Skkn một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo nhỡ học tốt môn tạo hình

  • Số trang: 26 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 165 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ MẪU GIÁO NHỠ HỌC TỐT MÔN TẠO HÌNH” MỤC LỤC Mục lục …………..……………………………………………… …………….2 PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài...............................................................................................4 2. Mục đích của đề tài.. ………………………………………………..………...5 3. Bản chất cần được làm rõ của đề tài :…………………………………...…….5 4. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………...………….5 5. Phương pháp nghiên cứu……………………………………...........................5 6. Giới hạn vè không gian của đối tượng nghiên cứu…..…………………...…...6 7. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu……………………..…….............................6 PHẦN II: NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận ………………………...……………………………………….7 1.1. Đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo nhỡ trong hoạt động tạo hình…………...7 1.2. Kỹ năng của trẻ mẫu giáo nhỡ trong hoạt động tạo hình…………..……….8 1.3. Vai trò của hoạt động tạo hình với sự phát triển của trẻ……………………8 2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu.......................................................................9 2.1. Thuận lợi:……………………………………..…………….........................9 2.2. Khó khăn……………………………………………..……………………..9 2.3. Kết quả khảo sát học sinh……..……………………………...……………..9 3. Biện pháp thực hiện…………………………..…………………………….10 3.1. Xây dựng nề nếp học tập trong giờ học trên lớp…..……..………………..10 3.2. Tích lũy vốn kinh nghiệm về tạo hình cho trẻ………..…….......................11 3.3. Xây dựng môi trường để phát huy tính tích cực, khả năng sáng tạo của trẻ.........................................................................................................................11 3.4. Phương pháp hướng dẫn phải dựa vào trẻ, lấy trẻ làm trung tâm…………13 3.5. Sử dụng nguyên vật liệu tạo hình…………..……………………………...14 3.6. Tích hợp tạo hình thông qua môn học khác……..………….......................15 3.7. Tích hợp tạo hình thông qua hoạt động góc…….………….......................16 3.8. Hướng dẫn trẻ học tạo hình mọi lúc, mọi nơi……………….......................18 3.9. Dạy trẻ tạo hình thông qua hướng dẫn trẻ làm đồ chơi…….…...................18 3.10 Bồi dưỡng các đối tượng yếu kém và có năng khiếu tạo hình...................19 4. Kết quả đạt được………………..…………………….................................20 PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận…………………………..………………………….........................21 2. Kiến nghị…………...……………………………..…………………………22 PHỤ LỤC Tài liệu tham khảo………………………..………………...………………….23 PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài: Phát triển thẩm mỹ là một trong năm lĩnh vực giáo dục toàn diện cho trẻ Mầm non. Trong đó hoạt động tạo hình đóng vai trò vô cùng quan trọng giúp phát triển cho trẻ về mọi mặt như: thẩm mỹ, đạo đức, trí tuệ, thể lực và lao động. Hoạt động tạo hình là một hoạt động học tập mang tính nghệ thuật, ở đó trẻ sử dụng ngôn ngữ đặc trưng riêng của nó: màu sắc, hình khối, đường nét, bố cục để phản ánh, miêu tả, từ đó giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh và phản ánh thế giới thông qua các hình tượng nghệ thuật. Hoạt động tạo hình trong trường mầm non với mục đích giúp trẻ nhận ra vẻ đẹp của các sự vật hiện tượng xung quanh trẻ, từ đó giáo dục trẻ biết ứng xử với cái đẹp, làm nảy sinh cho trẻ nhu cầu tái tạo và sáng tạo ra cái đẹp. Cũng như các hoạt động khác, hoạt động tạo hình cung cấp cho trẻ các biểu tượng về sự vật hiện tượng, phát triển thể lực cho trẻ, giáo dục đạo đức và kỹ năng giao tiếp xã hội, kỹ năng lao động cho trẻ. Trẻ mầm non có tâm hồn nhạy cảm với thế giới xung quanh bởi thế giới xung quanh chứa đựng bao điều mới lạ hấp dẫn. Trẻ thường tỏ ra dễ xúc cảm với cảnh vật xung quanh, trẻ dễ bị cuốn hút trước cảnh vật có nhiều màu sắc. Một bông hoa đẹp, một bức tranh sinh động, một đồ chơi ngộ nghĩnh cũng có thể gây cảm xúc cho trẻ. Với đặc điểm như vậy nên năng khiếu nghệ thuật thường được nảy sinh ngay từ tuổi ấu thơ. Trẻ biết đánh giá, khái quát, phản ánh ấn tượng của bản thân không phụ thuộc vào thực tế. Trẻ rất thích sử dụng màu sặc sỡ mang tính chất phản ánh biểu tượng, mỗi sản phẩm của trẻ mang một nội dung, một tên gọi khác nhau. Trong thực tế việc tổ chức các hoạt động tạo hình đã mang lại hiệu quả tới việc phát triển cho trẻ. Song phương pháp đó chưa thực sự đáp ứng và đem lại kết quả mà tôi mong đợi. Các phương pháp hoạt động tạo hình đang được sử dụng còn mang tính áp đặt. Giáo viên thường chú ý đến sản phẩm trẻ làm ra, ít chú ý đến kỹ năng tạo hình, quá trình làm ra sản phẩm; giáo viên thiếu sự linh hoạt, sáng tạo trong tổ chức hoạt động tạo hình. Mặt khác sự hứng thú, kĩ năng tạo ra sản phẩm tạo hình của trẻ chưa cao, nhiều trẻ chưa biết đặt tên sản phẩm làm ra. Nhận thức rõ trách nhiệm to lớn của giáo viên mầm non trong giai đoạn phát triển hiện nay “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục” (Nghị quyết hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII), là một giáo viên mầm non tôi với mong muốn làm như thế nào để trẻ có thể học tốt môn tạo hình, tôi đã nghiên cứu và đưa vào vận dụng “Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo nhỡ học tốt môn tạo hình”. 2. Mục đích của đề tài: Đề xuất và lý giải một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo nhỡ học tốt môn tạo hình. 3. Bản chất cần được làm rõ của đề tài: Nghiên cứu cơ sở lý luận về khả năng tạo hình của trẻ và thực trạng khả năng tạo hình của trẻ. Nghiên cứu đưa ra các giải pháp để giúp trẻ mẫu giáo nhỡ học tốt môn học tạo hình. 4. Chọn đối tượng cho quá trình nghiên cứu: Biện pháp giúp trẻ mẫu giáo nhỡ học tốt môn tạo hình 5. Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp lý luận: Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan nhàm xây dựng cơ sở lý luận cho việc viết đề tài sáng kiến kinh nghiệm. - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tài liệu về phương pháp dạy tạo hình cho trẻ. - Phương pháp phỏng vấn: Xây dựng phiếu phỏng vấn trẻ về khả năng tạo hình. - Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động tạo hình của trẻ, qua đó cũng đánh giá được khả năng tạo hình của trẻ. - Phương pháp toán học: Sử dụng phương pháp toán học để đánh giá kết quả, tính phần trăm. 6. Giới hạn về không gian của đối tượng nghiên cứu: Bài sáng kiến lấy đối tượng là học sinh mẫu giáo 4 tuổi A Trường Mầm non Liên Châu – Yên Lạc – Vĩnh Phúc. 7. Phạm vi, kế hoạch nghiên cứu: Nghiên cứu trong phạm vi trường, thời gian từ tháng 5 năm 2012 đến tháng 12 năm 2012. PHẦN II: NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận: 1.1. Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo nhỡ trong hoạt động tạo hình: Ngay từ tháng đầu tiên của cuộc đời, nhu cầu tiếp nhận ấn tượng từ thế giới bên goài của trẻ đã được này sinh, trẻ thường chăm chú tìm hiểu thế giới xung quanh, lắng nghe những âm thanh, tiếng động mạnh ở bên ngoài. Dần dần lớn lên khả năng tiếp nhận những những ấn tượng từ thế giới bên ngoài ngày càng tốt hơn. Trẻ đã bắt đầu sử dụng đôi bàn tay, ngón tay để tạo ra sản phẩm, tất nhiên đằng sau đôi bàn tay là hoạt động cuat bộ não. Trẻ mẫu giáo nhỡ hoạt động của bàn tay, ngón tay linh hoạt và khéo léo, khả năng quan sát ghi nhớ và chú ý đã có chủ định, các đặc điểm đặc trưng hình thành ở trẻ tương đối đầy đủ (hình dáng, màu sắc…), lứa tuổi này đang trong giai đoạn phát triển tư duy trực quan hành động và tư duy trực quan hình tượng. Mọi hoạt động diễn ra xung quanh trẻ đều là những đối tượng gây sự chú ý cho trẻ và kích thích trẻ bắt chước theo do nhu cầu tìm tòi khám phá ở trẻ cao. Tuy nhiên khả năng của trẻ còn hạn chế, trẻ dễ dao động đặc biệt trong hoạt động nặn, vẽ, … quan sát tranh ảnh… Khả năng nhận thức của trẻ mẫu giáo nhỡ: Về cảm giác, tri giác: Ở lứa tuổi này trẻ bước đầu có thể làm chủ tri giác của mình, biết tập chung tri giác của mình theo sự hướng dẫn của người lớn, biết kiểm tra kết quả tri giác của mình và đã có khả năng điều chỉnh tri giác theo hướng đúng. Về ghi nhớ: Mẫu giáo nhỡ ghi nhớ có chủ định bắt đầu hình thành và phát triển. Về tư duy: Tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh và chiếm ưu thế, trẻ giải quyết các hiện tượng tư duy bằng hành động cụ thể của mình trên cơ sở trẻ được tích lũy các hình ảnh, biểu tượng ở xung quanh trẻ. Trong tư duy đã bước đầu suy luận nhưng chỉ dựa vào các biểu tượng, các kinh nghiệm cụ thể, vì vậy có thể trẻ suy luận chưa chính xác chưa đúng. 1.2. Kỹ năng của trẻ mẫu giáo nhỡ trong hoạt động tạo hình: Khi sinh ra không phải ai cũng có những năng khiếu bẩm sinh, nhất là trong lĩnh vực nghệ thuật (tạo hình). Những hoạt động tạo hình của trẻ do người lớn giáo dục và môi trường sống xung quanh ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển tài năng của trẻ. Hoạt động tạo hình của trẻ mẫu giáo nhỡ mang tính thụ động, kỹ năng thực hiện các bài tập còn vụng về chưa chính xác, sản phẩm thể hiện theo ý thích chủ quan, thía độ của trẻ “thực hiện theo ý nghĩ” mang tính chất vui chơi. Vì vậy để trẻ có kỹ năng tạo hình cần có sự hướng dẫn của cô giáo nhàm phát triển và rèn luyện những kỹ năng cơ bản cho trẻ. Kỹ năng là yếu tố rất quan trọng để giúp trẻ tạo ra sản phẩm một cách tự tin, có kỹ năng trẻ có khả năng điều khiển điều chỉnh hành động để thực hiện kế hoạch đã định. Tuy vậy kỹ năng của trẻ mẫu giáo nhỡ phát triển còn ở mức độ trung bình, để thuận tiện cho việc phát triển ở giai đoạn lứa tuổi sau thì trước hết trẻ phải trang bị tốt kỹ năng cơ bản và hành thạo ở giai đoạn lứa tuổi này. 1.3. Vai trò của hoạt động tạo hình với sự phát triển của trẻ: Môn dạy trẻ hoạt động tạo hình đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó giúp trẻ: - Phát triển trí tuệ: Mở rộng vốn hiểu biết của trẻ; quá trình tâm lý nhận thức của trẻ; mở rộng vốn từ, cách dùng từ cho trẻ. - Giáo dục đạo đức: hình thành cho trẻ những hành vi, thói quen trong giao tiếp, những hành vi chuẩn mực xã hội. - Giáo dục thẩm mỹ: Hoạt động tạo hình giúp trẻ nhận biết cái đẹp, thèm khát cái đẹp, qua đó chúng ta giáo dục trẻ biết ứng xử thẩm mỹ với cái đẹp, để rồi ta dạy cho trẻ cách tạo ra cái đẹp. - Lao động: thông qua hoạt động tạo hình trẻ biết các tạo ra các sản phẩm, sử dụng, giữ gìn các sản phẩm. - Thể lực: qua hoạt động tạo hình các cơ nhỏ của trẻ được hoạt động và phát triển. Chính vì thế là một giáo viên mầm non tôi muốn góp một phần nhỏ bé của mình vào việc “Giúp trẻ mẫu giáo nhỡ học tốt môn tạo hình. 2. Thực trạng hoạt động tạo hình của trẻ mẫu giáo: 2.1. Thuận lợi: - Có sự quan tâm, chỉ đạo, hướng dẫn của ban giám hiệu về tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ. - Luôn nhận được sự giúp đỡ, những kinh nghiệm của đồng nghiệp. - Về cơ sở vật chất tương đối đầy đủ để phục vụ cho việc dạy và học môn tạo hình. - Nhà trường có môi trường cảnh quan sư phạm đẹp góp phần rất lớn cho trẻ quan sát, từ đó cung cấp cho trẻ những biểu tượng thể hiện sự hiểu biết của mình về thế giới xung quanh. - Bản thân tôi có trình độ đại học sư phạm, nhiều năm được phân công dạy lớp mẫu giáo nhỡ nên đã đúc rút được một số kinh nghiệm từ việc từ việc dạy trẻ môn tạo hình. 2.2. Khó khăn: - Trang thiết bị đồ dùng dạy học chưa phong phú, chưa hấp dẫn trẻ. - Nguyên vật liệu thiên nhiên trong hoạt động tạo hình còn nghèo nàn. - Nhận thức của một số phụ huynh học sinh về môn học chưa đúng. - Số trẻ trong lớp vẫn chưa đồng đều về chất lượng, số ít cháu còn nhút nhát trong khi thể hiện ý tưởng của mình. 2.3. Kết quả khảo sát chất lượng học sinh: Tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng cho trẻ lúc ban đầu để nắm bắt được khả năng tạo hình của trẻ. Nội dung khảo sát - Trẻ hứng thú tham gia HĐTH - Trẻ tạo được sản phẩm theo yêu cầu của cô - Trẻ có kỹ năng khi tham gia hoạt động tạo hình. - Trẻ đặt tên được sản phẩm của mình Số trẻ Tỷ lệ % 22/30 73,3 21/30 70 20/30 66,7 15/30 50 Xuất phát từ những thực tế trên tôi đã đề ra một số biện pháp thực hiện sau. 3. Biện pháp thực hiện: Qua khảo sát ban đầu như trên, tôi thấy kết quả trên trẻ chưa cao là điều tôi cần phải suy nghĩ làm thế nào để dạy trẻ đạt hiệu quả cao và tạo cho trẻ học một cách thoải mái, tự tin, không gò bó, trẻ luôn hứng thú trong giờ học. Tôi tiến hành thực nghiệm. 3.1. Xây dựng nề nếp học tập trong giờ học trên lớp. Nề nếp của trẻ là bước đầu của một tiết học, nếu chúng ta không đưa trẻ vào nề nếp thì giờ học không đạt kết quả cao. Khi trẻ có nề nếp tốt cùng với sự hướng dẫn khoa học của cô ngay ban đầu trẻ đã say mê với giờ học, luôn thể hiện cảm xúc, trí tưởng tượng cho hoạt đông nghệ thuật. Tôi đã rèn luyện nề nếp bằng cách: Xếp xen kẽ cháu mạnh dạn với cháu nhút nhát, cháu nam xen cháu nữ. Chia tổ, đặt tên cho tổ “tổ chim xanh, tổ bướm trắng, tổ ong nâu” và bầu ra tổ trưởng để tổ trưởng giúp cô quán xuyến, nhắc nhở thành viên của mình. Tôi luôn động viên trẻ trong tiết học, uốn nắn tác phong ngồi học cho trẻ, trẻ ngồi đúng tư thế, không nói chuyện, không nói leo, nói phải xin phép cô, nói rõ ràng, mạch lạc, đủ câu, …Với những biện pháp trên trẻ đã có thói quen tốt trong việc xây dựng nề nếp học tập. 3.2. Tích lũy vốn kinh nghiệm về tạo hình cho trẻ: Tạo điều kiện để trẻ thường xuyên tiếp xúc với môi trường xung quanh để từng bước cung cấp các biểu tượng phong phú về đối tượng cho trẻ tự khám phá bằng cách huy động sự tham gia của các giác quan, các quá trình tâm lí khác nhau để lĩnh hội các khía cạnh khác nhau của sự vật. Tạo cơ hội để trẻ khám phá đối tượng (quan sát, nghe, hỏi, tiếp xúc và miêu tả) và tự diễn đạt nhận thức cảm xúc của mình về đối tượng. Tận dụng các thời điểm hợp lí trong ngày cho trẻ tiếp xúc như được ngắm nghía, chăm sóc, vuốt ve, âu yếm với các con vật gần gũi (thỏ, mèo, gà con…) chơi với các đồ vật, tri giác tranh ảnh nghệ thuật. Đồng thời thông qua hoạt động ngoài trời trẻ được chơi với lá cây nên tôi tận dụng luôn các lá cây đó giúp trẻ sáng tạo thể hiện các sản phẩm tạo hình để làm giàu vốn kinh nghiệm cho trẻ và kết hợp rèn luyện các kỹ năng về tạo hình cho trẻ. Trong quá trình cung cấp biểu tượng về đối tượng tạo hình tôi chỉ cho trẻ thấy được những nét đặc trưng nổi bật , những cái đẹp lý thú gần gũi trẻ. Đồng thời giúp trẻ phân tích, so sánh tổng hợp tìm ra những đặc điểm riêng, chung của những đồ vật cùng nhóm, cùng loại. Từ đó giúp trẻ tìm ra phương thức thể hiện trong những tình huống khác nhau. Ví dụ : vẽ “Vườn hoa” có bông cao, bông thấp, bông cánh tròn, bông cánh nhọn, bông mầu vàng, bông màu đỏ… Nếu trẻ đã được ngắm vườn hoa trong thực tế thì khi tạo hình trẻ sẽ biết sử dụng phối hợp các kỹ năng vẽ nét cong, nét cong tròn khép kín, nét xiên, nét thẳng và tô màu để vẽ vườn hoa sinh động và đẹp hơn. 3.3. Xây dựng môi trường để phát huy tính tích cực, khả năng sáng tạo của trẻ. Đặt và xắp xếp các vật liệu sao cho trẻ có thể thấy rõ và lấy được dễ dàng để thực hiện hoạt động tạo hình vào bất cứ lúc nào trẻ thích và có thể trưng bày các sản phẩm của mình. Tạo môi trường nghệ thuật xung quanh trẻ như: bầy đồ chơi đẹp, xắp xếp các nguyên vật liệu, đồ dùng một cách hợp lý đẹp mắt,…Từ đây tạo cho trẻ cảm giác thích thú và mong muốn được tái tạo.Trang trí tạo môi trường nghệ thuật để gây cảm xúc, gây ấn tượng cho trẻ về nghệ thuật tạo hình. Với môi trường trong lớp: Các mảng chính trong lớp như mảng chủ điểm, các tiêu đề của các góc. Để gây ấn tượng cho trẻ tôi thường sưu tầm, thiết kế các hình ảnh ngộ nghĩnh đáng yêu, có màu sắc đẹp, bố cục hợp lí và có tên thật gần gũi với trẻ. Với môi trường trong lớp: Các mảng chính trong lớp như mảng chủ điểm, các tiêu đề của các góc. Để gây ấn tượng cho trẻ tôi thường sưu tầm, thiết kế các hình ảnh ngộ nghĩnh đáng yêu, có màu sắc đẹp, bố cục hợp lí và có tên thật gần gũi với trẻ. Ví dụ: Mảng chủ điểm thường ở vị trí chính để trẻ dễ nhìn dễ thấy. Nội dung của mảng chủ đề thường tổng hợp các hình ảnh về chủ điểm: Như chủ điểm trường Mầm non: Có hình ảnh ngôi trường, đu quay, cầu trượt…có cô giáo cùng bé đi dạo… + Các góc hoạt động như: Góc gia đình tôi đặt tên là “ Gia đình của bé” trong đó có hình ảnh Mẹ và bé mặc tạp dề nấu cơm, có đồ dùng dụng cụ chế biến. Hay góc xây dựng tôi lấy tên “Kỹ sư xây dựng” có hình ảnh các bé đang chuyển các vật liệu xây dựng, đang làm các bác thợ xây dựng từ các hình ảnh ngộ nghĩnh ở phía trên mảng tường. Còn phía mảng tường tôi thường tôi dán các túi mở làm bằng nhựa trong để trẻ trưng bày sản phẩm do chính tay trẻ làm gài vào làm tranh trang trí cho góc đó. Để phát huy tối đa tác dụng của môi trường hoạt động sau khi chuyển chủ điểm ta cần thay đổi nội dung chủ điểm mới. Tôi đã cùng trẻ thảo luận và đặt tên cho chủ điểm mới và tên của góc chơi của mình. Nội dung của các góc tôi giới thiệu cho trẻ về các sản phẩm bằng các ngôn ngữ nghệ thuật để tích luỹ cho trẻ có vốn hiểu biết về nghệ thuật và say mê nghệ thuật. Từ đó kích thích lòng ham muốn thích tham gia tạo sản phẩm nghệ thuật để có sản phẩm trang trí lớp học của mình. Ví dụ: Ở mảng hoạt động tạo hình. Tôi giới thiệu đây là góc để các con hoạt động tạo hình. Chúng mình hãy cùng chọn một cái tên thật hay để đặt cho nó nhé. Nào ai có ý kiến cô gợi ý các tên như sau: Hoạ sĩ nhí, bé khéo tay, bé tập làm hoạ sĩ, hoạ sĩ tí hon…Cho trẻ thảo luận và lựa chọn nếu trẻ nào nghĩ được tên khác hay hơn cô có thể chọn làm tên góc hoạt động. Bây giờ ngôi nhà này đã có tên rồi, bây giờ cô muốn mỗi bạn hãy làm thật nhiều những sản phẩm để trang trí cho góc chơi của chúng mình đẹp hơn nhé. Từ lời gợi mở như vậy đã kích thích trẻ tạo ra sản phẩm mới. Để gây hứng thú cho trẻ trong góc tạo hình thì tuỳ theo từng chủ điểm tiến hành mà tôi có thể chuẩn bị mảng cung cấp kiến thức, các nguyên vật liệu phù hợp và phong phú về chủng loại. Ví dụ: Giấy màu, tranh ảnh cũ, báo tạp chí sáp màu, màu nước, đất nặn, vải vụn, len sợi, rơm rạ, lá cây, cỏ hạt dưa, vỏ trứng… Ở đây nguyên vật liệu thì giáo viên luôn để ở trạng thái mở giúp trẻ dễ lấy để sử dụng khi vào hoạt động. Nơi trưng bày sản phẩm của trẻ, tôi bố trí mỗi trẻ có một ô để trẻ được trẻ tự tay cầm sản phẩm cài vào ô của mình. Ở đây trẻ được quan sát toàn bộ sản phẩm của mình và của bạn, trẻ có thể tự so sánh, nhận xét và học thêm được ý tưởng của những bạn có sản phẩm đẹp, sáng tạo. Từ kết quả đó sẽ kích thích lòng ham muốn say mê học tạo hình của trẻ. 3.4. Phương pháp hướng dẫn phải dựa vào trẻ lấy trẻ làm trung tâm: Trong giờ học nói chung và giờ học tạo hình nói riêng hãy để trẻ tự thể hiện, cô luôn là người động viên, khuyến khích trẻ sáng tạo. Trẻ cần được động viên để thể hiện ý muốn, tình cảm, cảm xúc và những hiểu biết của trẻ đối với sự vật, trẻ muốn được lựa chọn. + Cái trẻ muốn làm (nội dung) + Làm thế nào để đạt được (quá trình) + Cái hoàn thành sẽ như thế nào (kết quả, sản phẩm) Mong muốn của trẻ cần được tự thể hiện với những phương tiện tạo hình khác nhau. Sự thể hiện mang tính cá nhân, bởi vì trẻ luôn tiếp cận theo đặc tính riêng của mình. Chẳng hạn sau chuyến đi thăm quan “vườn hoa trong trường” một nhóm trẻ được khuyến khích hoạt động tạo hình, một trẻ vẽ trường vườn hoa, 5 trẻ khác nặm những bông hoa, trẻ thì xé dán hoa... Mỗi trẻ tự lựa chọn bằng cách được phản ánh bằng xé dán, vẽ, lắp ghép và các hình thức khác nhau để thực hiện cái có ý nghĩa đối với cá nhân trẻ. Tăng cường các câu hỏi gợi ý giúp trẻ củng cố và áp dụng những kinh nghiệm đã lĩnh hội trong các hoạt động khác nhau, động viên trẻ suy nghĩ, thăm dò, tìm cách giải quyết vấn đề của trẻ. Hãy để tự trẻ miêu tả những gì trẻ biết và có thể làm. Ví dụ: “Hãy cho cô biết vì sao”, “Nếu như vậy thì sao”, “Vì sao con lại biết”, “con có suy nghĩ gì”, “con làm như thế nào”, “ Hay có cách nào khác để”,… Không lạm dụng các sản phẩm mẫu và làm mẫu, càng ít làm mẫu và càng ít sử dụng vật mẫu sẽ càng kích thích trẻ tư duy và tìm kiếm cách thể hiện. Thực tế cho thấy các sản phẩm mẫu sẽ làm tê liệt các cảm xúc đã có trước của trẻ, làm giảm tính tích cực hoạt động trí tuệ của trẻ, vì các hoạt động cần thiết để tạo hình đã được làm mẫu đầy đủ, trẻ luôn ghi nhớ, bắt trước. Nếu có trường hợp yêu cầu làm mẫu, phải gợi ý chứ đừng nên làm ngay. Bắt đầu xé từ đâu, xé hình gì, xé như thế nào,… Tạo tình huống để trẻ làm giúp. Ví dụ: “Để đất mềm ra chúng ta làm như thế nào?”. Trong khi làm mẫu tôi luôn coi trọng quan điểm của trẻ, làm cho trẻ phát triển khả năng so sánh, phân tích, suy nghĩ về nhiệm vụ. Động viên kích thích trẻ tự tìm, tự sáng tạo trong khi thể hiện. 3.5. Sử dụng nguyên vật liệu tạo hình: Khi thực hiện hoạt động tạo hình, nguyên vật liệu không thể thiếu được. Vậy để hoạt động tạo hình có hiệu quả, việc sử dụng nguyên vật liệu tạo hình là vô cùng quan trọng. Nguyên vật liệu là những loại đồ dùng, dụng cụ dễ kiếm. Có thể trẻ tự kiếm như lá cây, phế liệu hư, vỏ hộp, thùng catong, quần áo cũ, bông, vải vụn,… Chúng có thể được sản xuất như: giấy, hồ dán, kéo, … Sự đa dạng của nguyên vật liệu tạo hình để lựa chọn để khuyến khích khả năng sáng tạo của trẻ. Hoạt động tạo hình phải thể hiện qua mầu sắc như: tô, cắt, dán, vẽ, nặn, … Để đảm bảo khi sử dụng nguyên vật liệu tạo hình tôi cần cân nhắc những điểm sau: + An toàn (không nhọn, không có cạnh sắc, không độc hại,…) + Rẻ tiền (những nguyên vật liệu mua ở địa phương) + Dễ kiếm: Ví dụ: vỏ ốc, hến, hạt na, bưởi, len, …) + Dễ bảo quản hay cất giữ + Dễ cầm: (phù hợp với tầm tay của trẻ) + Dễ cung cấp kinh nghiệm bao gồm cả giác quan. + Dễ sửa chữa + Tạo cơ hội để lựa chọn và sắp xếp nguyên vật liệu + Luôn quan sát sự tưởng tượng và sử dụng trí nhớ linh hoạt Vì từng đồ dùng, đồ chơi còn nhiều hạn chế tôi luôn huy động trẻ tìm kiếm nguyên vật liệu, phế thải có sẵn ở địa phương. Ví dụ: Bằng những hạt gạo, hạt đỗ, rơm, rạ, lá cây, vỏ hến, giấy vụ, … tôi có thể tạo ra nhiều con vật nghộ nghĩnh, sinh động, những bức vẽ, các đề tài khác nhau. 3.6. Tích hợp dạy tạo hình thông qua các môn học khác: Tích hợp là phương pháp đòi hỏi ở giáo viên sự sáng tạo linh hoạt và khéo léo khi vận dụng, qua tích hợp kiến thức tạo hình đến với trẻ rất nhẹ nhàng không gò ép mà lại hiệu quả. Song quá trình vận dụng tích hợp, cần lựa chọn nội dung phù hợp, logic, tránh quá trình hoạt động trở lên rời rạc, chắp vá. - Môn làm quen với toán: tôi tận dụng vở bé làm quen với biểu tưởng toán để rèn trẻ kĩ năng tạo hình. Ví dụ: Cho trẻ trang trí hình vuông và hình chữ nhật trong vở bé làm quen với các biểu tượng toán,… - Môn văn học: Ví dụ sau khi học xong bài thơ “cây dừa” cho trẻ vẽ cây dừa. - Môn làm quen với chữ cái. Ví dụ: trẻ tô màu vào chữ in rỗng, vào vở tập tô. - Môn làm quen với môi trường xung quanh: Ví dụ cho trẻ vẽ các con vật, các loại quả hay các phương tiện giao thông, và người thân trong gia đình,…. 3.7. Tích hợp dạy tạo hình thông qua hoạt động góc: Bên cạnh việc tích hợp dạy tạo hình qua môn học khác, giáo viên có thể rèn kỹ năng tạo hình của trẻ thông qua giờ hoạt động góc. Qua hoạt động góc giúp trẻ được củng cố và làm quen kiến thức mới làm tăng thêm vốn kiến thức, kỹ năng hơn trong giờ hoạt động chung. Ví dụ: Với chủ đề: “Thế giới động vật” ở góc tạo hình tôi nặn một số con vật (gà, thỏ, mèo, trâu, voi…) bày ở giá hoặc tranh một số con vật bằng các thể loại như vẽ, xé dán, tô màu…để cung cấp kiến thức cho trẻ. Khi trẻ vào góc chơi tôi thu hút gợi ý trẻ quan sát những sản phẩm đó: Ví dụ: + Đây là con gì? Cô nặn như thế nào? + Đây là bức tranh gì? Tranh làm bằng gì? Khi thực hiện các đề tài “ Nặn con vật, vẽ con gà…” trẻ đã có vốn kiến thức hiểu biết qua các sản phẩm thì trẻ sẽ tự tin hơn và thực hiện tốt hơn. Hoặc ví dụ: Với chủ đề: “Thế giới thực vật” đề tài “Các loài hoa” tôi chuẩn bị một số tranh vẽ, xé, chấm màu về các loại hoa làm tranh cung cấp kiến thức cùng với các nguyên vật liệu phù hợp với tranh tôi cung cấp cho trẻ… Khi trẻ vào góc chơi tôi gây hứng thú tạo tình huống cho trẻ bằng cách: - Đố trẻ cô có bức tranh gì? - Các bông hoa được làm như thế nào? Sau đó cho trẻ kể về bức tranh đó cuối cùng cô khái quát về một số đặc điểm chung cơ bản của một số loại hoa đó và chất liệu cô đã sử dụng để làm. Với những nhóm trẻ chưa thể hiện được cô có thể hướng dẫn trẻ một cách tỉ mỉ hơn về cách (Vẽ, xé, chấm màu…) hoặc cô kết hợp làm chung với trẻ về bức tranh đó kết hợp với lời động viên khuyến khích giúp trẻ có tâm thế hơn. Như vậy với đề tài về “Hoa” khi giáo viên tiến hành cho trẻ thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau sẽ tạo cho trẻ cảm giác thoả mái, không gò bó, chán nản giúp trẻ sẽ tích cực hoạt động sâu hơn trong góc chơi từ đó đối tượng cô định cung cấp hoặc củng cố cho trẻ sẽ dần dần được hình thành trong tâm trí của trẻ. Từ đó sẽ giúp trẻ phát triển khả năng, kỹ năng về tạo hình. Không những chỉ có góc tạo hình mới phát huy khả năng tạo hình của trẻ mà ở các góc chơi khác giáo viên cũng có thể rèn luyện kỹ năng về tạo hình cho trẻ. Cụ thể: + Góc học tập: Trong góc học tập luôn có nội dung cung cấp cho trẻ cung cấp về toán và môi trường xung quanh thông qua các môn học đó giáo viên thiết kế lựa chọn các trò chơi, nội dung để củng cố cung cấp cho trẻ. Từ đó giáo viên có thể lồng ghép rèn luyện kỹ năng tạo hình cho trẻ. Ví dụ: Với nội dung toán: “Tô màu theo yêu cầu của cô” thì giáo viên kết hợp rèn luyện cho trẻ kỹ năng cầm bút và kỹ năng tô màu. Ví dụ: Với nội dung môi trường xung quanh: Cô cho trẻ được cắt dán tranh ảnh, đồ dùng, con vật theo chủ đề tiến hành, cô kết hợp rèn luyện kỹ năng cầm kéo, cắt và phết hồ cho trẻ. + Góc sách: Là một góc yên tĩnh nhất, khi vào góc sách trẻ được xem các loại sách, tô vẽ, làm tranh chuyện, kể chuyện sáng tạo cùng cô kể về các đồ dùng có liên quan tới chủ đề đang thực hiện thì giáo viên củng có thể nhẹ nhàng đưa kiến thức, kỹ năng hoạt động tạo hình rèn thêm cho trẻ. Ví dụ: Cô hướng dẫn trẻ tô tranh truyện, hướng dẫn cách tô màu cho bức tranh thêm đẹp, vẽ tranh về các nhân vật trong câu truyện… Như vậy ở trong mỗi góc chơi, nhóm chơi chỉ có một nhóm trẻ hoặc một cá nhân tham gia hoạt động sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên muốn rèn trẻ cá biệt yếu kém hoặc củng cố kỹ năng cho trẻ. Từ đó giúp trẻ phát triển hơn về khả năng tạo hình. 3.8. Hướng dẫn trẻ học tạo hình mọi lúc, mọi nơi Trẻ được làm quen với môi trường xung quanh khi đi dạo chơi trẻ được ngắm nhìn vật thật, đựơc sờ nắm, khi cho trẻ họat động ngoài trời cô có thể phát phấn để trẻ có thể vẽ lên nền. Ví dụ: trẻ dùng phấn để in cánh hoa, lá hoa, vẽ những biểu tượng mà trẻ thích. Khi hoạt động ngoài trời tôi yêu cầu trẻ lượm lá khô, cành khô để làm vật liệu cho trẻ hoạt động tạo hình. + Giờ sinh hoạt chiều: Ví dụ: tôi cho trẻ kể về những con vật mà trẻ thích và cho trẻ vẽ những con vật đó. + Ở các hoạt động góc: Góc học tập trẻ có thể chơi dậy vẽ, nặn, xé, dán. Góc nghệ thuật trẻ: Ví dụ: Một nhóm trẻ có thể tạo nên một bức tranh xé dán “ Ngôi nhà của bé”. Bên cạnh dạy tạo hình ở lớp tôi thường gợi ý cho trẻ tạo hình ở nhà bằng cách trao đổi với phụ huynh để cùng nhắc nhở, động viên trẻ, hướng dẫn trẻ thực hiện một vài bài tập ở nhà như vẽ tranh theo đề tài, nặn theo mẫu, vẽ theo ý thích, hay xé dán một hình ảnh nào đó, theo các đề tài mà trẻ đã được làm quen ở lớp. 3.9. Dạy tạo hình qua hướng dẫn trẻ làm đồ chơi: Như chúng ta đã biết hoạt động làm đồ dùng đồ chơi với trẻ là dạng hoạt động tạo hình đặc biệt. Trong sản phẩm nó chứa đựng tâm hồn, cảm hứng, ngôn ngữ riêng để biểu đạt tình cảm của người sáng tạo ra. Vì vậy tôi đã tận dụng các học liệu có sẵn để dạy trẻ làm đồ chơi. Ví dụ: Dạy trẻ làm đồ chơi bằng các loại lá cây. Trong giờ hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ nhặt các loại lá ở sân trường, cô chuẩn bị một ít lá xanh các loại để vào giờ hoạt động tạo hình hoặc hoạt động góc hướng cho trẻ làm. Ví dụ: Chủ đề bản thân cho trẻ làm nhà tạo mẫu làm ra các trang phục ngộ nghĩnh bằng lá cây (chủ yếu là lá vàng và lá khô). Dạy trẻ tự xé hoặc sắp xếp những chiếc lá thành bộ sưu tập thời trang giành cho trẻ. Chủ đề phương tiện giao thông: dạy trẻ làm những chiéc tàu, thuyền buồm… Chủ đề thế giới động vật: Dạy trẻ lấy cái bồng bèo tây làm con gà, cái đuôi là lá bèo, chân gà là 2 cái tăm cắm vào hay cái bồng dài làm con chó. Lá chuối làm con mèo. Lá dừa làm chong chóng, con châu chấu, bẹ bắp ngô lá chuối khô làm búp bê… Hay tận dụng giấy gói quà sinh nhật và những hạt sỏi hoặc cắt xốp ra cho trẻ gói kẹo (sản phẩm này trẻ vừa làm đồ chơi ở góc bán hàng, vừa làm đồ dùng học toán: so sánh kẹo to kẹo nhỏ, so sánh số lượng nhiều – ít, phân biệt kẹo màu xanh – màu đỏ – màu vàng …). Hay vỏ hạt dưa, giấy màu vụn, vỏ trấu, cọng rơm cho trẻ cùng trang trí hình ảnh cùng cô làm chủ điểm. Tận dụng giấy báo cũ, giấy in phô tô…cho trẻ vo giấy, mỗi trẻ một ít xếp chồng lên nhau có sự giúp đỡ của cô (dùng hồ gắn kết giấy vo lại để tạo thành hòn non bộ trang trí ở góc tạo hình rất đẹp). Tận dụng giấy thừa, các tờ lịch cũ cô giúp trẻ đóng thành các quyển sách, sau đó cho trẻ sưu tầm tranh ảnh cắt hoặc xé dán vào, mỗi trẻ cảm nhận cái đẹp riêng về quyển sách
- Xem thêm -