ em vất vả lang thang, lảng vảng ở chợ để bán hàng nuôi hai chị em ăn học. Trong trường hợp này, học sinh đã sai khi dùng từ “ lang thang’, “ lảng vảng”. Khi phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của nhà văn Nguyễn Tuân một học sinh viết: Huấn Cao đã đồng hóa viên quản ngục. Lỗi lặp từ: Trong một câu văn học sinh có thể dùng một từ đến hai ba lần: Khi phân tích bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu, một học sinh viết: Nhà thơ Xuân Diệu là một nhà thơ lớn. Xuân Diệu có nhiều bài thơ trong đó có bài thơ Vội vàng. b. Lỗi viết câu: Giáo viên: Lương Văn Duyên 10 Trường THPT Quan Sơn 2 – Thanh Hóa Một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11A2 ở trường THPT Quan sơn 2 Khi viết văn đòi hỏi học sinh phải viết đúng ngữ pháp. Nhưng một thực tế đáng buồn hiện nay là học sinh viết sai câu rất nhiều. Học sinh thường mắc những lỗi căn bản sau: Nhầm trạng ngữ và chủ ngữ: Trong bài làm văn phân tích bài thơ Tự tình, một học sinh viết: “Qua bài thơ Tự tình đã làm thể hiện nỗi lòng người phụ nữ quá lứa lỡ thì.” Trong câu văn trên, học sinh đã nhầm trạng ngữ là chủ ngữ. Chữa đúng là: “Qua bài thơ Tự tình, Hồ Xuân Hương đã thể hiện tâm trạng của người phụ nữ quá lứa lỡ thì.” Lẫn lộn giữa vị ngữ và thành phần phụ chú ngữ: Cũng trong bài làm văn phân tích bài thơ Tự tình, một học sinh viết: “Hồ Xuân Hương nhà thơ nữ nổi tiếng của văn học Việt Nam thời trung đại.” Đúng phải là: “Hồ Xuân Hương là nhà thơ nữ nổi tiếng của văn học Việt Nam thời trung đại.” Câu lan man dài dòng: Khi đề cập về nhà văn Nguyễn Tuân một học sinh viết: Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn viết truyện ngắn đặc sắc nhất với trình độ đỉnh cao nổi bật cho phong cách thơ Nguyễn Tuân tài hoa uyên bác. Chưa nói đến lỗi sai về kiến thức khi học sinh đó viết “ phong cách thơ Nguyễn Tuân” thì câu này sửa đúng là: “Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn viết truyện ngắn đặc sắc với trình độ bậc thầy. Nổi bật trong phong cách của ông là sự tài hoa, uyên bác.” c.Lỗi dựng đoạn: Một số học sinh lớp 11A2 trường THPT Quan Sơn 2 hiện nay không có kĩ năng dựng đoạn. Các em viết nhưng không biết bố cục một đoạn văn như thế nào và phải triển khai đoạn văn ra sao. Khi viết về cảnh kết thúc truyện Chữ người tử tù của nhà văn Nguyễn Tuân, một học sinh viết một đoạn văn như sau: Giáo viên: Lương Văn Duyên 11 Trường THPT Quan Sơn 2 – Thanh Hóa Một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11A2 ở trường THPT Quan sơn 2 “Vai trò của cảnh kết thúc truyện ngắn này đã thể hiện dù ở nơi lao tù tối tăm ta vẫn thấy được nhân cách cao đẹp của viên quan coi ngục đối với tử tù Huấn Cao là một trong những phạm của xã hội. Nhưng viên quản ngục vẫn kính trọng Huấn Cao bởi tài năng của người này đã làm viên quản ngục không còn sợ chết mà tới vái người tù một vái để xin chữ của ông về treo trên nhà dù bị Huấn Cao coi thường. Và viết điều đó là sẽ liên lựa đến mình nếu bọn thực dân biết thì sẽ bị giết. Nhưng viên quản ngục cũng không thể làm trái mệnh lệnh và phải thi hành.” Ở đoạn văn trên, người viết chưa biết cách dựng đoạn văn. Các câu văn còn lan man dài dòng, không tập trung vào chủ đề chính d. Lỗi bố cục bài văn: Điều đáng buồn là còn một bộ phận học sinh không biết xác định, xây dựng bố cục một bài văn. Điều này tập trung nhiều hơn ở học sinh khối lớp 10. Tuy nhiên, học sinh lớp 11 cũng có những em không biết phải viết một bài văn như thế nào. Hạn chế này được thể hiện rất rõ khi các em làm bài thi học kì. Lớp 11A2 có một em học sinh lập dàn ý thay cho bài viết văn, có ba em bài viết không đủ bố cục ba phần trong bài thi học kì I. 2.3. Lỗi sai kiến thức: Trong bài thi học kì I năm học 2012- 2013 có học sinh viết: “Vũ Trọng Phụng là nhà văn nổi tiếng của văn học trung đại Việt Nam.” Đúng phải là “văn học hiện đại trước 1945”. Từ thực tiễn viết bài của học sinh, người viết bài đã tiến hành khảo sát: Kết quả khảo sát lần thứ nhất: Kết quả này được thống kê dựa trên bài viết số 1 của học sinh lớp 11A2. Sĩ số lớp thời điểm này là 35 học sinh, trong đó đều là học sinh người dân tộc thiểu số: Lối học sinh mắc phải Giáo viên: Lương Văn Duyên 12 Số học sinh mắc lối Trường THPT Quan Sơn 2 – Thanh Hóa Một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11A2 ở trường THPT Quan sơn 2 Lỗi chính tả Lỗi viết hoa Viết hoa sai quy định 35/35 Lỗi viết tắt chính tả Viết hoa tuỳ tiện 27/35 Viết tắt sai quy định 24/35 chính tả Viết tắt tuỳ tiện Lỗi dùng số và 27/35 28/35 chữ biểu thị số Lỗi chính tả âm vị Lỗi chính tả âm vị siêu 22/35 ( học sinh mắc đoạn tính lỗi này chủ yếu là người dân tộc thiểu số) Lỗi chính tả âm vị 29/35 Lỗi dùng từ đoạn tính Lỗi dùng từ sai phong 25/35 Lỗi viết câu cách Lỗi về nghĩa của từ 24/35 Lỗi lặp từ 25/35 Nhầm trạng ngữ và 21/35 Lỗi diễn đạt chủ ngữ Lẫn lộn giữa vị ngữ và 22/35 thành phần phụ chú Câu lan man dài dòng Lỗi dựng đoạn Lỗi bố cục bài 24/33 21/35 26/35 văn Lỗi sai kiến 10/35 thức 3. Nguyên nhân: Theo suy nghĩ và kinh nghiệm của một nhà giáo, tôi xin mạnh dạn nêu lên những nguyên nhân sau đây: Giáo viên: Lương Văn Duyên 13 Trường THPT Quan Sơn 2 – Thanh Hóa Một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11A2 ở trường THPT Quan sơn 2 Thứ nhất, ảnh hưởng Internet: Ngày nay đông đảo học sinh sử dụng Internet, ngoài số ít biết khai thác, tận dụng để học tập thì phần lớn chỉ để chơi game và chat. Khi “chát” các em hầu hết sử dụng tiếng Việt không dấu và dùng cách diễn đạt rất ngắn gọn bằng những từ ngữ chỉ quen dùng với giới trẻ, và theo quan niệm của họ như thế mới được cho là sành điệu. Việc thường xuyên sử dụng ngôn ngữ bất thường, cụt ngủn như thế sẽ góp phần làm “cùn” đi tính thẩm mỹ và tinh tế vốn có của ngôn ngữ truyền thống. Thứ hai, ảnh hưởng của phim ảnh: Ngày nay truyền hình, phim ảnh phát triển đến chóng mặt. Có nhiều kênh chiếu những phim hấp dẫn với mật độ dày đặc khiến cho thanh thiếu niên ngoài giờ đến trường chỉ “mê mẩn” với phim ảnh. Việc xem phim nhiều khiến các em lười đọc sách. Nếu có đọc thì đó cũng chỉ là các truyện tình yêu rẻ tiển, những truyện tranh hình nhiều mà chữ ít. Có rất nhiều em đọc và bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ trong các câu truyện đó. Thứ ba, ảnh hưởng của âm nhạc ‘thị trường”: Ngày nay có một bộ phận khá đông giới trẻ mê nhạc ‘thị trường” với những ca từ giai điệu mà khi hát lên đọc, như nói. Lời lẽ rất cộc cằn và thô thiển. Những ngôn từ đó ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển ngôn ngữ của học sinh. Thứ tư: Những năm học gần đây việc áp dụng hình thức thi trắc nghiệm với việc lựa chọn các phương án hoặc A, hoặc B, hoặc C, hoặc D cũng góp phần làm “cùn” tư duy cũng như cách diễn đạt của học sinh. Thứ năm: Việc giáo viên hướng dẫn cho học sinh kĩ năng làm một bài viết hoàn chỉnh. Ngoài một số giáo viên dạy Văn khi chấm bài có sửa lỗi cho học sinh về chính tả, câu cú, cách diễn đạt, thì có một số giáo viên khác không sửa lỗi cho học sinh khiến cho các em không biết mình mắc lỗi gì để khắc phục. Thực tế những bài văn học sinh viết dài ba trang giấy mà không có dấu chấm, dấu phẩy nhưng giáo viên vẫn cho 5 điểm. Giáo viên: Lương Văn Duyên 14 Trường THPT Quan Sơn 2 – Thanh Hóa Một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11A2 ở trường THPT Quan sơn 2 Thứ sáu: Trên thị trường hiện nay tràn ngập các bài văn mẫu, học sinh không cần phải học, suy nghĩ mà cứ dựa vào các bài văn mẫu làm bài cũng ảnh hưởng đến năng lực viết văn của học sinh. Nguyên nhân cốt lõi nhất là do thầy và trò học học văn để đối phó với thi cử. Từ những năm học cấp 1, cấp 2, học sinh đã học thuộc bài văn mẫu, hiếm có giáo viên nào có phát hiện ra và sẵn sàng cho điểm cao vì cho là bài viết hay. Lên cấp 3, áp lực thi tốt nghiệp lớp 12 càng đè nặng. Từ đầu năm học, các em đã được phát đề cương môn văn để học thuộc òng, để chỉ cần viết đủ ý cũng đủ điểm trung bình. Một nguyên nhân quan trọng nữa là ý thức học văn của học sinh chưa tốt. Nhiều em lười học môn Văn, khi viết bài thì không đầu tư thời gian, viết theo kiểu đối phó.. Viết bài không cần chấm câu, không chú ý dùng từ. Phần lớn học sinh thiếu kiên nhẫn luyện viết. Các em không coi trọng “chữ viết” bằng “chữ số”. Các môn tự nhiên vẫn hấp dẫn các em hơn bởi “viết ít điểm nhiều” và có nhiều cơ hội lựa chon ngành nghề thi vào đại hoc, cao đẳng. Đối với học sinh lớp 11A2 nói riêng và học sinh trường THPT Quan Sơn 2 nói chung còn một nguyên nhân nữa là hầu hết đều học sinh dân tộc thiểu số nên phát âm không chuẩn; phát âm như thế nào thì viết như thế nên sai rất nhiều. II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC LỖI VIẾT VĂN CHO HỌC SINH Việc rèn kĩ năng cho học sinh là một vấn đề nan giải đã làm đau đầu nhiều thầy cô giáo và cán bộ quản lí giáo dục. Đã có rất nhiều Hội thảo được tổ chức đề nhằm nâng cao trình độ làm văn của học sinh. Sau đây người viết bài này xin đưa ra một số kinh nghiệm mà mình đã áp dụng: 1. Cần bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu thích văn chương, thích môn Văn: Có yêu thích thì các em mới học: Để học sinh yêu thích môn mình dạy, mỗi giáo viên có những cách riêng: một trong những cách được nhiều giáo viên áp dụng là quan tâm đến học sinh; đặc biệt chú ý đến những học sinh yếu nhưng cũng không nên tạo áp lực nhiều quá khiến các em sợ. Khen thưởng kịp thời khi học sinh học yếu có cố gắng. Giáo viên: Lương Văn Duyên 15 Trường THPT Quan Sơn 2 – Thanh Hóa Một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11A2 ở trường THPT Quan sơn 2 Khen thưởng bằng nhiều hình thức: cho quà, cho điểm khuyến khích… Còn có giáo viên hướng các em tới thế giới mà các tác phẩm văn chương đã tạo ra. Học sinh thường rất thích thú khi giáo viên kể truyện hoặc bình những câu văn, câu thơ hay. Đặc biệt, giáo viên phải hết sức nhiệt tình truyền đạt cho các em cái hay cái đẹp của văn chương. 2. Rèn luyện chính tả và chữ viết cho học sinh: Nhiều học sinh nói như thế nào thì viết như vậy. Giáo viên cần chú ý rèn cách phát âm cho học sinh khi các em nói chưa chuẩn. Ở lớp 11A2 THPT Quan Sơn 2, giáo viên Văn tập trung vào uốn nắn học sinh mắc những lỗi về phát âm như: Chưa chuẩn “n” và “ l”, “ x” và “s” “ ch” và Tr”. Học sinh ngọng dấu ngã, nói “ gỗ” thành “ gố” “ mỡ” thành “ mớ”… Có thể đưa ra các từ, các câu có dấu ngã để học sinh luyện. Chưa chuẩn âm cuối như “đêm khuya” thành “đêm khuê”, “thuyền” thành “thuền”… Giáo viên cần rèn cho học sinh cách phân biệt phụ âm đầu, các âm đệm, âm chính, âm cuối. Luyện phát âm: Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải chú ý luyện phát âm cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm thế nào, chữ ghi lại thế ấy. Ghi nhớ mẹo chính tả, giải nghĩa từ. Giáo viên phải đặc biệt chú ý rèn chữ cho học sinh. Yêu cầu những em chữ xấu, viết ẩu phải có vở tập viết. Giáo viên thường xuyên giao bài và kiểm tra. Khen thưởng kịp thời những em có tiến bộ. 3. Rèn luyện kĩ năng dùng từ cho học sinh: Đây là một kĩ năng khó đòi hỏi người dạy và người học phải kiên trì. Giáo viên sửa cách dùng từ cho học sinh khi ở trên lớp trả lời bài và sửa trong bài làm văn của học Giáo viên: Lương Văn Duyên 16 Trường THPT Quan Sơn 2 – Thanh Hóa Một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11A2 ở trường THPT Quan sơn 2 sinh. Khi chấm bài làm văn của các em, giáo viên đánh dấu những lỗi dùng từ. Sau đó yêu cầu học sinh sửa lại trong vở sửa lỗi. Có thể đưa ra những tình huống để học sinh tìm từ phù hợp. Các em cũng có thể học cách dùng từ của những bạn học tốt. 4. Rèn luyện cách viết câu cho học sinh: Đây là công việc của cả thầy và gia đình. Học sinh ngày nay chịu ảnh hưởng rất nhiều từ xã hội. Các em thường nói những câu cụt ý, thiếu chủ ngữ hay vị ngữ. Và điều này cũng được thể hiện trong các bài văn. Giáo viên phải kiên trì uốn nắn cho học sinh khi các em trả lời bài và sửa trên bài kiểm tra, sau đó yêu cầu các em viết lại. Khi chấm bài, giáo viên cần chỉ ra những lối viết câu mà học sinh mắc phải và yêu cầu học sinh sửa. Giáo viên có thể yêu cầu học sinh viết câu theo suy nghĩ ra giấy, sau đó sửa lại. 5. Rèn luyện cách viết đoạn văn: Giáo viên thường xuyên ra các bài tập nhỏ viết một đoạn văn về một vấn đề nhỏ nào đó. Sau đó chấm và cho điểm. Việc này cần làm thường xuyên. 6. Rèn luyện trình bày bố cục một bài văn: Sau khi đã cung cấp kiến thức về bố cục bài văn cho học sinh, giáo viên cần kiểm tra thường xuyên và yêu cầu các em thực hành. Đối với học sinh khối 10, giáo viên trường THPT Quan Sơn 2 yêu cầu các em phải viết đúng: mở bài, các ý phần thân bài và kết bài. Còn học sinh lớp 11A2, giáo viên yêu cầu khi viết bài các em cần triển khai đủ ba phần. Khi viết đặc biệt giáo viên để ý cách mở bài, việc triển khai ý phần thân bài và phần kết bài. 7. Giáo viên phải giao bài thường xuyên cho học sinh: Giao bài và yêu cầu các em viết bài nhiều cũng là một cách để khắc phục những lỗi thường gặp . Khi học sinh viết xong, giáo viên cần chấm kĩ và sửa lỗi, chỉ ra những điểm đã được và chưa được yêu cầu học sinh phát huy và khắc phục, tránh viết nhận xét chung chung. Giáo viên cần dành thời gian và tâm huyết cho việc này. 8. Tinh thần tự học của học sinh: Học sinh cũng có thể học cách dùng từ, viết câu, dựng đoạn của các nhà văn mà các em được học. Giáo viên: Lương Văn Duyên 17 Trường THPT Quan Sơn 2 – Thanh Hóa Một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11A2 ở trường THPT Quan sơn 2 Sau khi tiến hành rất nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng bài làm của học sinh lớp 11A2, người viết đã tiến hành khảo sát lần hai. Kết quả khảo sát lần thứ hai: Kết quả này được thống kê dựa trên bài viết số 5 của học sinh lớp 11A2. Sĩ số lớp thời điểm này là 33 học sinh, tất cả các em đều là người dân tộc thiểu số: Lỗi học sinh mắc phải Số học sinh mắc lỗi Lỗi viết hoa Viết hoa sai quy định 22/33 Lỗi chính tả Lỗi viết tắt chính tả Viết hoa tuỳ tiện 18/33 Viết tắt sai quy định 20/33 chính tả Viết tắt tuỳ tiện Lỗi dùng số và 24/33 20/33 chữ biểu thị số Lỗi chính tả âm Lối chính tả âm vị siêu 19/33 vị đoạn tính Lỗi chính tả âm vị đoạn 22/33 Lỗi dùng từ tính Lỗi dùng từ sai phong 14/33 Lỗi viết câu cách Lỗi về nghĩa của từ 15/33 Lỗi lặp từ 19/33 Nhầm trạng ngữ và chủ 17/33 Lỗi diễn đạt ngữ Lẫn lộn giữa vị ngữ và 20/33 thành phần phụ chú Câu lan man dài dòng Lỗi dựng đoạn Lỗi bố cục bài 21/33 17/33 5/33 văn Lỗi sai kiến 4/33 thức Giáo viên: Lương Văn Duyên 18 Trường THPT Quan Sơn 2 – Thanh Hóa Một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11A2 ở trường THPT Quan sơn 2 Nhận xét: Sau khi áp dụng các biện pháp nhằm khắc phục và giảm những lỗi mà học sinh mắc phải trong quá trình làm văn, người thực hiện nhận ra: Thứ nhất, số lượng học sinh mắc lỗi có giảm so với lần khảo sát thứ nhất. Thứ hai, đối với những học sinh còn mắc lỗi thì số lượng lỗi mà các em mắc phải trong một bài làm văn có giảm. Như vậy qua kết quả khảo sát hai lần, ta có thể nhận ra những biện pháp mà người thực hiện đề tài này áp dụng phần nào đã có tác động trong việc nâng cao chất lượng viết bài của học sinh lớp 11A2 trường THPT Quan Sơn 2 PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh là một vấn đề hết sức gian nan và phức tạp. Vì vậy việc kiểm tra đánh giá chất lượng các bài kiểm tra của học sinh có vai trò rất lớn, năng lực của học sinh không chỉ được đánh giá trên khía cạnh viết hay mà còn ở khả năng trình bày, cách diễn đạt, không chỉ viết đúng vấn đề mà còn phải trúng trọng tâm. Cho nên khi chấm bài giáo viên phải chỉ ra được những hạn chế thiếu sót của học sinh, giúp các em không chỉ khắc phục được những yếu kém của mình mà còn tiến bộ hơn qua mỗi lần kiểm tra đánh giá. Đối với học sinh ở các trường miền núi nói chung, và trường THPT Quan Sơn 2 nói riêng, giáo viên cần chú trọng hơn nữa vấn đề rèn luyện các kĩ năng cơ bản về các thao tác lập luận khi hành văn, chỉ ra cho học sinh những lỗi về chính tả, cách diễn đạt, và việc sử dụng đúng sáu thanh điệu của tiếng Việt, hạn chế đến mức thấp nhất về việc sử dụng tiếng địa phương trong quá trình giao tiếp cũng như khi làm bài. Giáo viên: Lương Văn Duyên 19 Trường THPT Quan Sơn 2 – Thanh Hóa Một số biện pháp khắc phục những lỗi thường gặp trong bài làm văn của học sinh lớp 11A2 ở trường THPT Quan sơn 2 Việc học sinh lớp 11A2 trường THPT Quan Sơn 2 có tiến bộ trong làm văn đó mới chỉ là những thành công bước đầu. Công việc này đòi hỏi người thầy và học sinh phải kiên trì trong thời gian dài và mất nhiều công sức. Học sinh và giáo viên cần phải có sự hợp tác tích cực, xem bài kiểm tra là cầu nối để giúp các em tiến bộ hơn. Chú trọng rèn luyện kĩ năng làm văn không chỉ giúp khả năng diễn đạt của học sinh tốt hơn mà còn giúp các em tự tin hơn trong cuộc sống. Trong khuôn khổ sáng kiến kinh nghiệm, nhiều vấn đề đặt ra ở đây mới chỉ mang tính định hướng, gợi mở. Hy vọng nó sẽ được đồng nghiệp và những người quan tâm bổ sung và hoàn thiện góp phần nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn nói chung ở nhà trường phổ thông hiện nay. Trên đây là một số kinh nghiệm làm văn mà tôi đã từng áp dụng và thu được những kết quả đáng khích lệ. Trong quá trình thực hiện đề tài này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, rất mong nhận được những ý kiếm đóng góp chân thành của đồng nghiệp để giúp việc giảng dạy và kiểm tra, đánh giá học sinh ngaỳ càng hiệu quả hơn. PHẦN 4: TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phương Lựu (chủ biên), (2008), Lí luận văn học tập 1, Nxb Đại học sư phạm. 2. Phương Lựu (chủ biên), (2009), Lí luận văn học tập 3, Nxb Đại học sư phạm 3. Trần Đình Sử (chủ biên), (2007), Lí luận văn học tập 2, Nxb Đại học sư phạm 4. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), (2010), Ngữ văn lớp 11 tập1, Nxb Giáo dục Việt Nam 5. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), (2009), Ngữ văn lớp 11 tập2, Nxb Giáo dục Việt Nam 6. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), (2010), Ngữ văn lớp 12 tập1, Nxb Giáo dục Việt Nam. 7. Phan Trọng Luận (chủ biên), (2008), Phương pháp dạy học văn, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội 8. Nguyễn Quốc Siêu, (2004), Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông, Nxb Giáo duc Giáo viên: Lương Văn Duyên 20 Trường THPT Quan Sơn 2 – Thanh Hóa
- Xem thêm -