Skkn kinh về biện pháp giúp sinh học tốt phân môn chính ở 3 (2)

  • Số trang: 14 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 16 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

KINH NHIỆM VỀ BIEÄN PHAÙP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT PHÂN MOÂN CHÍNH TẢÛ Ở LỚP 3 I. ĐẶT VẤN ĐỀ: Chữ viết hiện nay của người Việt là chữ viết ghi lại theo phát âm. Do đó việc viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sử viết đúng. Tuy nhiên do yếu tố vùng miền, cách phát âm mỗi nơi có khác nhau. Mặc dù những qui tắc, qui ước về Chính tả đã được thống nhất theo ngữ pháp chung. Nhưng việc “viết đúng Chính tả” trong học sinh hiện nay nói chung vẫn còn nhiều khó khăn, tồn tại. Trong khi trong thực tế lớp tôi , hiện tượng không đồng nhất trong phát âm là khá phổ biến. Do tình hình kinh tế xã hội chung, hầu như bất kỳ địa phương nào trong cả nước cũng có sự pha trộn, giao thoa của nhiều vùng miền. Từ giáo viên đến học sinh, “Cô Bắc- trò Nam; Cô Trung - trò Bắc...”. “Nghe và hiểu” được tiếng nói của nhau quả là không đơn giản. Trong khi “chuẩn chính tả” của Ngữ pháp Việt Nam căn cứ vào phát âm của khu vực Hà Nội thì với các vùng miền khác .Vì vậy phát âm chuẩn không hề đơn giản. Một số ví dụ tiêu biểu như: Phát âm của một số vùng Bắc Bộ (Hưng Yên) thì “nói và làm” thành ra “lói và nàm”, khu vực Trung Bộ (khu vực Bình Trị Thiên, Nghệ Tỉnh) hầu như không phân biệt nỗi các dấu thanh “sắcnặng-hỏi - ngã” như “nói” lại thành “nọi”. Đặc biệt vùng Đồng bằng Nam bộ còn có phát âm như ngọng “Con cá rô bỏ vô rổ giãy rột rột” thành “ Con cá gô bỏ vô gổ dảy gột gột”... “đàng hoàng” thành “đàng quàng”... Nhưng “vùng nào hiểu theo vùng nấy” nên thật ra trong từng địa phương có kiểu phát âm như vậy đã thành “quen tai” nên không có gì đáng nói. Có điều là hiện nay, sự sống chung pha trộn trong các vùng cả nước hiện nay là phổ biến nên khó khăn trong việc “nghe và viết” sao cho đúng là một vấn đề lớn đối với Chính tả là rất rõ nét. Chính vì vậy, học sinh hiện nay mắc lỗi chính tả rất nhiều. Điều này ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em ở môn Tiếng Việt nói chung cũng như các môn học khác. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy thực tế tôi đã tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra một số biện pháp khắc phục để giúp học sinh học tốt phân môn chính tả , một trong những biện pháp tích cực giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt và các môn học khác trong chương trình. Bởi trên thực tế, nếu người nói “không chuẩn phát âm” không thể làm người nghe hiểu mình muốn gì thì “viết không đúng” cũng không thể diễn đạt được ý tưởng của mình cho người khác hiểu. Đặc biệt là trong chương trình phổ thông, môn Tiếng Việt lại là môn “chủ lực và trung tâm” để có thể khai thác các môn học khác một cách tốt nhất. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: 1. Một số tồn tại trong thực tế: Qua quá trình giảng dạy và theo dõi chất lượng bộ môn, tôi thấy học sinh thường mắc phải các loại lỗi sau: a. Lỗi về dấu thanh: Tiếng Việt có 6 thanh (ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) thì nhiều học sinh không phân biệt được 2 thanh hỏi, ngã.Số lượng tiếng mang 2 thanh này không ít và rất phổ biến - kể cả những người có trình độ văn hoá cao. Ví dụ: Sữa xe đạp, hướng dẩn, giử gìn, dổ dành, lẩn lộn,… b. Lỗi phụ âm đầu: - Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây: + c/k: Céo co… +ng/qu: ông quại (ngoại), bên quài(ngoài) + g/gh: Con ghà , gê gớm… +h/qu: quảng hốt (hoảng hốt), phá quại (phá hoại) + ng/ngh: Ngỉ ngơi, nge nhạc, nghành nghề… + ch/tr: Cây che, chiến chanh… + s/x: Cây xả , xa mạc… c.Lỗi âm cuối, vần: - Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây: + at/ac- ăt/ăc - ât/âc: mác mẻ, lường gạc, gặc lúa, nổi bậc, lấc phấc… + an/ang- ân/âng: cây bàn, bàng bạc, khoai lan, hụt hẫn, tần lầu... +âu/ôi : ông Nậu (nội), cái gấu (gối)... + ên/ênh: bấp bên, nhẹ tên, ghập ghền, khấp khển… +ư/ươi: con ngừ , hai mư... 2. Nguyên nhân chủ yếu: a/ Lỗi về dấu thanh: Thực tế qua ngôn ngữ nói, Nghệ An trở vào không phát âm phân biệt được những thanh hỏi, ngã. Nói cách khác trong phương ngữ khu vực miền Trung và miền Nam không có thanh ngã. Trong khi số lượng từ mang 2 thanh này khá lớn. Do đó đây là lỗi rất phổ biến trong học sinh. b/ Lỗi khi viết âm đầu: Trong phương ngữ Bắc và Nam có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu ch /tr ,d/gi , s/x . Mặt khác, trong khi một số vùng miền Bắc thường lẫn lộn các âm đầu l/n thì người Miền Nam thường lẫn lộnv/d, r/g. Ngoài ra, trong quy ước về chữ quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng (ví dụ: âm “cờ” ghi bằng 3 chữ cái c/k,/qu , âm “ngờ” ghi bằng ng/ngh, âm “gờ” ghi bằng g/gh…) dù có những quy định riêng cho mỗi dạng khi ghép chữ, nhưng đối với học sinh tiểu học thì rất dễ lẫn lộn. c/. Lỗi khi viết âm cuối: Đối với người Miền Nam, có thể nói việc phát âm hoàn toàn không phân biệt các vần có âm cuối n/ng và t/c. Mà số từ mang các vần này không nhỏ. Mặt khác hai bán âm cuối i/u lại được ghi bằng 4 con chữ i/y (trong: lai/lây), u/o (trong: sau/sao), ư/ươi (trong : tư/tươi) do đó lỗi về âm cuối là lỗi khó khắc phục đối với học sinh các tỉnh phía Nam nói chung và tại địa phương nói riêng 3.Một số biện pháp khắc phục lỗi: a. Tích cực luyện phát âm đúng: Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải là người phát âm rõ tiếng, đúng chuẩn, Việc rèn phát âm bắt đầu phải được thực hiện trong tiết Tập đọc và được thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học như Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn… b Phân biệt chính tả bằng phân tích, so sánh: Song song với việc phát âm, giáo viên có thể áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, phát hiện những điểm khác nhau để học sinh lưu ý và ghi nhớ. Ví dụ: Khi viết tiếng “đàng” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “đàn”, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này: - đàng = đ + ang + thanh huyền - đàn = đ + an + thanh huyền - So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “đàng” có âm cuối là “ng”, tiếng “đàn ” có âm cuối là “n”. Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em sẽ không viết sai. c.Phân biệt bằng nghĩa từ: Một biện pháp khác để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giúp học sinh hiểu nghĩa chính xác của từ. Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Tập đọc, Luyện từ và câu…nhưng trong tiết Chính tả cũng là một biện pháp tích cực, khi học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hoặc phân tích cấu tạo tiếng. Ví dụ: Phân biệt bàn và bàng (trong từ đơn): Bàn= cái bàn – bàng =cây bàng hoặc phân biệt Bác và bát :bác=anh của ba, Bác Hồ bát = đồ dùng ăn cơm (bát đũa) Với những từ nhiều tiếng, từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để gợi lại nghĩa từ hoặc giúp học sinh giải nghĩa từ. d. Ghi nhớ một số mẹo luật chính tả: Một số hiện tượng chính tả mang tính quy luật đối với hàng loạt từ có thể giúp cho học sinh khắc phục lỗi chính tả một cách rất hữu hiệu. Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê, iê, ie. Luật bổng - trầm: Qui luật về dấu hỏi, ngã trong các từ láy (mát mẻ, vui vẻ sạch sẽ...) Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh (hay dấu) của 2 yếu tố ở cùng một hệ bổng (ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm (huyền/ngã/nặng). Để nhớ được 2 nhóm này, giáo viên chỉ cần dạy cho học sinh thuộc nguyên tắc : Ngang- sắc = hỏi/ Huyền- nặng = ngã Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng trước mang thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược lại).    Ví dụ: Ngang + hỏi: Nhỏ nhoi, trẻ trung, vui vẻ , … Sắc + hỏi: Mát mẻ, sắc sảo, vắng vẻ ,… Hỏi + hỏi: Thỏ thẻ, hổn hển, rủ rỉ, rỉ rả …    Huyền + ngã: Mỡ màng, lững lờ, vồn vã … Nặng + ngã: Đẹp đẽ, mạnh mẽ, vật vã… Ngã + ngã: Dễ dãi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo, … Ngoài ra, giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như:+ Để phân biệt âm đầu tr/ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều bắt đầu bằng ch, ví dụ: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum, chạn, chõ, chĩnh, chuông, chiêng, choé,… chồn, chí, chuột, chó, chuồn chuồn, châu chấu, chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi… + Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu bằng s: Sả, si, sồi, sứ, sung, sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa nhân, sơn trà, sặt, sậy, sấu, sến, săng lẻ, sầu riêng, so đũa… sam, sán, sáo, sâu, sên, sếu, sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu, săn sắt, sư tử, sơn dương, san hô… + Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn: Đa số từ chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc có vần ênh: Gập ghềnh, khấp khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng, chệnh choạng, lênh khênh, bấp bênh, công kênh… Hầu hết các từ tận cùng là ng hoặc nh là từ tượng thanh: oang oang, đùng đoàng, loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang quác, pằng pằng, eng éc, beng beng, chập cheng, leng keng, lẻng kẻng, đùng đùng, thùng thùng, bình bịch, thình thịch, rập rình, xập xình, huỳnh huỵch… Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ tượng hình: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu chân; vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn ngoèo, khoèo chân e. Vận dụng củng cố bằng các bài tập chính tả: Giáo viên nên cho học sinh thực hiện các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể. Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp học sinh rút ra các quy tắc chính tả để các em ghi nhớ. Ngoài ra, việc kiểm tra “viết đúng chính tả” của giáo viên đối với học sinh không chỉ ở môn Chính tả mà cũng cần lưu ý nhắc nhở học sinh trong tất cả các môn học khác trong chương trình, đặc biệt là môn Tập làm văn. Việc này phải được tiến hành kiên trì và liên tục để giúp học sinh dần có ý thức rèn kỹ năng “viết đúng” trong mọi tình huống. Phát hiện lỗi chính tả, đưa ra các biện pháp khắc phục kịp thời là rất cần thiết, không thể thiếu trong quá trình dạy - học. Nhưng không phải chỉ đưa ra các biện pháp khắc phục là có thể thực hiện một cách có hiệu quả. Sửa chữa, khắc phục lỗi chính tả là cả một quá trình lâu dài, đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì, bền bỉ Giáo viên nên hướng dẫn các em thật tỉ mỉ về các quy tắc chính tả, quy tắc kết hợp từ, quy tắc ghi âm chữ quốc ngữ… Trong quá trình giảng dạy, giáo viên luôn quan sát, kiểm tra, … từ đó phát hiện ra những khó khăn, vướng mắc, hoặc những lỗi mà học sinh hay mắc phải để kịp thời sửa chữa, uốn nắn. Giáo viên cần phải không ngừng học hỏi, tự tìm hiểu, nghiên cứu để nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ. Có nắm chắc kiến thức, giáo viên mới có thể giúp học sinh học tập một cách có hiệu quả. III.KEÁT QUAÛ ÖÙNG DUÏNG PHOÅ BIEÁN : Trong quá trình giảng dạy, với việc áp dụng các biện pháp trên tôi nhận thấy học sinh đã có tiến bộ khá rõ rệt. Tuy rằng đây mới chỉ là kết quả hết sức khiêm tốn và việc “giúp học sinh học tốt môn chính tả” là một quá trình lâu dài song với những kết quả bước đầu như trên, nếu tiếp tục rèn luyện sang lớp trên các em sẽ có kỹ năng viết đúng đạt yêu cầu. Cụ thể qua bảng so sánh chất lượng sau của lớp: Ở năm học 2009-2010, tổng số học sinh lớp tôi phụ trách là 29 em; kết quả kiểm tra đọc qua các kì kiểm tra định kì là : Điểm 9,10 Điểm Lần KT Giũa kì I Cuối kì I Giữa kì II Cuối kì II Điểm 7,8 Số lượng Tỉ lệ % Số lượng 3 6 8 9 10,34 20,68 27.58 32,03 6 10 12 11 Điểm 5,6 Tỉ lệ % Số lượng 20,68 34.48 41,37 37,93 16 11 9 9 Tỉ lệ % 55,17 37.93 31,03 31,03 Điểm dưới TB 4 - 13,79 % 2- 6,89 % Một số học sinh yếu kém vào đầu năm học như: Bùi Minh Lý , Lâm Thị Như Huỳnh, Trần Quốc Cường, Nguyễn Tuyết Trinh thường sai từ 8 đến 10 lỗi trở lên trong 1 bài đến cuối HKII số lỗi đã giảm xuống còn 2- 4 lỗi/mỗi bài. IV. KẾT LUẬN: Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi đã nghiên cứu và vận dụng trong quá trình giảng dạy thực tế của lớp mình. Tuy kết quả bước đầu chưa cao lắm, nhưng với nhiệt tình và nổ lực theo khả năng, tôi cũng đã tích lũy được một số bài học thực tiễn. Rất mong được nhận ý kiến đóng góp của Ban giám hiệu cùng các bạn đồng nghiệp, để việc giảng dạy bộ môn Chính tả trong nhà trường ngày càng nâng cao chất lượng, giúp học sinh học tốt hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Năm Căn ngày 22 tháng 9 năm 2010 Nguyễn Thị Phương <<= | <= | => Phần thứ nhất ĐẶT VẤN ĐỀ Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai. Chúng ta luôn phải đào tạo được những lớp người kế tục xã hội có trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến. Do đó con người phải có cơ sở kiến thức là toán học. Toán học là chìa khóa mở đường cho con người đi vào tất cả các lĩnh vực khoa học khác. Giáo dục tiểu học ở nước ta đang thực hiện đồng bộ những đổi mới toàn diện, góp phần phổ cập giáo dục có chất lượng. Trong những đổi mới về giáo dục và đào tạo thì đổi mới về “Phương pháp dạy học” có vị trí đặc biệt quan trọng, vì hoạt động dạy học là hoạt động chủ yếu ở trường học, để góp phần đào tạo những con người “ lao động tự chủ và sáng tạo” có khả năng thích ứng với những đổi mới diễn ra hàng ngày. Để đảm bảo về chất lượng dạy và học hiện nay, phải cụ thể hóa việc dạy học để phát hiện những năng lực tiềm ẩn của mỗi học sinh và phát triển cho học sinh những tri thức và kỹ năng cơ bản thiết thực với đời sống cộng đồng, phương pháp suy nghĩ về học tập, lòng tự tin, sự năng động và linh hoạt, cách ứng xử đúng mức, hợp đạo lý. Tăng cường sức lực và ý chí mơ ước, đem sức mình góp phần làm cho cuộc sống bản thân, gia đình, đất nước trở nên giàu có, lành mạnh và hạnh phúc. Đây là những tri thức, kỹ năng vừa đáp ứng cho học tập tiến lên, học tập thường xuyên của con người trong thời đại khoa học công nghệ, vừa đáp ứng cho ứng dụng thiết thực trong cuộc sống cộng đồng. Đầu năm học 2009 - 2010, tôi được phân công giảng dạy lớp 5B, tôi nhận thấy tình hình học tập của học sinh trong lớp có một số em được sự quan tâm của gia đình và với ý thức học tập tốt do vậy đạt được kết quả cao, nhất là môn Toán. Là giáo viên dạy lớp 5, đa số học sinh ở vùng sông nước, địa bàn đi lại tương đối khó khăn, đối tượng học sinh không đồng đều về tuổi tác và trình độ nhận thức. Chính vì vậy nên từ đầu năm học tôi đã chú trọng đến việc đổi mới phương pháp học môn Toán 5 sao cho phù hợp với đối tượng học sinh của mình. Để học sinh tiếp thu tri thức có hệ thống, đó là việc rất quan trọng và cần thiết của người giáo viên hiện nay nhằm phát triển trí tuệ, óc thông minh, sáng tạo. Sau này để các em trở thành những người có ích cho xã hội. Chính vì vậy mà tôi chọn vấn đề nghiên cứu “Một số kinh nghiệm giảng dạy môn Toán lớp 5 hiệu quả”. Phần thứ hai GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Nói đến hoạt động dạy và học thì không thể không nói đến phương pháp dạy và phương pháp học, hai hoạt động đó diễn ra song song. Nếu chỉ chú ý tới việc truyền thụ tri thức cho học sinh mà không chú ý đến việc tiếp thu và hình thành kỹ năng kỹ xảo như thế nào thì quá trình dạy học sẽ không thể mang lại kết quả cao “Chữ thầy lại trả cho thầy”. Khi học sinh không tiếp thu được tri thức khoa học, ắt sẽ không hình thành được những kỹ năng, kỹ xảo. Từ đó không thể có hành động đúng đắn, đáp ứng yêu cầu thực tế khi xảy ra những tình huống mà không biết xử lý. Cho dù người giáo viên có những phương pháp giảng dạy tốt đến đâu đi chăng nữa, mà người học sinh lại không có phương pháp học tập khoa học thì cũng không giải quyết được nhiệm vụ dạy học. Môn Toán là môn học tự nhiên rất trừu tượng, lôgic và hoàn toàn gắn với thực tiễn cuộc sống hàng ngày. Vì thế, nếu học sinh không có phương pháp học đúng thì sẽ không nắm được những kiến thức cơ bản về toán học và việc học các môn học khác cũng như việc nhận thức thế giới xung quanh rất khó khăn. Môn Toán là bộ môn quan trọng trong tất cả các môn học khác. Nó là chìa khoá để học các môn học khác, đồng thời môn Toán còn có khả năng như phát triển tư duy lôgic, những thao tác trí tuệ cần thiết giúp con người trong hoạt động thực tiễn đạt hiệu quả như mong muốn. Trong giờ Toán, bên cạnh việc tìm và sáng tạo phương pháp giảng dạy phù hợp với yêu cầu bài học và đối tượng học sinh, chúng ta cần phải giúp các em có phương pháp lĩnh hội tri thức toán học, làm cho các em chủ động hơn trong việc lĩnh hội tri thức toán học. Học sinh có phương pháp học toán phù hợp với từng dạng bài thì kết quả học Toán cũng sẽ cao, hiểu bài sâu. Điều đó kích thích tinh thần học tập ngày càng hăng say. Còn những em có kết quả học tập chưa cao là do chưa có ý thức được việc học, gia đình chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình. Nhưng lý do chính là các em chưa có một phương pháp học phù hợp với từng dạng toán. Hay cùng một đề bài có nhiều có nhiều cách giải khác nhau. Các em chưa tự tìm ra cho mình một phương pháp giải ngắn gọn và nhanh nhất. Tất cả những điều đó thôi thúc tôi tìm hiểu, nghiên cứu đưa ra một số biện pháp nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học môn Toán. I. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TOÁN 5 - Căn cứ vào trình độ nhận thức của từng đối tượng học sinh. - Căn cứ vào sự chuẩn bị ở nhà, khả năng áp dụng kiến thức đã học vào việc giải toán. - Các kiến thức học sinh cần học: + Hệ thống hóa toàn bộ kiến thức toán học, các em đã học ở lớp dưới. + Nắm được các kiến thức sau: * Số học: - Nắm được khái niệm Phân số và Số thập phân, biết đọc và viết các số đó, biết cách rút gọn và quy đồng mẫu số các phân số, biết so sánh các phân số và số thập phân. - Biết thực hiện các phép cộng, trừ, nhân, chia, các phân số, số thập phân và tính được giá trị của biểu thức số. Biết đổi đơn vị các số đo thời gian, biết thực hiện cộng trừ, nhân chia số đo thời gian trong những trường hợp đơn giản. * Hình học: - Học sinh biết vẽ các hình đã học. Nắm tên gọi các hình đã học, nắm được đặc điểm của các hình đó. Từ đó rút ra quay tắc và công thức tính chu vi, diện tích, … các hình đã học. * Đại số: - Học sinh biết giải một số phương trình và bất phương trình đơn giản và số thập phân. * Các đại lượng: Nắm tên gọi, ký hiệu và cách sử dụng các đơn vị đại lượng. Nắm được mối quan hệ giữa chúng. * Giải toán có lời văn: Biết tóm tắt bài toán bằng ngôn ngữ hoặc sơ đồ, …, biết cách giải và trình bày theo các bài toán đơn và toán hợp với phân số, số thập phân. Biết giải các bài toán đơn giản về chuyển động đều. II. CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC TOÁN. Trước hết giáo viên cần nắm đựợc trình độ của các đối tượng học sinh trong lớp. Khi giảng dạy, giáo viên coi học sinh là nhân vật trung tâm trong quá trình dạy học. Trong đó giáo viên là người tổ chức và hướng dẫn mọi hoạt động của học sinh. Giáo viên không còn là người chỉ truyền đạt thông tin mà là người tổ chức và định hướng hoạt động của học sinh, huy động vốn hiểu biết về kinh nghiệm của bản thân các em để các em tự chiếm lĩnh tri thức mới. Trong giờ dạy, giáo viên nói ít, làm mẫu ít nhưng thường xuyên làm việc với cá nhân học sinh hoặc nhóm học sinh. Từ đó giáo viên nắm được khả năng học của từng học sinh, phát triển năng lực và sở trường của cá nhân. Mọi học sinh đều phải hoạt động, độc lập suy nghĩ và làm việc theo hướng dẫn của giáo viên. Học sinh có nhiều cơ hội để bộc lộ khả năng của cá nhân. Dạy học như vậy tạo cho học sinh thói quen làm việc tự giác, chủ động, biết tự đánh giá kết quả học tập của bản thân và của các bạn. Tạo cho học sinh niềm tin, niềm vui trong học tập. Từ đó các em có hứng thú trong học tập, tự tin vào khả năng của bản thân và dần hình thành phương pháp tự học, tự nghiên cứu độc lập và sáng tạo, tự phát hiện ra các tình huống có vấn đề trong học tập và trong cuộc sống. Việc lập kế hoạch và chọn kế hoạch hợp lý nhất để giải quyết vấn đề. Giáo viên kết hợp với gia đình các em để tổ chức việc học ở nhà được tốt. Tùy từng nội dung bài học mà giáo viên có thể sử dụng nhiều phương pháp, song phần lớn trong tiết học dành cho học sinh thực hành làm bài tập trong sách giáo khoa. Đối với học sinh khá giỏi cần khuyến khích cho học sinh giải bài toán bằng nhiều cách khác nhau và chọn cách giải hay nhất để ghi vào vở. Thường xuyên đi sâu đi sát những học sinh yếu để có những biện pháp giúp đỡ kịp thời. Giáo viên sử dụng các hình thức học tập theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học toán. * Học cá nhân ( ở trên lớp). - Học sinh hoạt động theo hướng dẫn của giáo viên. - Học sinh tự học với tài liệu, đồ dùng học toán để chiếm lĩnh tri thức mới, luyện tập thực hành theo khả năng của học sinh. Trong khi học cá nhân, từng học sinh có thể hỏi ý kiến, trao đổi với giáo viên. Giáo viên cũng có thể theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra một số học sinh... * Học theo nhóm: Tùy từng bài giáo viên có thể chia nhóm như sau: - Nhóm hỗn hợp : Loại nhóm này thường hoạt động đều trong các tiết học để các em có thể giúp đỡ lẫn nhau. - Nhóm theo trình độ: Thường áp dụng vào các tiết thực hành. - Giáo viên có thể phụ đạo học sinh yếu, kém đồng thời cũng bồi dưỡng học sinh khá, giỏi bằng cách cho các em làm thêm một số bài toán nâng cao. - Nhóm theo sở trường: Dành cho những đối tượng đặc biệt. Những hoạt động của cá nhân hợp tác hoạt động thành nhóm. Ở mỗi học sinh được trao đổi thảo luận với nhau, tự các em phát biểu ý kiến riêng của mình dưới sự giúp đỡ của bạn bè và sự hướng dẫn của giáo viên các em đi đến thống nhất trong nhóm. * Học theo lớp: Tất cả các ý kiến của các nhóm sẽ được trao đổi thảo luận rộng rãi hơn để tìm ra những kết luận hợp lý. Tại đây người giáo viên sẽ được thể hiện rõ vai trò trọng tài khoa học giúp các em phân biệt đúng hay sai, hợp lý hay chưa hợp lý, nên làm theo cách này hay cách kia… - Cuối tiết học giáo viên dành ít thời gian để tổ chức trò chơi học tập, cụ thể trong học kỳ I năm học 2009 - 2010 này tôi thực hiện tôi thực hiện phương pháp dạy học trên, tôi thấy các em tiếp thu bài tốt hơn và tạo động cơ chủ động về phía học sinh. VD1: Khi các em học giải các bài toán về phần trăm. Bài toán: Một cửa hàng có 600m vải. Buổi sáng bán được 12% số vải đó, buổi chiều bán được 8% số vải đó. Hỏi cả ngày hôm đó cửa hàng đã bán được bao nhiêu mét vải? + Học cá nhân: Học sinh đọc thầm đề toán, tự phân tích đầu bài toán, suy nghĩ tìm cách giải. + Học theo nhóm: Học sinh phát biểu ý kiến của cá nhân trong nhóm. - Bài toán cho biết gì ? - Bài toán yêu cầu tìm gì ? - Bài toán thuộc dạng toán nào ? - Nêu cách giải bài toán ? Học sinh phát biểu ý kiến của từng cá nhân trong nhóm và đi đến thống nhất ý kiến. + Học lớp: Giáo viên gọi đại diện các nhóm lên phát biểu ý kiến của nhóm mình, cụ thể: Nhóm 3 giải bài toán: Số vải bán cả ngày bằng: 12% + 8% = 20% (số vải cửa hàng có) Số mét vải bán cả ngày là: ĐS : 120m vải Nhóm 1 - 2 - 4 giải. 1% số vải là: 600 : 100 = 6 (m) Số vải cửa hàng đã bán cả ngày là: 6 x (12 + 8) = 120 (m). ĐS : 120m vải Giáo viên gọi học sinh các nhóm lên nhận xét 2 cách giải trên. Từ đó học sinh tự rút ra cách giải đơn giản hơn là nhóm 1- 2- 4 đã làm. VD2: Tính : 17,42 + 36,5 + 12,58 + Học cá nhân: Học sinh tự suy nghĩ tìm ra cách giải rồi thực hiện. + Học theo nhóm: Học sinh trao đổi ý kiến trong nhóm thựcc hành tính theo nhóm. + Học lớp: Giáo viên gọi đại diện các nhóm lên trình bày. + Cụ thể nhóm 1 làm như sau: 17,42 + 36,5 + 12,58 = 53,92 + 12,58 = 66,5 Nhóm 2, 3, 4: áp dụng tính chất giao hoán của phép cộng. 17,42 + 36,5 + 12,58 = 17,42 + 12,58 + 36,5 = 30 + 36,5 = 66,5 Giáo viên gọi đại diện các nhóm lên nhận xét cách tính của nhóm bạn. Từ đó học sinh tìm ra cách tính nhanh nhất nhóm 2, 3, 4 đã làm. Phần thứ ba KẾT QUẢ PHỔ BIẾN, ỨNG DỤNG Sau khi nghiên cứu và thực hiện đề tài áp dụng đề tài trên vào giảng dạy trong năm học vừa qua, tôi đã thu được một số kết quả như sau: Chất lượng môn Toán lớp tôi phụ trách: Môn Toán Thời Số HS Giỏi Khá TB Yếu điểm SL TL % SL TL % SL TL % SL TL % Đầu 35 4 11,43 7 20,00 21 60,00 3 8,57 năm Cuối 35 6 17,14 10 28,57 17 48,57 2 5,71 HKI Cuối 35 7 20,00 13 37,14 15 42,85 00 00 HKII Như vậy, qua bảng kết quả trên với việc đổi mới phương pháp giảng dạy mà bản thân tôi đã lựa chọn, phát hiện, sử dụng cách thức giảng dạy phù hợp với đặc điểm, đối tượng học sinh và gắn với từng nội dung, từng tiết học, từng bài học cụ thể. Từ đó kết quả học tập của học sinh được nâng lên rõ rệt so với đầu năm học. Muốn việc giảng dạy và học tập của thầy và trò được nâng cao, việc nghiên cứu tìm tòi là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Vì vậy thông qua giảng dạy và hướng dẫn học sinh học tập tôi đã rút ra những bài học cho bản thân là: 1. Người giáo viên phải có tâm huyết với nghề: Yêu nghề mến trẻ, luôn học hỏi, trau dồi kinh nghiệm cho bản thân thông qua trao đổi với đồng nghiệp. Luôn tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo, áp dụng những phương pháp dạy học có chất lượng, hiệu quả. Đó là phương pháp “ Lấy học sinh làm trung tâm”. 2. Giáo viên phải nắm chắc được những yêu cầu của bộ môn giảng dạy. 3. Giáo viên phải có sự chuẩn bị chu đáo ở tất cả các khâu phục vụ cho việc giảng dạy. Đồng thời hướng dẫn học sinh cùng suy nghĩ, quan sát nêu ra những ý kiến xác thực với nội dung bài. 4. Giáo viên phải chủ động sáng tạo, khéo léo trong việc áp dụng các phương pháp dạy học mới theo từng nội dung, từng phân môn, theo chủ đề và khả năng nhận thức của lứa tuổi, địa phương, điều kiện phát triển xã hội. 5. Thầy và trò phải có quan hệ hỗ trợ nhau trong giảng dạy và học tập nghiêm túc, thoải mái, lời nói cử chỉ giản dị, diễn cảm, phù hợp với nội dung. 6. Thầy và trò thường xuyên tiến hành luyện tập, ôn luyện có hệ thống khoa học, logic. 7. Phân chia được đối tượng học sinh để có kế hoạch cụ thể trong việc bồi dưỡng và phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh. 8. Cần gắn chặt kiến thức giảng dạy vào thực tế cuộc sống, sinh hoạt văn hóa của Việt Nam nói riêng và Quốc tế nói chung. Đặc biệt vào sinh hoạt văn hóa, khoa học kỹ thuật của địa phương. Nếu thực hiện được những bài học trên đây tôi tin chắc rằng chất lượng dạy và học của thầy và trò sẽ được nâng cao. Ngoài các biện pháp nêu trên cũng cần thường xuyên tổ chức chuyên đề, đặc biệt là đối với môn Toán. Giáo viên trong khối đưa ra các đề bài toán để các thành viên thảo luận, đưa ra các cách giải và tìm ra một cách giải ngắn gọn, dễ hiểu đối với các em. Trước khi lên lớp phải chuẩn bị kỹ bài giảng, tìm ra phương pháp dạy phù hợp với bài học và đối tượng học sinh. Tạo nghệ thuật lôi cuốn học sinh tập trung chú ý nghe giảng, kích thích tính tư duy suy nghĩ xây dựng bài tạo không khí học tập vui vẻ. Cần ý thức được nhiệm vụ học tập và vị trí, vai trò của môn Toán rất cần thiết cho các môn học khác và yêu cầu cuộc sống. Do vậy, các em phải chủ động tìm ra những phương pháp học phù hợp nhằm đem lại kết quả cao trong quá trình học tập. KẾT LUẬN Đối với người giáo viên tiểu học, vấn đề quan trọng là không chỉ truyền thụ cho học sinh những tri thức toán học mà còn phải tìm cách để học sinh lĩnh hội tri thức một cách toàn diện, đó chính là phương pháp học. Nếu không có phương pháp học đúng thì người học sẽ rơi vào tình trạng học vẹt theo một cách máy móc, nhắc lại kiến thức bài học mà không hiểu hoặc hiểu một các máy móc mơ hồ, nhanh quên. Trong hoạt động dạy học, người giáo viên ngoài việc tìm tòi phương pháp học đúng để lĩnh hội tri thức mới hình thành nên kỹ năng, kỹ xảo từ đó hoàn thành nhiệm vụ dạy học. Muốn học tốt môn toán nhưng lại không có phương pháp học đúng thì kết quả học toán sẽ không cao. Do vậy, muốn có phương pháp học tốt phù hợp với môn Toán là rất cần thiết. Đặc biệt là ở lứa tuỏi học sinh tiểu học. Có kết quả môn Toán cao là nhờ biết kết hợp các phương pháp học đúng giúp học sinh hiểu bài nhanh, sâu sắc và nhớ lâu. Năm Căn, ngày 10 tháng 10 năm 2010 Người viết Phạm Hữu Trí
- Xem thêm -