Skkn công tác chủ nhiệm trong nhà trường phổ thông hiện nay

  • Số trang: 18 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 19 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI Trường THPT NGUYỄN TRÃI --o0o-Mã số: SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY Người thực hiện: HOÀNG THANH Lĩnh vực nghiên cứu: Quản lý giáo dục Phương pháp giảng dạy bộ môn: Có dính kèm:  Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh Năm học: 2012 – 2013  Hiện vật khác SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC I. Thông tin chung về cá nhân: 1. Họ và tên: HOÀNG THANH 2. Ngày tháng năm sinh: 24/01/1957 3. Nam Nữ: Nam 4. Địa chỉ: THPT Nguyễn Trãi –BH,ĐN 5. Điện thoại: CQ: 0613. 884351 ; DĐ: 0919.005997 6. Fax: 7. Chức vụ: Chủ tịch Công đoàn 8. Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Trãi II. E-Mail: Trình độ đào tạo: - Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân - Năm nhận bằng: 1985 - Chuyên ngành đào tạo: Sư phạm Tiếng Anh III. Kinh nghiệm khoa học: - Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Tiếng Anh - Số năm có kinh nghiệm: 28 năm - Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây: + Phương pháp dạy ngữ pháp + Công nghệ hóa toàn bộ chương trình Reading Anh văn 10 + Đổi mới phương pháp hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp khối 12 trường THPT + Vai trò của tổ chức công đoàn cơ sở + Teaching Speaking and Listening GV: HOÀNG THANH Trang 2 CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG HIỆNNAY I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lí luận Giáo dục là quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức có mục đích, có kế hoạch, thông qua hoạt động và quan hệ giữa nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội của loài người. Giáo dục là quá trình tác động tới thế hệ trẻ về đạo đức, tư tưởng, hành vi nhằm hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, thái độ, hành vi, thói quen ứng xử đúng đắn trong xã hội. Do đó, giáo dục làm một nhiệm vụ vô cùng cần thiết là rèn luyện, biến đổi dần dần tính cách con người, hướng người ta đến sự hoàn thiện của một nhân cách tốt đẹp, xây dựng một xã hội với những con người có ích và hướng thiện.Trong đó giáo dục trong nhà trường phổ thông là cơ bản nhất và được thông qua rõ nhất qua vai trò của công tác chủ nhiệm. 2.Người giáo viên chủ nhiệm Trong hệ thống tổ chức của các trường phổ thông, đơn vị cơ bản được thành lập để tổ chứcgiảng dạy và giáo dục học sinh là lớp học. Để quản lí lớp học, nhà trường cử ra một trong những giáo viên đang giảng dạy làm chủ nhiệm lớp. Giáo viên chủ nhiệm (GVCN) được hiệu trưởng lựa chọn từ những giáo viên có kinh nghiệm giáo dục, có uy tín với học sinh, được Hội đồng giáo dục nhà trường nhất trí phân công chủ nhiệm lớp học để thực hiện mục tiêu giáo dục. Như vậy khi nói đến GVCN là đề cập đến vị trí, vai trò, chức năng của người làm công tác chủ nhiệm lớp, còn nói đến công tác chủ nhiệm lớp là đề cập đến những nhiệm vụ, nội dung công việc mà người GVCN phải làm, cần làm và nên làm. Đối với giáo dục phổ thông, người giáo viên chủ nhiệm lớp có vai trò quan trọng trong việc giáodục học sinh. Ngoài việc trực tiếp giảng dạy ở lớp chủ nhiệm, GVCN trước hết phải là nhà giáo dục, là người tổ chức các hoạt động giáo dục, quan tâm tới từng học sinh, chăm lo đến việc rèn luyện đạo đức, hành vi, những biến động về tư tưởng, nhu cầu, nguyện vọng của các em. Giáo viên chủ nhiệm lớp bằng chính nhân cách của mình, là tấm gương tác động tích cực đến việc hình thành các phẩm chất đạo đức, nhân cách của học sinh. Mặt khác, GVCN còn là cầu nối giữa tập thể học sinh với các tổ chức xã hội trong và ngoài nhà trường, là người tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục,... Có thể nói vai trò xã hội của người giáo viên chủ nhiệm trở nên lớn hơn nhiều so với chức năng của người giảng dạy bộ môn. II. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN GV: HOÀNG THANH Trang 3 1. Thuận lợi Trong những năm gần đây, sự phát triển kinh tế - xã hội đã mang lại không ít những thuận lợi cho công tác chủ nhiệm trong nhà trường. Sự quan tâm đầu tư của Đảng, nhà nước cùng với sự hỗ trợ tích cực từ phía xã hội. Cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục của nhà trường ngày một khang trang, đầy đủ, đảm bảo cho việc dạy và học. Mô hình ít con, kinh tế ngày càng được cải thiện đã tạo thuận lợi cho trẻ em được quan tâm và chăm sóc tốt hơn. Bên cạnh đó, sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đã hỗ trợ cho giáo viên và phụ huynh trong việc liên lạc, trao đổi, nắm bắt nhanh những thông tin cần thiết trong phối hợp giáo dục; đồng thời hỗ trợ tích cực cho hoạt động dạy của giáo viên trong những giờ lên lớp, trong những hoạt động tập thể khiến học sinh thấy hứng thú hơn. Sự phối kết hợp giữa các tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường ngày càng trở nên chặt chẽ. 2. Khó khăn Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi kể trên, công tác chủ nhiệm lớp còn gặp không ít những khó khăn, thách thức. Trong thời đại khoa học công nghệ và kinh tế thị trường hiện nay, ngoài những tiện ích to lớn mà nó mang đến cho nhân loại thì kèm theo đó là hàng loạt các tác động tiêu cực đến đối tượng học sinh: xu hướng đua đòi chưng diện theo trang phục, mái tóc của các ca sĩ, diễn viên trong phim ảnh không lành mạnh và đặc biệt là game online. Chính những vấn đề này ảnh hưởng không ít đến việc học tập, việc hình thành nhân cách, đạo đức của học sinh và gây ra rất nhiều khó khăn cho giáo viên chủ nhiệm trong công tác giáo dục đạo đức học sinh. Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều công nghệ kinh doanh chỉ chú ý đến lợi nhuận. Hầu hết các điểm truy cập Internet đều trang bị những trò chơi bạo lực thu hút học sinh. Vì thế, hiện tượng trốn tiết, giấu tiền học phí để chơi game là điều không tránh khỏi. Không những thế, hậu quả do những tác động của những trò chơi nguy hiểm này dẫn đến các hành vi bạo lực khôn lường. Mặt khác, nhiều gia đình do quá bận rộn với công việc nên thời gian dành cho việc giáo dục con cái không nhiều, gần như phó mặc cho nhà trường và xã hội, thậm chí cung cấp tiền bạc dư thừa không nghĩ đến hậu quả. Nhiều phụ huynh chỉ gặp gỡ trao đổi với GVCN trong 3 buổi họp phụ huynh trong một năm học. còn chủ yếu là trao đổi qua điện thoại trong những trường hợp cần thiết. Trẻ thiếu thốn tình cảm, thiếu sự quan tâm của gia đình, dễ bị kẻ xấu lôi cuốn sa ngã. Một số em do được chiều chuộng và chăm sóc quá chu đáo nên nảy sinh tính ích kỉ, ương bướng, khó bảo. Hơn nữa, công tác chủ nhiệm chủ yếu là kiêm nhiệm, thực tế hiện nay chưa có một khoá đào tạo chính thức nào cho GVCN. Chính vì vậy, không nhiều GVCN thực sự có năng lực, làm chủ nhiệm chủ yếu bằng kinh nghiệm của bản thân, cộng với trao đổi học hỏi trong nhà trường. Bên cạnh đó, số tiết dành cho GV: HOÀNG THANH Trang 4 GVCN còn quá ít, chỉ 4 tiết trên tuần, chưa tương xứng công sức giáo viên đầu tư vào công tác chủ nhiệm, dẫn đến nhiều giáo viên chưa hăng say với công tác chủ nhiệm. Nội dung chương trình giảng dạy còn nặng về kiến thức thuần tuý, số tiết giành cho giáo dục công dân, giáo dục đạo đức học sinh còn quá ít, trong khi xã hội ngày càng phát triển. Hơn nữa ở lứa tuổi này, tâm sinh lí của các em đang phát triển mạnh, các em ngày càng có nhiều nhu cầu hiểu biết, tìm tòi, bắt chước, thích giao lưu, đua đòi, thích sự khẳng định mình..., trong khi kiến thức về xã hội, gia đình, sự hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, nên chiều hướng học sinh hư, lười học, hiện tượng bỏ giờ, trốn tiết, vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức ngày càng nhiều. Đó là khó khăn về mặt khách quan gây cản trở cho những người làm công tác chủ nhiệm lớp.Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận những thiếu sót về phía đội ngũ giáo viên chủ nhiệm. Một bộ phận giáo viên chưa thật nhiệt tình, một phần do công việc giảng dạy chiếm nhiều thời gian, hiệu quả công tác chủ nhiệm ít nhiều bị ảnh hưởng. Một thiếu sót khác là nhiều giáo viên chủ nhiệm tiến hành công việc khá cảm tính, chưa có phương pháp chủ nhiệm sáng tạo thích hợp. Có người quá nghiêm khắc, có người quá dễ dãi. Người nghiêm khắc gò ép học sinh theo khuôn khổ một cách máy móc. Và như thế, về mặt tâm lí, cả giáo viên và học sinh đều như bị áp lực. Người dễ dãi thì lại buông lỏng công tác quản lí, thiếu quan tâm sâu sát. Thực tế, nhiều khi giữa thầy cô chủ nhiệm và học sinh không phải bao giờ cũng tìm được tiếng nói chung. Để khắc phục những khó khăn trên trong công tác chủ nhiệm không phải là điều dễ dàng và đơn giản. Tuy nhiên, chúng tôi xin được đưa ra một số giải pháp để các đồng nghiệp cùng chia sẻ. III. NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ Làm tốt công tác tổ chức lớp học, ngoài việc thực hiện đầy đủ, có chất lượng cao chức năng, nhiệm vụ của công tác chủ nhiệm lớp, giáo viên chủ nhiệm còn phải có “ Nghệ thuật giáo dục ”, nhất là trong cách ứng xử với học sinh. Sau đây là một số giải pháp vận dụng trong quá trình làm công tác chủ nhiệm lớp và đạt được mục đích yêu cầu của công việc: 1. Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm Thông thường khi nhận chủ nhiệm một lớp nào đó, giáo viên chủ nhiệm phải xây dựng kế hoạch chủ nhiệm lớp ngay từ đầu năm học Giáo viên chủ nhiệm có nội dung công tác phong phú, đa dạng, phức tạp, toàn diện liên quan đến tất cả các mặt hoạt động của học sinh trong lớp. Vì vậy muốn đạt kết quả cao cần phải có kế hoạch sát đúng, phù hợp. Trên cơ sở nắm được mục tiêu, nhiệm vụ của nhà trường trong năm học, đặc điểm tình hình lớp, địa phương, cơ sở vật chất của nhà trường, GVCN tiến hành xây GV: HOÀNG THANH Trang 5 dựng kế hoạch giáo dục. Trong kế hoạch giáo dục phải xác định rõ ràng mục đích, chỉ tiêu phấn đấu và các biện pháp chính. Đặc biệt chú trọng chiến lược phối hợp giữa các lực lượng giáo dục để đạt mục đích đề ra, cần có phương hướng phát triển lớp, sự thực hiện tuần tự hợp lí nhằm đi đến mục đích. Kế hoạch phải phát huy được mặt mạnh, khắc phục được hạn chế của lớp. Biện pháp thực hiện cần thể hiện tính phong phú, đa dạng. Tuy nhiên các biện pháp đề ra trong kế hoạch chỉ là “phần cứng”. Trong quá trình thực hiện cần phải vận dụng, điều chỉnh một cách linh hoạt các biện pháp giáo dục sao cho phù hợp với tình hình thực tế để công việc đạt hiệu quả cao. 2. Tìm hiểu và nắm vững đối tượng giáo dục Nhà giáo dục Nga K.D Usinski từng nói: “Muốn giáo dục con người về mọi mặt thì phải hiểu con người về mọi mặt” . Để làm tốt công tác chủ nhiệm lớp, giáo viên chủ nhiệm phải nắm vững tâm sinh lí, nhu cầu, nguyện vọng, ước mong, khả năng trình độ của học sinh, nắm vững hoàn cảnh sống, những tác động của gia đình, mối quan hệ xã hội, bạn bè của học sinh. Tôi đã cố gắng tìm hiểu học sinh thông qua nhiều biện pháp. Cụ thể như sau: - Tìm hiểu học sinh qua các tài liệu liên quan: Xem học bạ, sơ yếu lí lịch, bản tự nhận xét của học sinh, nhận xét của GVCN cấp THCS hoặc của GVCN cũ. Đây là tài liệu đáng tin cậy ban đầu giúp tôi nhận biết và phân loại học sinh. - Tìm hiểu học sinh thông qua quan sát trực tiếp: Quan sát trực tiếp học sinh hằng ngày trong các hoạt động trên lớp, ngoài lớp để biết hành vi thái độ học sinh. Đây là tài liệu sống, qua đó tôi cố gắng tìm ra những nét cá tính nhất của từng em. Tôi quan sát lớp chủ nhiệm cả trong giờ ra chơi xem em nào nghịch thái quá, em nào từ tốn, hiền lành, có khi trên đường vào dạy lớp khác tôi cũng ngang qua lớp chủ nhiệm. Nếu thấy những sai phạm của học sinh thì phải nhắc nhở ngay. - Có thể tiến hành những thử nghiệm tìm hiểu học sinh. Đây là cách làm giúp cho người giáo viên chủ nhiệm có thể thu được thông tin về một hay nhiều vấn đề cần làm sáng tỏ. Những thử nghiệm này là những bài tập tình huống đã được xây dựng về một vấn đề nào đó để học sinh có dịp bộc lộ mình. Chẳng hạn có thể đưa ra tình huống: Thầy đang rất cần một số em chiều nay tham gia trang trí lại lớp học cho đẹp mắt hơn; hoặc cho học sinh trả lời nhanh vào phiếu in sẵn một số câu hỏi về vấn đề định tìm hiểu (ví dụ: tìm hiểu về thái độ của học sinh đối với cha mẹ và anh chị em trong gia đình bằng những câu hỏi đơn giản),... Những thử nghiệm nhỏ này có thể áp dụng linh hoạt sao cho phù hợp với học sinh ở từng vùng dân cư. Kết quả thử nghiệm sẽ giúp giáo viên chủ nhiệm lớp có thể nắm bắt được thêm những thông tin mới, bổ sung cho những nhận định của mình về học sinh. 3. Giáo dục học sinh tính tự giác, thực hiện nội quy của trường, lớp GV: HOÀNG THANH Trang 6 Công việc này ban đầu khá vất vả, GVCN có thể phải thường xuyên đến lớp vào đầu buổi học, giữa các tiết và cuối buổi học. Để rèn cho học sinh tính tổ chức kỷ luật, phải giúp các em nhận thức đúng vấn đề, trên cơ sở đó các em sẽ thực hiện một cách tự giác. Ví dụ: Giờ tập trung đầu tuần của khối lớp học ca chiều là vào tiết 5 - tiết cuối cùng trong ngày. Học sinh ra tập trung sinh hoạt thường mang theo cặp để sau buổi có thể ra về được sinh hoạt ngay. Việc này tuy có tiện nhưng ảnh hưởng đến tác phong của các em. Ngoài ra những công việc nhà trường triển khai trong giờ sinh hoạt, do tác động của ngoại cảnh, học sinh ngồi nghe chắc chắn không lĩnh hội được hết mọi vấn đề. Do đó tôi đã quy định học sinh phải để cặp tại lớp, sau giờ sinh hoạt học sinh mới quay lại lớp lấy cặp và nghe giáo viên quán triệt lại những công việc nhà trường vừa triển khai. Trong thực tế các lớp do tôi chủ nhiệm thực hiện rất tự giác nội quy này.Có những việc tưởng chừng như rất nhỏ nhưng hiệu quả lại lớn. Chẳng hạn: mỗi tuần tập một bài hát tập thể sẽ làm cho học sinh hưng phấn và gần gũi với nhau hơn,làm tăng tính giáo dục về tình yêu quê hương đất nước và bạn bè qua nội dung bài hát. 4. Phát huy khả năng tự quản của học sinh Việc này phải dựa vào ban cán sự lớp và Ban chấp hành chi đoàn. Điều quan trọng là phải chọn được những học sinh nhiệt tình và có năng lực công tác. Song dù có năng lực tốt thế nào thì các em vẫn đang ở lứa tuổi học trò, do đó GVCN phải giáo dục cho học sinh ý thức được đầy đủ vai trò, nhiệm vụ của người cán bộ lớp để các em thực sự có trách nhiệm, và nâng cao tinh thần trách nhiệm đối với công tác được giao. Khi xây dựng đội ngũ tự quản cần xuất phát từ đặc điểm, nhiệm vụ từng năm học và tính chất phát triển của tập thể học sinh. Nhiều GVCN chỉ căn cứ vào một số tiêu chuẩn cán bộ lớp như học giỏi, đạo đức tốt, rất ít GVCN dựa vào đặc điểm của quá trình phát triển của tập thể để xây dựng cấu trúc đội ngũ tự quản. Nên căn cứ vào 3 giai đoạn phát triển của tập thể lớp mà lựa chọn đội ngũ tự quản. Ví dụ: ở giai đoạn đầu (tập thể mới hình thành) rất cần có một lớp trưởng, bí thư chi đoàn (thủ lĩnh) biết hi sinh, có uy tín, biết quan tâm đến người khác, gương mẫu, biết cảm hoá các bạn..., không nhất thiết phải là học sinh học giỏi nhất lớp. Nhưng sang giai đoạn 2 và 3 (khi tập thể đã phát triển) rất cần có “thủ lĩnh” năng động, sáng tạo, luôn tìm tòi nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động mọi mặt để cuốn hút các bạn. Giáo viên chủ nhiệm nên lấy hoạt động chiều sâu của nội dung học tập, hoạt động ngoại khoá, văn hoá xã hội làm phương tiện giáo dục tập thể, rèn luyện năng lực tự quản, thái độ, tình cảm và hành vi của học sinh. Để phát huy vai trò cố vấn, GVCN cần có năng lực dự báo chính xác khả năng của học sinh trong lớp, biết khêu gợi tiềm năng sáng tạo GV: HOÀNG THANH Trang 7 của các em trong việc đề xuất các nội dung hoạt động, xây dựng kế hoạch hoạt động toàn diện phù hợp với nhiệm vụ và điều kiện của mỗi tháng, mỗi học kì của từng năm học. Giáo viên chủ nhiệm chỉ là người giúp học sinh tự tổ chức các hoạt động đã được kế hoạch hoá. Điều đó không có nghĩa là GVCN khoán trắng, đứng ngoài hoạt động của tập thể lớp học mà nên cùng hoạt động, điều chỉnh hoạt động, kịp thời giúp các em tháo gỡ những khó khăn trong quá trình hoạt động. Ngoài ra cần tạo hứng thú trong công việc, tạo sự đoàn kết nhất trí cao trong ban cán sự để làm sao các em cũng phải biết làm việc “hết mình”, biết phấn đấu vì tập thể và biết tự giác, chủ động điều hành lớp ngay cả khi không có giáo viên chủ nhiệm. Sử dụng phiếu giao việc cũng là một hình thức tạo cho học sinh phát huy tính tự giác, tự quản, tinh thần trách nhiệm trong công việc. Trên cơ sở được giao việc học sinh phải tự lập kế hoạch và giáo viên chủ nhiệm hẹn thời gian để duyệt. Nhìn chung được giao việc và nhất là được thầy cô tin tưởng, phát huy tính dân chủ và tự quản các em rất phấn khởi và tất nhiên phải rút kinh nghiệm, khen chê kịp thời (trong một năm học, ban cán sự ít nhất được động viên, khen thưởng hai lần vào dịp sơ kết học kỳ I và tổng kết năm học). 5. Phát động thi đua Phong trào thi đua học tập và các hoạt động khác trong nhà trường được Đoàn thanh niên phát động và duy trì thường xuyên suốt năm học. Trên cơ sở đó, lớp lại đề ra các hình thức thi đua giữa các tổ, nhóm và các cá nhân. Kết thúc mỗi đợt thi đua lại chọn ra những tập thể (tổ, nhóm) và các cá nhân xuất sắc để biểu dương khen thưởng. Để tạo hứng thú cho học sinh trong việc xây dựng bài học ở trên lớp, tôi gợi ý các em tính điểm thi đua cho mỗi lượt phát biểu. Kết quả nhiều giờ học diễn ra sôi nổi và có chất lượng, giáo viên dạy rất phấn khởi. 6. Giáo dục học sinh bằng sức mạnh tâm lí Trong một lớp học bao giờ cũng có học sinh ngoan ngoãn, học sinh nghịch ngợm, cá biệt. Do đó tìm hiểu nắm vững từng đối tượng học sinh sẽ giúp GVCN sử dụng vũ khí tâm lí để giáo dục học sinh có hiệu quả. Đối với những học sinh ngoan, có ý thức thì chỉ cần nhắc nhở chung. Nhưng đối với những học sinh có cá tính, có hoàn cảnh khó khăn thì lại phải vừa nghiêm khắc khi xử lý những sai phạm của các em, vừa phải tình cảm, động viên, thậm chí phải dỗ dành. Giáo dục những học sinh cá biệt điều quan trọng là phải tạo được mối quan hệ gần gũi, cảm thông giữa thầy và trò. Muốn vậy GVCN không chỉ đứng ở cương vị người thầy mà phải biết nhập vai, biết lắng nghe các em nói, tìm hiểu tâm tư của các em, tạo cho các em có cảm giác mình được chia sẻ, cảm thông, được giúp đỡ thì các em sẽ tự giác sửa chữa khuyết điểm, tự giác phấn đấu hơn. Có những học sinh GV: HOÀNG THANH Trang 8 khi mắc khuyết điểm đã nói với bạn bè rằng: không sợ bị kỷ luật, bị phạt mà chỉ sợ làm ảnh hưởng đến thành tích thi đua của lớp, sợ làm GVCN buồn… Có em học sinh đầu năm học lớp 10 thường xuyên đi học muộn, nhiều hôm không vào được trường lại ra quán Internet. Tôi đã sắp xếp thời gian đến thăm gia đình học sinh này, mới hay em ở với ông bà nội (bố em mất từ khi em mới được 3 tuổi, mẹ đi lấy chồng khác). Vì ít được quan tâm nên em cũng sao nhãng chuyện học hành. Được GVCN đến thăm nhà, động viên nên em tiến bộ rất nhanh, chấm dứt hiện tượng đi học muộn và tham gia rất tích cực vào các hoạt động của lớp. Qua những trường hợp cụ thể vừa nêu, tôi thấy việc sắp xếp thời gian đến thăm gia đình học sinh (đặc biệt là những học sinh cá biệt) cũng đem lại nhiều hiệu quả trong công tác chủ nhiệm. Ngoài ra, để tạo không khí cởi mở trong tập thể lớp và cũng là để giúp cho mình hiểu học sinh hơn, tôi thường động viên các em ghi nhật ký lớp hằng ngày. Thi thoảng tôi lại cho học sinh phát biểu cảm nhận về lớp mình. Có những điều thường ngày có khi khó nói ra được, nhưng khi viết cảm nhận hoặc ghi nhật kí lớp các em lại có dịp để giãi bày. Qua những bài cảm nhận và những trang nhật ký lớp, thầy trò, bạn bè hiểu nhiều về nhau hơn và đương nhiên tập thể lớp ngày càng thêm gắn bó. 7. Phối hợp các lực lượng giáo dục - Phối hợp với Ban giám hiệu nhà trường: Giáo viên chủ nhiệm là cầu nối giữa hiệu trưởng với học sinh, truyền đạt chủ trương chính sách của ngành, nội quy của nhà trường đến học sinh không phải bằng mệnh lệnh mà bằng sự thuyết phục cảm hoá, gương mẫu của bản thân mình. Bên cạnh đó GVCN phát hiện kịp thời các hành vi xấu của học sinh, đề nghị nhà trường xét kỷ luật nghiêm khắc nhằm ngăn chặn hành vi xấu khác có thể xẩy ra tiếp. - Phối hợp với giáo viên bộ môn: Biết lắng nghe những nhận xét của giáo viên bộ môn thậm chí là những phê phán cá nhân, tập thể lớp mình sau đó chọn lọc, phân tích thông tin để phối hợp tác động giáo dục cùng chiều, khắc phục khó khăn, vướng mắc của học sinh trong quá trình học tập, đề đạt nguyện vọng của học sinh với giáo viên bộ môn để nâng cao chất lượng giáo dục. - Phối hợp với cha mẹ học sinh. Giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh phải thống nhất được phương hướng phấn đấu của lớp đặt trong kế hoạch chung của nhà trường, đặc biệt là thống nhất được các biện pháp thực hiện. Đây là điều kiện đầu tiên để giáo viên chủ nhiệm có được sự ủng hộ của phụ huynh trong công tác tổ chức lớp học. Đặc biệt với những học sinh vi phạm nội quy của trường, lớp, tuỳ theo mức độ vi phạm GVCN thông báo với phụ huynh bằng văn GV: HOÀNG THANH Trang 9 bản (giấy thông báo), bằng điện thoại hoặc trực tiếp gặp để thống nhất biện pháp giáo dục. Trong thực tế biện pháp này tôi và nhiều giáo viên đã làm và có hiệu quả: học sinh tiến bộ và phụ huynh cũng cảm thấy thoải mái mỗi khi được mời đến gặp. - Nhìn chung nếu biết kết hợp các lực lượng giáo dục, chắc chắn công tác chủ nhiệm sẽ đạt hiệu quả cao. 8. Việc thực hiện nghiêm túc các giờ sinh hoạt lớp cần được coi trọng Tuy nhiên cách thức tổ chức các giờ sinh hoạt trên lớp cũng nên linh hoạt. Giờ sinh hoạt lớp không nên chỉ kiểm điểm học sinh, hoặc có kiểm điểm thì cũng không nên máy móc. Đôi khi có thể biến giờ sinh hoạt thành những hội thảo nhỏ với những chủ đề phù hợp với học đường như: chọn nghề cho tương lai, sự lạc quan trong cuộc sống, những mơ ước tuổi trẻ, làm thế nào để sống đẹp mỗi ngày, văn minh trong cách tặng quà,... Có thể thay những lời phê bình gay gắt bằng một câu chuyện nào đó. Chẳng hạn: - Để nhắc nhở các em việc đi học đầy đủ, nghỉ học phải viết giấy xin phép tôi kể câu chuyện Bác Hồ khi đã làm Chủ tịch nước, một lần phải đi công tác nước ngoài, Bác đã viết giấy xin phép nghỉ kỳ họp Quốc hội, hoặc Bác viết đơn xin ứng cử Đại biểu Quốc hội. Kết quả là những lớp tôi được phân công chủ nhiệm học sinh rất hạn chế nghỉ học và hầu như không có hiện tượng học sinh nghỉ học không xin phép. - Lưu ý các em về vấn đề học thêm như thế nào cho phù hợp hoặc giúp các em lớp 12 trong việc lựa chọn các khối trường để đăng ký dự thi tôi đã đọc cho các em nghe bài báo đưa tin một học sinh chỉ học ở trường và tự học ở nhà nhưng thi đỗ thủ khoa Đại học Y Hà nội với 30,5 điểm. - Trước đây khi chủ nhiệm một lớp Hệ B , có tuần lớp có nhiều cá nhân vi phạm nội quy, nhiều giờ trung bình, yếu…Giờ sinh hoạt của tuần đó thay vì kiểm điểm tôi cho các em được phép phát biểu thoải mái. Tôi gợi ý để các em nói ra những dự định trong tương lai về việc chọn ngành nghề, chọn trường học. Nhìn chung các em rất cởi mở và tỏ ra hưng phấn với đề tài này. sau khi nghe các em nói, tôi mới đặt vấn đề: “Mọi dự định, mọi ước mơ của các em đều đẹp cả,điều quan trọng là cần phải cố gắng thực hiện cho bằng được. Song nếu các em học hành như thế này thì liệu có đạt được mục đích của mình không?”. Như vậy không kiểm điểm mà lại hoá ra kiểm điểm nhưng giờ sinh hoạt rõ ràng đỡ căng thẳnghơn và lại có hiệu quả. 9. Chú trọng việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh: - Kĩ năng sống của con người nói chung đó là sự tự ý thức vai trò trách nhiệm của bản thân mình trong việc ứng xử với mọi người xung quanh và môi trường tự nhiên trong đó con người đang tồn tại. Từ những ngày học đầu tiên ở trường phổ GV: HOÀNG THANH Trang 10 thông, học sinh đã được bồi dưỡng cả hai mặt đức và tài. Sự phát triển của mỗi người nói chung và học sinh nói riêng được hình thành thông qua việc tiếp thu tri thức hằng ngày trong cuộc sống như kĩ năng làm việc hợp tác, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thích nghi, kĩ năng xử lí tình huống, kĩ năng giữ gìn bảo vệ môi trường… Những kĩ năng này không chỉ đòi hỏi cho một giai đoạn nào đó mà nó cần thiết cho cả đời người đặc biệt là chuỗi ngày đi học. Khẩu hiệu “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui” xuất hiện ở các trường cũng vì lẽ đó. Kĩ năng sống được biểu hiện đa dạng tuỳ từng người, từng sự việc và từng hoàn cảnh cụ thể. Nhưng dù trong trường hợp nào, đối với ai thì kĩ năng sống nhất thiết phải vươn tới chân lý tốt đẹp: nhân ái, vị tha, bản lĩnh tự tin, khiêm tốn, văn minh lịch sự, dám nghĩ dám làm, hoà đồng và tôn trọng người khác. Thực tiễn ngày nay cho thấy đôi khi kiến thức uyên bác, học vị cao lại không làm nên sự thành đạt của con người bằng chính kĩ năng sống của họ. Cuộc sống ngày càng phát triển, đất nước đang hội nhập với thế giới, cơ hội có được vị trí trong xã hội và khẳng định bản thân của người lao động đang rộng mở, nhưng số lượng người thất nghiệp vẫn không ngừng gia tăng. Một trong những nguyên nhân quan trọng là do họ chưa được trang bị những kĩ năng sống cơ bản của một người lao động. Chính vì vậy, kĩ năng sống cần được mỗi người chúng ta rèn luyện ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Trong bốn trụ cột của giáo dục được UNESCO nêu ra là “học để biết, học để làm việc, học để làm người (để tồn tại), học để cùng chung sống” đã có ba nội dung hàm chứa các yêu cầu kĩ năng sống. Điều này càng khẳng định hơn nữa tầm quan trọng và cần thiết của nhà trường trong việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Đành rằng hình thành kĩ năng sống phải qua cả trường học và trường đời nhưng trường học vẫn giữ vị trí nền móng vì hầu hết mọi người đều được đi học, và nội dung học ở trường phổ thông gồm nhiều lĩnh vực tự nhiên, xã hội cùng nhiều bài học về lối sống tốt đẹp của những bậc tiền nhân mà học sinh cần học tập noi theo. - Có thể tiến hành giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp chủ nhiệm bằng các hình thức như: + Tổ chức các hoạt động tập thể, ngoại khoá để các em được tham gia vào hoạt động thực tiễn của cuộc sống, tạo cơ hội bộc lộ chân thật những suy nghĩ, tình cảm, hành vi trong công việc, chia sẻ những khó khăn và niềm vui cũng như hoàn thiện dần dần các kĩ năng thực hành một cách tự nhiên. Từ đây, tính ích kỷ cá nhân, ngại khó, vụng về, rụt rè sợ sệt sẽ nhường chỗ cho lòng bao dung, sự tự tin, dũng cảm, tháo vát, nhanh nhẹn, khéo léo, tinh tế, hoà đồng và thân thiện. Nội dung hoạt động cũng khá đa dạng như: hội trại, thể thao, văn nghệ, tham quan bảo tàng và danh lam thắng cảnh; chăm sóc di tích cách mạng, văn hoá lịch sử; trò chơi tập thể, câu lạc bộ xanh; thi GV: HOÀNG THANH Trang 11 phòng tránh tai nạn giao thông, diễn thuyết tranh luận về bảo vệ môi trường, quyền trẻ em, xử lý tình huống khẩn cấp… Có thể tổ chức theo lớp, khối, toàn trường hoặc từng nhóm nhỏ từ 10 - 15 em và chú ý xác định rõ kĩ năng sống cần đạt được cho học sinh sau mỗi hoạt động. Nên để cho học sinh viết lại, nói lại những điều mà các em cảm thấy thú vị và bổ ích nhất. + Một hình thức nữa để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh đó là thông qua hoạt động dạy học trên lớp. Trong mỗi tiết dạy, ngoài yêu cầu về kiến thức thì yêu cầu về kĩ năng và thái độ luôn được đặt ra và đó cũng chính là yêu cầu về giáo dục kĩ năng sống. Do vậy, trong các giờ lên lớp tôi đều có sự liên hệ với thực tế cuộc sống của học sinh ở cả hai mặt tích cực và hạn chế. Tuỳ theo bài học mà hình thành những kĩ năng tích hợp cho học sinh như kĩ năng đặt câu hỏi và trả lời, kĩ năng trình bày, kĩ năng phân tích tổng hợp, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng xử lý tình huống, kĩ năng tự học, kĩ năng làm việc hợp tác (còn gọi là hợp tác nhóm hay hoạt động nhóm)… Trong đó, kĩ năng làm việc hợp tác cần được đặc biệt quan tâm vì đây là kĩ năng sống mang tính thời đại, nó thể hiện cách làm việc theo cơ chế phân công hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích của từng thành viên và cùng nhau phát triển. Qua sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên, học sinh được chia thành các nhóm. Mỗi em được phân công đảm trách một công việc của nhóm (nhóm trưởng, thư ký, theo dõi thời gian, động viên phát biểu, trình bày trước lớp). Tất cả thành viên trong nhóm được trình bày suy nghĩ của cá nhân nhưng cũng phải tôn trọng ý kiến người khác và chấp nhận sự thống nhất chung của nhóm. Mỗi nhóm sẽ cùng nhau thảo luận để giải quyết một nội dung khó của bài học mà chỉ với mỗi cá nhân có thể không tìm được lời giải đáp. + Ở tiết sinh hoạt lớp, giáo viên cần tạo điều kiện để các em tự đánh giá nhận xét về bản thân và lớp của mình. Các em có thể trình bày ý kiến về những việc làm tốt và chưa tốt; cùng nhau xây dựng nội quy của lớp; thiết kế, đề xuất các việc làm, hoạt động hằng tháng và cả năm học. + Có một vấn đề không biết rằng chức vụ lớp trưởng, lớp phó, tổ trưởng, tổ phó nên được thay đổi theo tháng hoặc học kỳ để nhiều em được làm quen với kỹ năng điều hành, quản lý công việc đồng thời ngăn ngừa cách sống tự kiêu, độc đoán có thể xảy ra ngay từ tuổi học đường hay không?. + Xây dựng các quy tắc ứng xử với môi trường như giữ gìn vệ sinh trường lớp, bảo vệ môi trường sống, rèn luyện và bảo vệ sức khoẻ, tiết kiệm năng lượng, phòng chống tai nạn thương tích. Bên cạnh đó, cần chú ý xây dựng cảnh quan trường lớp với những hình ảnh mang tính giáo dục và thẩm mỹ, những lời hay ý đẹp như “Bảo vệ môi trường là bảo vệ chính cuộc sống của chúng ta”,“Mỗi lần giao tiếp là mỗi lần GV: HOÀNG THANH Trang 12 bạn thể hiện mình”, “Bạn có thể vấp ngã, điều quan trọng là bạn phải đứng lên”... + Ngoài ra, cần tạo cơ hội cho các em được bày tỏ ý kiến của mình đối với thầy cô giáo và nhà trường qua việc thực hiện “Hộp thư điều em muốn nói” và tổ chúc tư vấn cho học sinh. Rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh phải thông qua việc làm cụ thể và sự chủ động cao của các em. - Cách rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh phải từ dễ đến khó. Chẳng hạn khi học sinh mới vào lớp 10, trong mục cùng góp ý trong giờ sinh hoạt, tôi yêu cầu học sinh “Em hãy nói vài ý kiến của mình về những vi phạm của các bạn trong tuần vừa qua”. Ban đầu, các em còn nói năng lí nhí, mắt không dám nhìn thẳng, gương mặt căng thẳng. Nhưng sau vài lần, các em không còn những cái nhìn ái ngại, trở nên dạn dĩ hơn, cảm thấy tự tin và câu nói chắc gọn, cộng thêm một môi trường giáo dục thân thiện hoà đồng, cho phép các em tiến đến gần và hoà nhập với nhau, sau đó là những điều khác như đóng góp ý kiến cho tập thể, ý tưởng độc đáo cho các hoạt động của lớp phong phú hơn, hiệu quả hơn và đặc biệt kỹ năng làm việc nhóm, các em được trang bị lý thuyết cụ thể, rồi thực hành để hiểu. Với kỹ năng làm việc nhóm, các em được tập làm việc để biết cách hợp tác và chấp nhận lẫn nhau trong mọi hoàn cảnh. Mục đích quan trọng nhất là giúp các em tự tin hơn, tự lập hơn trong cuộc sống, đây là điều rất cần thiết trong cuộc sống của các em sau này. IV. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC: Qua quá trình làm công tác chủ nhiệm, với những thành quả đã đạt được cho tôi ngày hôm nay. Tôi rút ra được các kinh nghiệm sau: Giáo viên chủ nhiệm cần có lòng nhiệt tình tính chịu khó, năng động sáng tạo nhất là thực sự yêu mến quan tâm đến học sinh như chính con em mình. Đúng như ông cha ta đã nói: “Trồng cây gì thu được quả đó”. Vâng! Chúng ta hãy cởi mở tâm hồn mình với mọi người, với các em. Hãy yêu thương các em bằng chính trái tim của người anh, người chị, người cha, người mẹ, lúc đó ta hiểu được các em cần gì? Ước mơ gì? Người giáo viên cần phải nắm và am hiểu sự phát triển tâm sinh lí của học sinh trung học phổ thông để có biện pháp giáo dục không phải là khuôn mẫu, mỗi con người đều có hoàn cảnh, có tâm sự, có tình cảm, tính tình khác nhau cho nên việc am hiểu các em và tìm biện pháp giáo dục thích hợp quả là không đơn giản. Nó vốn đã khó với một giáo viên lại càng khó hơn đối với một giáo viên chủ nhiệm. Nhưng càng đắng cay bao nhiêu thì thành quả lại càng ngọt ngào và đáng trân trọng bấy nhiêu. Người giáo viên phải thực sự mẫu mực, phải là tấm gương sáng toàn vẹn từ nhận thức đến hành động thực tiễn, từ lời nói cử chỉ điệu bộ đến thái độ ứng xử hằng ngày đây là cách giáo dục dùng nhân cách tác động đến nhân cách. Để trở thành tấm GV: HOÀNG THANH Trang 13 gương sáng cho học sinh noi theo, tôi luôn quan niệm: Phải sống cho trong sạch dù có nghèo về vật chất nhưng luôn giàu có về mặt tâm hồn, tình cảm và mỗi ngày sẽ là một sự tiến bộ hơn hoàn thiện hơn. Giáo viên chủ nhiệm cần phải có lí tưởng nghề nghiệp đúng đắn, phải thực sự am hiểu nắm bắt sâu sát, chủ trương đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước trong thời kì đổi mới. Chính lí tưởng và lòng yêu nghề mến trẻ sẽ là nghị lực niềm tin để người giáo viên vững bước trong sự nghiệp giáo dục mà mình đã theo đuổi. Giáo viên cần phải không ngừng học tập, trau dồi chuyên môn, phải có tay nghề cao. Đây chính là yếu tố quyết định sự thành công của công tác chủ nhiệm vì: “Để cung cấp cho người học một hạt nhỏ hào quang kiến thức thì người thầy giáo phải cố gắng một biển cả ánh sáng.” Tóm lại, để làm tốt công tác chủ nhiệm, đòi hỏi người giáo viên chủ nhiệm không chỉ phải là một giáo viên dạy tốt môn học văn hoá, phải quan tâm đến chất lượng hai mặt giáo dục là học lực và hạnh kiểm của học sinh (là vấn đề trọng tâm) mà còn phải quan tâm đến sự phát triển ở học sinh về các giá trị đạo đức, thẩm mỹ, thể chất,…Do vậy, theo tôi, hai yếu tố cốt lõi không thể thiếu đối là người giáo viên chủ nhiệm lớp đó là “cái tài” của một nhà tâm lí và “cái tâm” của một nhà giáo dục. Khi kết hợp nhuần nhuyễn, hoà quyện hai yếu tố này thì người giáo viên nói chung, người giáo viên chủ nhiệm lớp nói riêng đã có thể làm tốt trách nhiệm của mình trong thời đại mới ngày nay và hơn thế làm thăng hoa nhân cách của mình trong lòng bao thế hệ đồng nghiệp và học trò yêu dấu. V.KẾT LUẬN 1. Kết luận: Để làm tốt công tác chủ nhiệm nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy, rèn đạo đức cho học sinh trung học; giáo viên phải thật nhiệt tâm, không ngại khó; luôn học hỏi kinh nghiệm ở đồng nghiệp. Tự học, tự rèn luyện để nâng cao trình độ. Luôn xem các em học sinh như chính con cháu trong gia đình, đồng thời là người bạn đáng tin cậy của các em. 2. Bài học kinh nghiệm  Có kế hoạch giáo dục cụ thể và phù hợp với từng đối tượng học sinh.  Phải đi sâu đi sát tìm hiểu hoàn cảnh, năng lực của từng học sinh.  Giáo viên chủ nhiệm phải luôn thương yêu, gần gũi và tôn trọng học sinh.  Khơi dậy sự tự tin ở từng em để các em có hướng phấn đấu  Hãy bước vào lớp với nụ cười. Khi học trò chào hãy nhìn vào mắt từng em để hiểu được tâm trạng của các em: Vui thì chung vui,buồn thì động viên  Hãy kiềm chế, kiên trì, bình tĩnh và mềm mỏng GV: HOÀNG THANH Trang 14  Biết cách phối hợp với các lực lượng khác ngoài xã hội để cùng làm công tác giáo dục đạt kết quả cao.  Hãy luôn ghi nhớ: “Học trò không phải là một chiếc bình cần đổ đầy kiến thức, các em là những ngọn đuốc cần được thắp lên”  Tóm lại,giáo viên cần nắm và hiểu rõ cá tính, tâm sinh lý, lực học, hoàn cảnh gia đình của từng học sinh để có phương pháp giáo dục phù hợp.  Để đảm bảo tốt việc truyền thụ kiến thức văn hoá ở nhiều môn học cho học sinh, vừa phải làm tốt công tác chủ nhiệm, đó là việc không dễ dàng, nhưng: “Chính sự quan tâm, lòng yêu thương và sự chia sẻ của những người thầy đã giúp những đứa trẻ phát huy hết khả năng của chúng”. (John O. Brien) 3.Kiến nghị  Nên tổ chức phối hợp thường xuyên với các lực lượng giáo dục,đặc biệt là hội cha mẹ học sinh để phụ huynh không coi việc giáo dục con em là việc riêng của nhà trường.  Các cấp lãnh đạo thường xuyên tổ chức các cuộc thi, các hội thảo về công tác chủ nhiệm lớp để giáo viên học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.  Có hình thức khen ngợi các giáo viên làm công tác chủ nhiệm tốt nhằm động viên khuyến khích họ thực hiện tốt hơn.  Mở lớp hướng dẫn, nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng để giáo viên có cơ hội chia sẻ, học tập những bài học hay, những kinh nghiệm tốt, áp dụng vào thực tế, góp phần thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục.  Giáo dục là cả một quá trình rất cần sự nỗ lực và kiên trì của mỗi giáo viên,cần biết lựa chọn và kết hợp sử dụng các phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh. Bằng lòng yêu nghề mến trẻ, bằng sự vị tha, bao dung, độ lượng,… chắc chắn giáo viên chủ nhiệm sẽ thành công trong công tác giáo dục học sinh lớp mình phụ trách. Nói cách khác nhà giáo là một con người trí tuệ, đức độ giàu lòng nhân ái khoan dung có vai trò như là người cha, người mẹ đúng như câu nói: “Cha mẹ cho hình hài vóc dáng còn thầy cô cho các em kiến thức, nhân nghĩa để các em có thể vững bước trên con đường đời đầy chông gai thử thách”.  Tôi rất mong nhận được sự góp ý của hội đồng giáo dục nhà trường cũng như của tất cả các quý thầy cô. Và đặc biệt là các thầy cô đã từng làm công tác chủ nhiệm lớp để cho đề tài ngày càng hoàn thiện hơn.  Cuối cùng xin dùng tờ thông điệp của một nhà giáo đầy kinh nghiệm ở nước ngoài để cùng với các đồng nghiệp tâm niệm THÔNG ĐIỆP GỬI ĐẾN CÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM GV: HOÀNG THANH Trang 15 (Trích : Thứ trưởng Bộ Giáo Dục Văn Hóa Thụy Điển) Trong đời làm nhà giáo, đặc biệt công tác chủ nhiệm, tôi đã rút ra một kết luận thực sự kinh hoàng:  Tôi chính là nhân tố quyết định trong lớp học của tôi  Không khí lớp học hoàn toàn do tôi tạo ra. Buồn, vui trong lớp do tâm trạng tôi quyết định.  Là một giáo viên, tôi có đủ quyền lực để làm cho cuộc đời một đứa trẻ đớn đau hay vui sướng.  Là một giáo viên, tôi dễ dàng trở thành một công cụ để hành hạ đứa trẻ, song tôi cũng có thể tạo ra nguôn cảm hứng cho chúng.  Là một giáo viên, tôi có thể sỉ nhục đứa trẻ, song tôi cũng có thể vui vẻ hài hước với chúng.  Là một giáo viên tôi có thể gây đau đớn cho trẻ song tôi cũng có thể chữa lành các vết thương của trẻ.  Trong tất cả mọi hoàn cảnh, tôi chính là người làm khủng hoảng tinh thần của trẻ nặng nề hơn hay vợi bớt đi.  Tôi có thể làm cho đứa trẻ mất hết nhân tính song tôi cũng có thể dạy chúng biết làm người. Người thực hiện Hoàng Thanh Tài liệu tham khảo GV: HOÀNG THANH Trang 16 - Luật giáo dục - Điều lệ trường phổ thông. - Điều 22 và 23: quyền hạn, nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp (Chương IV – Điều lệ trường phổ thông ngày 2/4/1979 của Bộ Giáo dục và Đào tạo - Một số chuyên đề về công tác giáo viên chủ nhiệm của Sở GD-ĐT Đồng Nai - Giáo trình giáo dục học - Nhà xuất bản đại học quốc gia. SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI Đơn vị : THPT Nguyễn Trãi CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Nguyễn Trãi, ngày GV: HOÀNG THANH Trang 17 tháng năm 2013 PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Năm học : 2012 – 2013 Tên sáng kiến kinh nghiệm: Công tác chủ nhiệm trong nhà trường THPT hiện nay Họ và tên tác giả : Hoàng Thanh Đơn vị : Tổ Anh Văn Lĩnh vực : Quản lý giáo dục  Phương pháp dạy học bộ môn :  Phương pháp giáo dục  Lĩnh vực khác :  1.Tính mới: - Có giải pháp hoàn toàn mới  - Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có  2. Hiệu quả: - Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao  - Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao  - Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao  - Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả  3. Khả năng áp dụng: - Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách : Tốt  Khá  Đạt  - Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và dễ đi vào cuộc sống : Tốt  Khá  Đạt  - Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong phạm vi rộng : Tốt  Khá  Đạt  XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ GV: HOÀNG THANH Trang 18
- Xem thêm -