Skkn kinh nghiệm trong việc quản lý chuyên môn ở trường thcs bình tân

  • Số trang: 17 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: " KINH NGHIỆM TRONG VIỆC QUẢN LÍ CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG THCS BÌNH TÂN TRONG NĂM HỌC 2010 – 2011" I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Đặt vấn đề Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm của nhà trường, nó chiếm hầu hết thời gian lao động của thầy, trò và cán bộ quản lí nhà trường. Hoạt động dạy và học do các lực lượng chủ yếu của nhà trường là giáo viên, học sinh thực hiện cùng với sự tham gia, hổ trợ của cán bộ, nhân viên trong nhà trường. Hoạt động này diễn ra liên tục trong suốt năm học. Nó đòi hỏi sự chuyên sâu của thầy và sự tích cực của trò. Chính vì vậy việc quản lí hoạt động dạy và học nói riêng, quản lí chuyên môn nói chung là một trong những nhiệm vụ quan trọng của người cán bộ quản lí. Đặc biệt là trong năm học 2010-2011 này toàn ngành giáo dục nước nhà đang thực hiện chủ đề năm học “ Năm học tiếp tục đổi mới quản lí và nâng cao chất lượng giáo dục” và là năm tiếp tục thực hiện cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và “ Mỗi thầy, cô giáo là tấm gương đạo đức , tự học và sáng tạo”; “ Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, tiếp tục thực hiện phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” nên công tác quản lí chuyên môn trong nhà trường cần phải đổi mới tích cực hơn. Bên cạnh các mối quan hệ trong trường thì hoạt động chuyên môn là môi trường, là lĩnh vực để đội ngũ cán bộ giáo viên gắn kết nhau, cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ. Qua hoạt động chuyên môn từng cá nhân tự học tập, trao đổi, bổ sung cho nhau những kinh nghiệm và bài học để thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn, từng bước nâng cao chất lượng giờ dạy, cải tiến phương pháp giảng dạy theo hướng đổi mới. Chính vì vậy, việc chỉ đạo công tác chuyên môn một cách khoa học, kịp thời sẽ góp phần không nhỏ vào việc xây dựng đội ngũ có khả năng chuyên môn vững vàng là lực lượng nòng cốt trong hoạt động chủ đạo của nhà trường. Thực tế qua các năm làm công tác chuyên môn ở trường, tôi đã nhận thấy bên cạnh các giáo viên có năng lực, đạt chất lượng cao trong giảng dạy , hoàn thành tốt các nhiệm vụ, quy chế chuyên môn thì vẫn còn một số ít giáo viên chưa thực hiện tốt về nề nếp chuyên môn, chất lượng giảng dạy chưa cao và riêng bản thân tôi cũng còn hạn chế về mặt kinh nghiệm quản lí chuyên môn nên tôi mạnh dạn đi sâu tìm hiểu về đề tài “Một vài kinh nghiệm trong việc quản lí chuyên môn ở trường THCS Bình Tân trong năm học 2010 – 2011” 2. Mục đích đề tài Với khả năng bản thân có giới hạn, tôi hy vọng thông qua đề tài này đề xuất một vài kinh nghiệm trong việc quản lí chuyên môn nhằm góp phần từng bước nâng cao chất lượng hoạt động của nhà trường. Từ đó giúp nhà trường hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đội ngũ có ý thức và thực hiện tốt nề nếp, quy chế chuyên môn. 3. Lịch sử đề tài Đã có rất nhiều đề tài đề cập về công tác quản lí chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng hoạt động ở nhà trường. Song do đặc thù của từng vùng miền, điều kiện của từng trường mà việc áp dụng ở mỗi trường có hạn chế riêng. Đối với trường THCS Bình Tân, về đội ngũ đa số còn trẻ, điều kiện cơ sở vật chất đáp ứng cho nhu cầu dạy và học còn nhiều thốn thiếu thốn và bản thân mới làm công tác còn có ít kinh nghiệm và nhiều hạn chế nên ngay từ đầu năm học 2010-2011 tôi đã quyết tâm thực hiện đề tài này. 4. Phạm vi đề tài Có rất nhiều nội dung đề cập trong công tác quản lí chuyên môn như: xây dựng kế hoạch chuyên môn, tổ chức hoạt động, điều hành hoạt động chuyên môn, kiểm tra hoạt động chuyên môn ...Nhưng trong khuôn khổ đề tài này tôi chỉ nghiên cứu chủ yếu ở khía cạnh quản lí chương trình dạy học, quản lí hoạt động dạy của giáo viên trong nhà trường. II. NỘI DUNG CÔNG VIỆC ĐÃ LÀM 1. Thực trạng về đội ngũ CB.GV và công tác quản lí chuyên môn Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên là 25, trong đó chia ra: - Ban giám hiệu : 02 - Giáo viên trực tiếp đứng lớp: 19 - Thư viện: 01 - Thiết bị: 01 - Nhân viên: 02 Tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn 100%, có 05 giáo viên trên chuẩn, 08 giáo viên đang học đại học. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trẻ cả tuổi đời lẫn tuổi nghề: - Công tác dưới 5 năm : 05 - Công tác từ 5- 10 năm: 14 - Công tác trên 10 năm: 06. Đa số đội ngũ cán bộ, giáo viên luôn năng động, nhiệt tình trong công tác, có tinh thần học tập cao, có ý chí phấn đầu tốt. Bên cạnh đó một vài giáo viên vẫn còn hạn chế nhiều về việc thực hiện nề nếp, quy chế chuyên môn. Cụ thể thông qua kiểm tra hồ sơ và dự giờ giáo viên đầu năm: + Dự giờ: 4 tiết, đánh giá xếp loại tiết dạy: 1G, 3K. Nhìn chung các tiết dự giờ, bản thân người dạy chưa chuẩn bị chu đáo, lường trước và xử lí tốt các tình huống xảy ra trên lớp, chưa kết hợp tốt các phương pháp bộ môn để làm nổi bật đựơc trọng tâm bài dạy, chưa phát huy có hiệu quả tốt các đồ dùng, khâu kiểm tra đánh giá học sinh thực hiện chưa tốt còn mang tính hình thức.... + Kiểm tra hồ sơ hồ sách giáo viên ( giáo án, sổ kế hoạch giảng dạy theo tuần, sổ điểm, sổ dự giờ thăm lớp, sổ chủ nhiệm – nếu có): 6 GV trong đó 2 hồ sơ xếp loại tốt, 2 hồ sơ xếp loại đạt yêu cầu, 2 hồ sơ xếp loại chưa đạt yêu cầu, chưa đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về hồ sơ và các quy định về chuyên môn. Qua quá trình tìm hiểu thực tế, trao đổi với giáo viên, tổ trưởng tổ chuyên môn, tôi nhận thấy nguyên nhân của tình trạng trên là: + Một bộ phận nhỏ giáo viên chưa nắm vững các quy định về chuyên môn do có một số các văn bản hướng dẫn chỉ đạo của cấp trên có sự điều chỉnh, thay đổi nhiêù lần nên giáo viên còn nhầm lẫn. (nhất là hướng dẫn đánh giá, xếp loại học sinh ) + Do lực lượng giáo viên đa số còn trẻ nên kinh nghiệm trong công tác chưa nhiều, còn một số giáo viên phải đảm nhận bộ môn cả 4 khối lớp nên khó khăn trong việc đầu tư hiệu quả tiết dạy và sinh hoạt trao đổi kinh nghiệm chuyên môn. + Còn một vài giáo viên còn chậm đổi mới phương pháp dạy học, việc chuẩn bị giờ dạy trên lớp chưa tốt, chưa khai thác có hiệu quả đồ dùng dạy học hiện có, việc tổ chức tiết dạy trên lớp chưa được sôi nổi, gây hứng thú lôi cuốn học sinh... 2. Nội dung cần giải quyết: Trước những nguyên nhân trên, với vai trò là một cán bộ quản lí phụ trách về mặt chuyên môn, bản thân tôi thấy cần phải thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau: + Nghiên cứu và chỉ đạo sâu sát việc thực hiện tốt chương trình giảng dạy các bộ môn. + Thực hiện tốt việc kiểm tra công tác chuẩn bị và thực hiện giờ dạy trên lớp của giáo viên một cách thường xuyên và kịp thời. + Quản lí tốt việc giáo viên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh... 3. Biện pháp giải quyết: 3.1/ Nghiên cứu và chỉ đạo sâu sát việc thực hiện tốt chương trình giảng dạy các bộ môn. Vậy chương trình dạy học là gì? Chương trình dạy học là các văn kiện có tính pháp qui do Nhà nước ban hành, trong đó quy định một cách cụ thể: + Vị trí môn học trong kế hoạch dạy học. + Mục đích yêu cầu của môn học ( yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ, hành vi) + Nội dung các môn học (các phần, các chương, các bài) + Kế hoạch thời gian: số tiết dành cho từng phần, từng chương, từng bài cũng như số tiết dành cho ôn tập, kiêm tra, thực hành …. + Giải thích chương trình và hướng dẫn thực hiện chương trình. Như vậy thực hiện chương trình dạy học là thực hiện kế hoạch đào tạo theo mục tiêu đào tạo của nhà trường. Về nguyên tắc, chương trình dạy học là pháp lệnh của Nhà nước do bộ GD&ĐT ban hành, người giáo viên phải thực hiện nghiêm chỉnh, không được tuỳ tiện thay đổi, thêm bớt làm sai lệch chương trình dạy học. Do đó để quản lí việc thực hiện chương trình học, bản thân tôi phải thực hiện các công việc sau: - Triển khai đầy đủ, kịp thời sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT Long An, PGD&ĐT Mộc Hoá về việc thực hiện quy chế chuyên môn, về thực hiện chương trình giảng dạy các bộ môn … ngay cuộc họp chuyên môn đầu năm để toàn thể hội đồng sư phạm nắm và thực hiện, đặc biệt là năm học này là việc triển khai công văn 1418 /SGDĐT- GDTrH ngày 06/9/2010của Sở GD&ĐT Long An về việc hướng dẫn thực hiện quy chế chuyên môn cấp trung học, đây là công văn triển khai tương đối đầy đủ về việc thực hiện quy chế chuyên môn và thực hiện chương trình giảng dạy. - Bản thân cố gắng nghiên cứu chương trình cơ bản toàn cấp học, các môn học (chú ý những chỉ đạo điều chỉnh nội dung chương trình của Bộ, Sở), dự kiến tiến trình thực hiện chương trình ( chú ý các thời điểm quan trọng: khai giảng, kết thúc học kì 1, kết thúc học kì 2, chuẩn bị xét tốt nghiệp THCS …) những vấn đề trọng tâm trong việc thực hiện chương trình theo sự chỉ đạo của cấp trên để kịp thời hướng dẫn giáo viên những vấn đề khó trong chương trình, giải đáp những thắc mắc, giúp đỡ giáo viên thực hiện chuyên môn. - Hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch bộ môn theo mẫu như sau: II. Kế hoạch thực hiện kiểm tra: - Sử dụng thời khoá biểu để điều khiển và kiểm soát việc thực hiện tiến độ chương trình của tất cả các môn học cho đồng đều, cân đối giữa các lớp tránh sự so le, thiếu giờ, thiếu bài, kịp thời xử lí hàng ngày các sự cố ảnh hưởng tới việc thực hiện chương trình dạy học, tránh việc thay đổi thời khoá biểu quá nhiều lần, việc thay đổi nhiều sẽ phá vỡ nề nếp dạy của thầy và học của trò, làm cho thầy có thể quên giờ lên lớp, trò quên mang sách vở và chuẩn bị bài. Vì vậy theo phân công nhiệm vụ trong Hội đồng sư phạm đầu năm, tôi phải tiến hành lập thời khoá biểu kịp thời, tương đối hợp lí tạo được sự cân đối trong hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của học sinh, đảm bảo quyền lợi của GV và quyền lợi học tập của học sinh, các giáo viên đi không quá nhiều buổi trên một tuần hoặc bị kê tiết quá nhiều, chú ý đến hoàn cảnh, nguyện vọng của giáo viên nhất là giáo viên có con nhỏ, hoàn cảnh khó khăn ( không nghĩ từ 2 ngày chuyên môn trở lên) để họ có thời gian đầu tư tốt vào việc soạn giảng, hoặc trong một ngày không thể xếp cho một giáo viên quá nhiều giờ, điều đó ảnh hưởng đến chất lượng giờ dạy của họ, còn thời khoá biểu trong một ngày mà học sinh lên lớp phải có các tiết khoa học tự nhiên và khoa học cân đối, tuyệt đối không bố trí một buổi toàn các tiết khoa học tự nhiên hoặc toàn các tiết khoa học xã hội để tránh tâm lí căng thẳng nặng nề đối với học sinh vì một ngày toàn là các tiết mà các em phải làm bài tập hoặc phải học toàn là lí thuyết . - Ngoài ra cần phải theo dõi thường xuyên việc thực hiện chương trình của giáo viên thông qua lịch báo giảng, sổ đầu bài, sổ điểm, dự giờ và cả sổ báo bài mà học sinh ghi chép hàng tuần để xem giáo viên thực hiện chương trình có đầy đủ kịp thời, … Bên cạnh đó hàng tháng các tổ chuyên môn báo cáo việc thực hiện chương trình của giáo viên trong tổ, tình hình học tập và rèn luyện của các lớp. Nếu phát hiện được các trường hợp thực hiện chưa đúng hoặc chưa có những kiến nghị xác đáng thì trao đổi đến giáo viên bộ môn và yêu cầu giáo viên khắc phục kịp thời. 3.2/ Thực hiện tốt việc kiểm tra công tác chuẩn bị và thực hiện giờ dạy trên lớp của giáo viên một cách thường xuyên, kịp thời. a. Đối với việc chuẩn bị gìơ dạy lên lớp của giáo viên: Việc chuẩn bị giờ dạy trên lớp quyết định chất lượng gìơ trên lớp và chất lượng quá trình dạy học. Việc giáo viên tự chuẩn bị các gìơ dạy lên lớp là việc vô cùng quan trọng trong qui trình lao động sư phạm. Việc tự chuẩn bị của giáo viên là một khâu lao động trí óc độc lập, giáo viên có thể tự quyết định thực hiện ở nhà hay ở trường (nơi có điều kiện thuận lợi nhất). Nếu người giáo viên không có đầy đủ tinh thần trách nhiệm, không có chế độ làm việc trong ngày rõ ràng, không chuẩn bị sớm các giờ lên lớp thì công việc sẽ hời hợt và mang tính hình thức. Do đó quan tâm đến chất lượng gìơ lên lớp thì trước tiên phải quan tâm đến chất lượng việc chuẩn bị giờ trên lớp của giáo viên. Sự chuẩn bị của giáo viên càng chu đáo thì kết quả dạy học càng ít sai sót. Quản lí việc chuẩn bị giờ lên lớp là một hoạt động quản lí cần thiết để nâng cao hoạt động quản lí cần thiết để nâng cao hiệu quả của việc dạy và học. Do đặc điểm đặc thù trên của lao động sư phạm nên công tác chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên thực hiện ở nhà và gắn với thời gian rãnh rỗi của họ. Vì vậy , đây là khâu khó quản lí đối với người làm công tác quản lí chuyên môn, buộc ngưòi cán bộ quản lí phải cần hiểu rõ trong hàng loạt công việc để chuẩn bị cho giờ lên lớp cần hướng dẫn những việc cần làm ngay từ đầu năm học như : - Triển khai các yêu cầu cần đạt về soạn giảng: đảm bảo 100% giáo viên lên lớp giảng dạy phải có giáo án, giáo án thực sự là một bản thiết kế một giờ lên lớp đòi hỏi tính chính xác, rõ ràng về nội dung, phong phú về phương pháp dạy học, giáo án GV phải thực hiện đúng phân phối chương trình . Hình thức, bố cục giáo án: giáo án dạy học phải soạn theo hình thức đổi mới với trình tự: + Mục tiêu cần đạt + Chuẩn bị của GV và HS + Tổ chức hoạt động dạy và học + Củng cố, hướng dẫn học sinh tự học ở nhà Bài soạn phải khoa học, sắp xếp hợp lí các hoạt động của giáo viên và học sinh, thiết kế hệ thống câu hỏi hợp lí, tập trung vào trọng tâm, vừa sức tiếp thu của học sinh ( nhất là đối với bài dài, bài khó, nhiều kiến thức mới); bồi dưỡng năng lực độc lập suy nghĩ , vận dụng sáng tạo kiến thức đã học , tránh thiên về ghi nhớ máy móc không nắm vững kiến thức; có thể soạn theo hình thức chia cột hoặc không chia cột nhưng sao cho thể hiện ĐMPPDH. Bài soạn ở những tiết ôn tập phải có hệ thống kiến thức trong chương, có tổ chức cho HS hoạt động ôn tập, tránh trường hợp GV chỉ ghi lại một loạt các câu hỏi và đáp án, không thể hiện được giờ dạy trên lớp Phải thực hiện nghiêm túc việc lồng ghép GDMT, GDHN, sử dụng tiết kiệm năng lượng,“ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” vào trong bài dạy nếu có. Bài soạn thực hành GV cần chú trọng , đảm bảo đủ các yêu cầu của tiết thực hành, có hướng dẫn chấm và biểu điểm Đối với những bài từ 2 tiết trở lên, phải chia thành từng tiết cụ thể. Phải có phần củng cố ở mỗi tiết Ở mỗi đầu chương phải có mục tiêu cần đạt ( kiến thức, kĩ năng, thái độ) Bài soạn phải có ngày soạn, ngày dạy, tuần, tiết ( theo PPCT). Phải sạch, đẹp, không sai lỗi chính tả Đối với giáo án soạn vi tính phải có tên giáo viên, năm học ( ở mục Borders and Shading) và có đánh dấu số trang. Bài soạn của đồng nghiệp chỉ có thể sử dụng tham khảo không được photo. Việc kiểm tra giáo án nói riêng và hồ sơ chuyên môn của giáo viên nói chung ở trường được được ban giám hiệu , tổ trưởng chuyên môn phân công nhau kiểm tra, theo dõi hàng tháng và có nhận xét góp ý cụ thể để giáo viên kịp thời khắc phục các hạn chế, thiếu sót. - Chuẩn bị chu đáo đồ dùng dạy học trên lớp: đảm bảo 100% giáo viên chuẩn bị tốt những đồ dùng dạy học cần thiết, các loại sổ sách chuyên môn…. Chú ý sử dụng đồ dùng dạy học đây là yêu cầu quan trọng nhất phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá giáo viên, cương quyết xử lí giáo viên không sử dụng đồ dùng dạy học ở các tiết dạy có thiết bị, đồ dùng dạy học (ĐDDH ) theo danh mục của Bộ. Do đó giáo viên cần chuẩn bị trước ĐDDH trước ngày dạy bằng cách gởi phiếu mượn thiết bị vào chiều thứ sáu của tuần trước về phòng thiết bị và trong lịch báo giảng yêu cầu phải ghi ĐDDH sẽ sử dụng trong tiết dạy. Nếu ĐDDH bị hư hỏng cần kết hợp với nhân viên thiết bị kiểm tra thật kĩ, sữa chữa, nếu thiết bị nào hư hỏng hoàn toàn không sữa chữa được hoặc có nhu cầu mua sắm thêm thì lập bảng để nghị để nhân viên thiết bị kịp thời lập bảng kế hoạch đề nghị mua sắm chung toàn trường vào đầu năm học, đầu học kì. Bên cạnh đó mỗi giáo viên phải làm 01 đồ dùng dạy học trong năm để tham gia đồ dùng dạy học cấp trường, nếu có ý tưởng và có hiệu quả phục vụ cho tiết dạy sẽ tiếp tục đầu tư để tham gia hội thi đồ dùng do cấp trên tổ chức. b. Đối với giờ dạy trên lớp: Hoạt động dạy học được thể hiện chủ yếu bằng hình thức dạy học trên lớp với những giờ lên lớp và hệ thống bài học. Giờ lên lớp của giáo viên phản ánh toàn bộ những gì họ đã tích luỹ được, đã nghiền ngẫm, đã luyện tập đồng thời cũng là lúc thể hiện tinh thần trách nhiệm nơi họ. Trong giờ dạy trên lớp, mỗi công việc, mỗi thái độ biểu thị trước học sinh của giáo viên đều là những chi tiết thể hiện phương pháp dạy học, phương pháp đó còn được thể hiện ở sự hài hoà giữa công việc của thầy và trò, ở sự cân đối giữa các khâu công việc của thầy ( giảng kiến thức mới và luyện tập kĩ năng, truyền thụ và kiểm tra); ở sự đúng lúc, đúng mức độ của thái độ động viên khuyến khích hoặc chê trách học sinh. Trong giờ học, hoạt động trí tuệ của học sinh giữ vị trí quan trọng và nó chỉ nảy sinh khi các em đứng trước một nhiệm vụ, một công việc rõ ràng và hợp với trình độ. Vì vậy khi lên lớp giáo viên phải động viên được các chức năng tâm lí, khai thác đầy đủ những nét tích cực của mỗi học sinh để các em biến khối lượng thông tin đã thu nhận được thành vốn hiểu biết của chính mình. Chính vì tầm quan trọng của giờ lên lớp nên không chỉ người giáo viên mà cả người cán bộ quản lí đều tập trung sự chú ý, mọi cố gắng của mình vào giờ lên lớp nhưng mỗi người có vai trò riêng, trực tiếp quyết định kết quả giờ lên lớp vẫn là người giáo viên và giờ học là yếu tố quan trọng cơ bản có tính chất quyết định kết quả đào tạo giáo dục của nhà trường. Do đó ngay từ đầu năm học, mỗi giáo viên nhà trường đều phải thực hiện bản cam kết thực hiện đổi mới phương pháp, không dạy học theo kiểu “ thầy đọc trò chép “ hoặc ghi chi tiết lên bảng cho học sinh chép, đưa tài liệu cho học sinh đọc các em học sinh chép, không dạy trước các tiết dự giờ, thao giảng…. Để quản lí được họat động này bản thân tôi rất quan tâm đến việc dự giờ và phân tích giờ dạy cùng với tổ chuyên môn. Thực hiện theo kế hoạch của nhà trường về kế hoạch dự gìơ, thao giảng ( 2 tiết ĐMPP/GV/HK, 2 tiết thao giảng/GV/HK) nên ngay từ đầu năm học tôi đã kết hợp với các tổ chuyên môn ( để tránh lịch dự giờ quá dày đặc đối với một giáo viên vì một số GV đảm nhận rất nhiều khối lớp) lên kế hoạch dự gìơ, thao giảng của giáo viên theo mẫu sau: KẾ HOẠCH DỰ GIỜ, THAO GIẢNG HỌC KÌ….NĂM HỌC 2010 – 2011. Dựa vào kế hoạch dự giờ, thao giảng trên mà hàng tuần bản thân tôi cùng với tổ chuyên môn tiến hành dự giờ trên lớp. Việc dự giờ này được thực hiện theo các hình thức khác nhau: + Dự giờ các giáo viên cùng bộ môn ( nếu có ít nhất 2 giáo viên/ môn giảng dạy) để so sánh trình độ của họ, phát hiện những ưu, nhược điểm chính của mỗi người. Đồng thời phát hiện ra ( nếu có) vấn đề về phương pháp dạy - học môn đó của giáo viên và học sinh trong toàn trường. + Dự giờ tất cả các giáo viên các bộ môn ở cùng một lớp nhằm tìm hiểu thái độ, kết quả học tập của học sinh lớp đó. + Dự giờ theo chuyên đề nhằm nắm chắc trình độ của một giáo viên, một lớp học sinh hay một tổ bộ môn nhằm rút kinh nghiệm về một nội dung nào đó. Điều thuận lợi là trường đã xây dựng và triển khai được quy trình tiết dự giờ, thao giảng đến hội đồng sư phạm ở các năm học trước nên ở phạm vi đề tài này tôi không đề cập lại. Thông qua dự giờ bản thân tôi có thể kiểm tra trình độ nghiệp vụ sư phạm, kĩ năng sư phạm của giáo viên * Trình độ nghiệp vụ sư phạm: Xem xét trình độ nắm vững mục đích, yêu cầu chương trình, nội dung giảng dạy, vị trí của bài giảng trong chương trình. Mức độ nắm vững kiến thức, kĩ năng bài dạy , xác định trọng tâm, yêu cầu tối thiểu cho cả lớp và những vấn đề có thể mở rộng nâng cao đối với học sinh khá giỏi. - Việc giáo dục thái độ, tình cảm cho học sinh thông qua bài dạy. - Cấu trúc của bài dạy của giáo viên có hợp lí không? - Mục tiêu của bài dạy có đạt được không? * Kĩ năng sư phạm của giáo viên: Chọn và sử dụng các phương pháp giảng dạy có phù hợp đặc điểm của môn học và của học sinh hay không? Biết xác định rõ ràng các mục tiêu, từ đó đặt vấn đề, đưa ra hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh tự tìm tòi sáng tạo để nắm chắc kiến thức, rèn kĩ năng. Việc sử dụng ngôn ngữ có trong sáng, dễ hiểu hay không? Sử dụng và kết hợp tốt các phương tiện, thiết bị dạy học phù hợp với nội dung kiểu bài lên lớp chưa? Giáo viên tổ chức và điều khiển học sinh học tập có tích cực, chủ động với nội dung của kiểu bài , với các đối tượng học sinh học sinh chưa? Có làm chủ khi xử lí các tình huống sư phạm hay không? Có hướng dẫn chu đáo học sinh tự học ở nhà không?.... Việc phân tích trao đổi cần giúp cho giáo viên thấy được những ưu, nhược điểm của mình để phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm. Đặc biệt khi tiến hành phân tích, đánh giá giờ dạy tôi lưu ý người dự cần ghi chép cụ thể những ý kiến nhận xét của mình, những ý kiến cần góp ý cho giáo viên để chuẩn bị cho cuộc trao đổi với giáo viên đạt hiệu quả cao nhất. Khi trao đổi với giáo viên không tiến hành đơn phương bằng những nhận xét của bản thân mà cùng giáo viên trao đổi, tìm đến những điều quyết định tối ưu để nâng cao hiệu quả giờ dạy, cần chú ý đặc biệt đến thái độ của mình trong khi trao đổi, đánh giá gìơ dạy của giáo viên, biết nhận ra những dụng ý tốt, những cố gắng của giáo viên, biết cùng giáo viên tìm ra những điều chưa tốt, chưa đáp ứng yêu cầu sư phạm để giúp giáo viên khắc phục các thiếu sót và phát huy những ưu điểm. 3.3/. Quản lí tốt việc giáo viên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh Trong quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là một khâu quan trọng nhằm xác định thành tích học tập và mức độ chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, thái độ học tập của học sinh. Đối với học sinh, nó có tác dụng thúc đẩy quá trình học tập phát triển không ngừng, qua kết quả này học sinh tự đánh giá mức độ đạt được và tự mình ôn tập, củng cố , hoàn thiện các nội dung mà các em còn hạn chế, hình thành thái độ học tập tích cực. Riêng đối với giáo viên, kết quả đó vừa phản ánh thành tích học tập của học sinh vừa giúp giáo viên tự đánh giá vốn tri thức, trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm của mình đối với học sinh. Chính vì vậy mà người cán bộ quản lí cần phải nắm được tình hình giáo viên kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh như thế nào? Để giáo viên thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, tôi đã thực hiện một số công việc sau: - Thông qua sinh hoạt chuyên môn, tuyên truyền phổ biến lại cho giáo viên nắm bắt được ý nghĩa, tầm quan trọng, chức năng và các yêu cầu sư phạm của việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh. - Tổ chức cho giáo viên học tập nắm vững quy định về kiểm tra, thi, ghi điểm, đánh giá xếp loại học lực của học sinh theo các quy định, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT Long An (QĐ 40/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5 tháng 10 năm 2006 của Bộ GD&ĐT, CV 1418 /SGDĐT- GDTrH ngày 06/9/2010của Sở GD&ĐT Long An về việc hướng dẫn thực hiện quy chế chuyên môn cấp trung học ….) - Tổ chức kiểm tra, thi đúng quy chế. Tất cả các đề kiểm tra 15 phút, 1 tiết, kiểm ra học kì phải được Ban giám hiệu hoặc tổ khối duyệt trước khi giáo viên tổ chức cho học sinh kiểm tra. Đề kiểm tra định kì, học kì phải có mục tiêu cần đạt, thành lập ma trận đề, có hướng dẫn chấm cụ thể. Hình thức ra đề kiểm tra thường xuyên, định kì là loại đề tự luận hoặc loại đề kết hợp tự luận và trắc nghiệm khách quan. Riêng đối với đề kiểm tra học kì, hình thức đề là kiểu đề tự luận hướng vào vận dụng và thực hành dựa trên chuẩn kiến thức, kĩ năng của từng môn hoc, từng khối lớp. - Nhấn mạnh lại yêu cầu của đề kiểm tra: nội dung đề kiểm tra đánh giá phải hướng vào mục tiêu toàn diện và vận dụng, thực hành lí thuyết, tuyệt đối không ra đề mang tính lý thuyết buộc học sinh phải viết lại những điều đã học thuộc lòng; cần tích cực nghiên cứu các nội dung tập huấn , tài liệu về nội dung kiểm tra đánh giá, tài liệu chuẩn kiến thức khi ra đề; yêu cầu của đề kiểm tra cần phù hợp ở 3 mức độ: biết, thông hiểu và vận dụng sáng tạo( Bài kiểm tra cuối học kì dành tối thiểu 50% làm bài cho các nội dung thông hiểu, vận dụng sáng tạo) + Đối với các môn KHXH cần tăng cường ra đề mở nhằm kiểm tra mức độ thông hiểu và vận dụng sáng tạo kiến thức để giải quyết vấn đề và tạo cơ hội cho học sinh biểu đạt chính kiến của bản thân khi làm bài. Đối với các môn KHTN cần phát triển kỹ năng tư duy, thực hành, thói quen vận dụng sáng tạo - Quy định giáo viên chấm bài, trả bài đúng hạn ( sau một tuần đối với kiểm tra 15 phút, kiểm tra 1 tiết trả theo đúng quy định trong phân phối chương trình), cho điểm công khai tại lớp đối với kiểm tra miệng. Riêng đối với các bài kiểm tra viết cần có nhận xét chung cho toàn lớp và lời phê riêng cho từng bài, khi trả bài cần yêu cầu học sinh sữa lỗi nếu mắc phải (đối với các tiết trả bài có trong phân phối chương trình) Bên cạnh đó, tôi còn kiểm tra tình hình giáo viên thực hiện việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh như thế nào thông qua việc dự giờ, xem xét hồ sơ của giáo viên ở các mặt sau: Giáo viên có lên lịch kiểm tra kịp thời không thông qua lịch báo giảng hàng tuần, kế hoạch thực hiện kiểm tra trong các học kì. Giáo viên có lưu đề kiểm tra, đáp án chấm và những nhận xét sau khi chấm bài không? Việc thực hiện kiểm tra của giáo viên có đúng tiến độ không? Số cột điểm ở mỗi thời kì như kiểm tra miệng, viết 15 phút, viết một tiết, kiểm tra thực hành có đủ không? Giáo viên chấm và trả bài có đúng thời hạn không? Bài chấm có lời phê đầy đủ không? Trong giờ học giáo viên có vận dụng cho điểm khi học sinh trả lời vấn đáp, xây dựng bài một cách thoả đáng, động viên được tinh thần học tập của học sinh hay không?.... Với việc thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh mà giáo viên trực tiếp giảng dạy trên lớp đã phát hiện được học sinh giỏi để bồi dưỡng và học sinh yếu kém để có kế hoạch phụ đạo kịp thời , từng bước dần nâng cao chất lượng giáo dục tại nhà trường. 4. Kết quả đạt được Qua một năm áp dụng một vài biện pháp trên vào thực tiễn công tác quản lí chuyên môn tại đơn vị, bản thân tôi thấy việc thực hiện chuyên môn đi vào nề nếp, giáo viên tích cực trong giảng dạy, một số giáo viên còn hạn chế về chuyên môn trong các năm trước và đầu năm học này đã có những chuyển biến tốt, cụ thể: + 100% giáo viên đảm bảo thực hiện đầy đủ chương trình giảng dạy, không có trường hợp nào cắt xén chương trình. + 100% GV thực hiện đúng, đạt yêu cầu về qui định chuyên môn, số lượng hồ sơ chuyên môn đạt tốt trên 60%. Việc kiểm tra đánh giá học sinh có chất lượng sát thực hơn + Dự giờ: 32 tiết. Kết quả đánh giá xếp loại như sau: 21 tiết giỏi, 10 tiết khá, 1 tiết trung bình. Nhìn chung giáo viên rất chu đáo từ khâu chuẩn bị và thực hiện giờ dạy trên lớp, rất tích cực trong việc thực hiện đổi mới phương pháp, phát huy có hiệu quả đồ dùng dạy học trên lớp, tổ chức điều khiển lớp học sinh học tập tích cực… + Kết quả thi lí thuyết và thi giảng giảng dành cho CSTĐCT, CSTĐCS: Tổng số GV dự thi 14 11 Số GV thi lí thuyết đạt Số GV thi giảng đạt tiết giỏi 10 - Chất lượng giáo dục: + Học lực: 35,98% Giỏi; 38,1% Khá; 24,34% Trung bình; 1,06% yếu; 0,52% kém. + Hạnh kiểm: 79,89% Tốt; 16,4% Khá; 3,71% Trung bình, không có hạnh kiểm yếu. + Học sinh giỏi cấp huyện: 03 học sinh, cấp tỉnh : 04 học sinh. III. KẾT LUẬN 1. Tóm lược giải pháp Quản lí chuyên môn chính là quản lí việc giảng dạy và các họat động khác của giáo viên. Để hoạt động chuyên môn đi vào nề nếp cũng như thúc đẩy chất lượng hoạt động của nhà trường thì người quản lí chuyên môn phải thực hiện một vài biện pháp cơ bản sau: - Nghiên cứu và chỉ đạo sâu sát việc thực hiện tốt chương trình giảng dạy các bộ môn, nắm vững những vấn đề trọng tâm trong việc thực hiện chương trình theo sự chỉ đạo của cấp trên để kịp thời hướng dẫn giáo viên những vấn đề khó trong chương trình, giải đáp những thắc mắc, giúp đỡ giáo viên thực hiện chuyên môn và để quản lí, giúp giáo viên thực hiện đúng và đủ chương trình cả về mặt tiến độ thời gian và chất lượng - Thực hiện tốt việc kiểm tra công tác chuẩn bị và thực hiện giờ dạy trên lớp của giáo viên. Bởi vì soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp là một khâu quan trọng của dạy học, đó là sự lựa chọn của giáo viên về nội dung (kiến thức cơ bản , kiến thức trọng tâm, lôgic của khoa học), về phương pháp giảng dạy thể hiện những hoạt động của thầy, những hoạt động của trò, về hình thức tổ chức dạy học ( ở lớp, ở phòng thí nghiệm thực hành, học ngoài thiên nhiên) …, việc chuẩn bị giờ lên lớp tốt sẽ quyết định một phần thành công của giờ lên lớp. Do đó người cán bộ quản lí cần chỉ đạo giáo viên, tổ trưởng chuyên môn tổ chức tốt khâu chuẩn bị giờ lên lớp và quan tâm đầu tư một cách thích đáng cho giờ lên lớp, qua kiểm tra giờ dạy trên lớp không chỉ thấy được các nhược điểm, thiếu sót của giáo viên mà còn phát hiện những kinh nghiệm, những sáng tạo của giáo viên để phổ biến lại, học tập lẫn nhau. Qua dự giờ phát hiện ra những vấn đề trao đổi giữa giáo viên với nhau, quan hệ giữa các bộ phận trong nhà trường phục vụ cho công tác dạy học giúp cho người quản lí có những nhận xét khách quan, trung thực hơn về tình hình thực hiện giờ lên lớp để có những quyết định quản lí phù hợp cho công tác quản lí giờ lên lớp của mình. - Quản lí tốt việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh không chỉ nhằm mục đích đánh giá thực trạng, điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn tạo điều kiện nhận định, điều chỉnh hoạt động của thầy, giúp người cán bộ quản lí đánh giá sát hơn về kết quả đào tạo của hoạt động dạy học cả về định lượng lẫn định tính… 2. Phạm vi áp dụng Là cán bộ quản lí chuyên môn năm thứ tư nên kinh nghiệm của bản thân còn nhiều hạn chế, song với việc thực hiện đề tài này tại trường mà tôi đang công tác, tôi thấy bước đầu có hiệu quả. Và tôi hy vọng đề tài này có thể áp dụng cho tất cả các trường THCS , đặc biệt là các trường vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới để góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn nói riêng và chất lượng giáo dục của nhà trường nói chung. 3. Kiến nghị - Sở GD&ĐT Long An, Phòng GD&ĐT Mộc Hoá cần tổ chức các buổi học tập, trao đổi dành cho cán bộ quản lí để tạo điều kiện cho lớp cán bộ quản lí trẻ học tập, rút kinh nghiệm từ đội ngũ cán bộ quản lí có nhiều kinh nghiệm, thành tích tốt để từng bước nâng cao chất lượng trong công tác quản lí hoặc giới thiệu, chia sẽ các sáng kiến kinh nghiệm có giá trị trong việc thực hiện chuyên môn. - Cần xây dựng thêm cho trường các phòng chức năng, phòng bộ môn, trang bị thêm các đồ dùng dạy học ( khối 8,9) với độ chính xác tương đối cao, các phần mềm, sách tham khảo phục vụ cho công tác quản lí nói chung và giảng dạy nói riêng…. Trên đây là một vài kinh nghiệm trong việc quản lí chuyên môn mà bản thân tôi đã áp dụng thực hiện trong năm học này. Do thời gian nghiên cứu chưa nhiều và bản thân còn nhiều hạn chế nên đề tài này không khỏi những thiếu xót. Rất mong và trân trọng đón nhận sự đóng góp của hội đồng khoa học, quý đồng nghiệp. Xin chân thành cảm ơn. MỤC LỤC I/ Lý do chọn đề tài: 1. Đặt vấn đề Trang 1 2. Mục đích đề tài Trang 1 3. Lịch sử đề tài Trang 1 4. Phạm vi đề tài Trang 2 II/ Nội dung công việc: 1. Thực trạng đề tài Trang 3 2. Nội dung cần giải quyết 3. Biện pháp giải quyết Trang 4 4. Kết quả Trang 13 Trang 4 III/ Kết luận: 1. Tóm lược giải pháp 2. Phạm vi áp dụng 3. Kiến nghị Trang 14 Trang 14 Trang 15 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình nghiệp vụ quản lí trường phổ thông – Tập 1,2,3 của Trường Cán bộ quản lí Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Minh. 3. Lí luận quản lí giáo dục - Trường Cán bộ quản lí Giáo dục Thành phố Hồ Chí Giáo trình bồi dưỡng Hiệu trưởng trường THCS – Nhà xuất bản Hà Nội.
- Xem thêm -